Lĩnh hội và đi qua nhiều biến động, Nguyễn Thành Quốc Thạnh trở về với sơn mài, với núi non, con đò và bục giảng. Ở ông, những lớp “sóng sau đè sóng trước” luôn gắn liền với tinh thần tiếp nối bền bỉ như thế.

Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis.
Sóng đẩy một hành trình
Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh sinh năm 1953 tại U Minh, Cà Mau vùng đất giao thoa của rừng tràm và sông nước miền Tây. Năm 1954, khi mới một tuổi, ông cùng gia đình tập kết ra Bắc, đánh dấu cho tuổi thơ và hành trình học tập của mình với miền đất nơi thủ đô
“Từ đó thì cho đến năm 1972 tôi lớn lên, học hành và thi vào trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, lúc đó là hệ sơ trung bảy năm cuối cùng của trường.”
Hệ sơ trung bảy năm của thời gian năm 1964, lúc đó ông mới 12 tuổi. Lứa của ông được học tập cùng các bạn hệ năm năm mới mở, nhờ đó các kiến thức chuyên môn đều được đào tạo kỹ lưỡng và sâu.
“Tôi được học cùng các bạn Phan Gia Hương, Nguyễn Bích Trâm, Nguyễn Thanh Bình, Trần Luân Tín, và hơn 20 bạn nữa. Nhiều bạn giờ cũng mất rồi. Các kỹ năng về ký họa, hình họa, bố cục các thứ, là chúng tôi được giáo dục rất là kỹ lưỡng.”
Đến tháng 8 năm 1972, ông nhận giấy nghĩa vụ đi bộ đội cùng Lương Xuân Đoàn, Nguyễn Thanh Bình. Ông thuộc Quân đoàn 3 - Tây Nguyên. Sau giải phóng năm 1976, ông ra quân, và được trường Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh gọi về đi học tiếp hệ đại học sáu năm, ông tốt nghiệp vào năm 1982. Sau đó ông được cử đi sang Hungary học chuyên tu vào năm 1984. Ba năm ở Đông Âu, giữa giai đoạn biến động chính trị mạnh, khiến ông ít có cơ hội sáng tác nhưng lại rèn luyện được kỹ năng và phương pháp làm việc nghiêm ngặt. Ông sống ở Hungary 23 năm trước khi quyết định trở về vì “nhớ quá”.

Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Giao mùa, tranh sơn mài, 80 x 180 cm. Nguồn: Facebook cá nhân họa sĩ.
Trở về nước, ông được mời về giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh khoảng ba năm, sau đó chuyển sang Trường Đại học Kiến trúc. Công việc giảng dạy là một cách để ông nối mình lại với môi trường hội họa, để rồi truyền thụ kinh nghiệm cho thế hệ sau.
“Tôi đã giảng dạy tại Đại học Mỹ thuật, làm chủ nhiệm lớp, giúp sinh viên phát triển kỹ năng hình họa và bố cục.”
Dạy học và sáng tác khiến ông hạnh phúc. Quay lại với sơn mài, chất liệu thầy Văn Tâm định hướng, ông nghiên cứu từng lớp màu, mài dũa kỹ thuật để tìm giọng điệu riêng.
"Thầy Văn Tâm đã đưa tôi đến với sơn mài, và từ đó tôi gắn bó rất sâu với nó. Nghiên cứu và rèn luyện suốt, nay tranh cũng được đánh giá khá ổn, cũng vui.”
Tranh của ông không ồn ào lý thuyết, chủ yếu xoay quanh phong cảnh, núi non, mặt nước, những hình ảnh gợi vẻ trầm lắng Á Đông, còn những đời sống tại Hungary lại hiếm thấy trong những tác phẩm này. Lý do ông chia sẻ rất đơn giản:
"Những những kỷ niệm thời lính và những rung động tuổi trẻ vẫn theo tôi dai dẳng. Khi về nước tiếp tục giảng dạy, tôi được sống trong không khí hội họa, và chính những trải nghiệm đó giúp tôi sáng tác các chủ đề quê nhà suốt một thời gian dài."

Một góc làm việc tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis.
Nếu họa sĩ Nguyễn Trung thử nghiệm sơn mài với đa dạng phong cách từ hiện thực đến trừu tượng, ông lại chọn khai thác hình tượng núi non hùng vĩ, phong cảnh hiện thực với vẻ đẹp lãng mạn. Phong cách này mang đến sự cô đọng, sâu lắng. Sự nhẫn nại ấy được nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn nhận xét là “nghệ thuật của nhẫn nại,” nơi “mỗi lớp sơn khô là một lớp thời gian lắng lại, mỗi vết mài hé ra một phần ký ức, kết nối sắc vàng ký ức đất của Trần Văn Cẩn và lam tư tưởng của Phan Cẩm Thượng trong một nhịp đi riêng.”
Dù từng là người lính, chủ đề chiến tranh chỉ xuất hiện trong hai hay ba bức tranh rồi dừng lại. Tinh thần nghệ thuật của ông tương đồng với người bạn cùng lớp Nguyễn Thanh Bình, khi cả hai đều chọn tập trung vào đời sống, con người và phong cảnh, khẳng định sự trở về với cái đẹp bình dị sau bão giông.
Suy tư những vệt nối dài
Với hành trình đa chiều, ông vẫn luôn trân trọng những đóng góp của bạn học và tin rằng thế hệ của ông chính là những “gạch nối” dành cho nền Mỹ thuật Việt Nam.
“Các thầy của thế hệ trước đã truyền lại cách vẽ, cách nhìn và phương pháp thực hiện cho thế hệ chúng tôi, tạo nên một sự nối dài giữa nghệ thuật Đông Dương, và cả các thế hệ tiếp theo, gieo những mầm mới cho thế hệ tương lai.”
Sự nối kết ấy đặc biệt rõ ràng sau năm 1975, khi lớp nghệ sĩ miền Bắc quay về miền Nam giảng dạy, bao gồm cả các đồng nghiệp như Đào Minh Tri, Ca Lê Thắng, Phan Gia Hương, Nguyễn Bích Trâm. Họ đã đảm nhận sứ mệnh “dung hòa một cách rất tế nhị” giữa Mỹ thuật Sài Gòn chế độ cũ và Mỹ thuật mới.
“Giữa hai nền Mỹ thuật Sài Gòn trước và sau giải phóng, mặc dù có khoảng cách, nhưng những người trở về từ Bắc đã giúp chúng hòa quyện một cách rất khéo léo. Những tác phẩm của Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ đã tạo nên một sự giao thoa nghệ thuật, góp phần phát triển Mỹ thuật miền Nam trong giai đoạn mới.”

Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Vu Quy, tranh sơn mài, 120 x 200 cm. Nguồn: Facebook cá nhân họa sĩ.
Thế hệ của ông không tạo ra sự đứt gãy, mà khéo léo vun đắp một vệt nối dài, làm giàu thêm không khí sáng tác chung. Đối với ông, tranh của thế hệ "gạch nối" vẫn giữ được “tác dụng rất to lớn và có giá trị.” Mặt khác, ông cũng chấp nhận một cách cởi mở rằng thế hệ trẻ hiện tại, với sự tiếp xúc rộng rãi với thế giới qua Internet, sẽ “đi xa hơn, nhanh hơn” thế hệ cũ.
“Thế hệ chúng tôi không hề lỗi thời, lớp trẻ có cơ hội tiếp cận quốc tế đã mang đến những sáng tạo rất đáng trân trọng. Ví như sóng sau đè lên sóng trước là điều hợp lý cho sự chuyển tiếp tự nhiên của nghệ thuật cũng không sai.”
Với ông, hoạt động nghệ thuật tại Việt Nam không quá khắt khe, chỉ cần nghệ sĩ hiểu mình đang làm gì và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình, và không phải cứ ở nước ngoài thì sẽ tự do hơn.
“Ai sống ở nước ngoài lâu rồi trở về sẽ thấy ở đây tự do đến bất ngờ. Nếu có những vùng cấm mà không được chạm vào, thì đừng chạm vào, ở nước nào cũng vậy thôi.”
Ông đánh giá môi trường sáng tác tại Việt Nam hiện tại rất cởi mở cho nghệ sĩ trẻ. Ngược lại, ở phương Tây, cơ hội dành cho nghệ sĩ gốc Việt không hề rộng mở như tưởng tượng, vì sự ưu tiên luôn dành cho người bản địa trước. Việc hội nhập thành công phụ thuộc vào khả năng giao tiếp và sinh hoạt văn hóa, chỉ khi hòa nhập tốt, họ mới có thể “được mở một cánh cửa.”

Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh đang hoàn thiện tác phẩm. Nguồn: Artonis.
Là một người thầy, ông chia sẻ quan điểm giảng dạy điềm đạm. Theo ông, đào tạo mỹ thuật trong nước vẫn mang dấu ấn kinh nghiệm truyền nối, “thầy dạy sao trò vẽ vậy”. Khi chuyển sang môi trường Kiến trúc, ông nhận thấy sinh viên tiếp xúc nhiều hơn với công nghệ, quy trình và kiến thức rõ ràng, giúp việc học mạch lạc hơn. Với ông, nghệ sĩ trẻ sẽ tiến xa nếu biết dung hòa lĩnh hội kinh nghiệm và hệ thống khoa học. Thêm nữa, kỷ luật và kiên trì rèn luyện là yếu tố giúp họ đi được đường dài.
Lớp trẻ dám thử thách, dám mạo hiểm: “chỗ này không được, các bạn nhảy vào chỗ khác, và làm tung tóe lên, để cuối cùng tạo ra cái mới cho nền nghệ thuật này.” Một tinh thần không ngại va chạm, chấp nhận tạo ra những khoảng khác thường cần thiết để tìm thấy cái mới, điều mà thế hệ trước đôi khi phải dè dặt hơn.
Thay lời kết
Từ những trải nghiệm Bắc - Nam, đến quãng đời dài ở Đông Âu, ông hình thành một tinh thần nghệ thuật giao hòa mà không hề phô trương. Tất cả kết lại thành một “vệt nối dài” tự nhiên, góp phần làm nên diện mạo của một thế hệ không đối lập, không đứt đoạn.
Giữa bối cảnh nghệ thuật Việt Nam thay đổi nhanh sau năm 2000, ông vẫn giữ nhịp sáng tác ổn định. Một sự lựa chọn của người biết mình muốn gì, có khả năng gì, và không chạy theo cái mới chỉ vì nó mới. Các thế hệ là những lớp sóng tiếp nối nhau, và cách nhìn ấy phác họa hình ảnh người làm nghề trầm tĩnh, biết lắng nghe và tôn trọng cả những điều đi trước lẫn đang đến.
Related articles
Nguyễn Thành Quốc Thạnh: “Mượn núi, mượn cảnh để nói cái tình người”
Ngày 28.11.2025, họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh cùng những người đồng hành trong hành trình nghệ thuật mang đến Hội Mỹ thuật TP.HCM triển lãm kỷ niệm một đời sáng tác thầm lặng, gồm 30 tranh sơn mài và sơn dầu, đánh dấu 15 năm sáng tác miệt mài của ông. “Tôi mượn núi, mượn cảnh để tả cái tình người, mỗi người xem thì sẽ tự nhận ra thôi, nhưng tôi hy vọng mọi người đều hài lòng,” ông nhắn nhủ nhẹ nhàng, mở cửa cho trải nghiệm cá nhân mỗi người trước tranh. Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh bên tác phẩm sơn mài Cổng làng 2 (1979). Nguồn: Artonis. Triển lãm cá nhân đầu tiên Ở tuổi 73, Nguyễn Thành Quốc Thạnh vẫn khiêm tốn và thầm lặng. Nếu không có sự cổ vũ của họa sĩ Phạm Thanh Toàn, Nguyễn Quốc Nam cùng bạn bè, chắc ông vẫn giữ những ánh màu, mùi sơn, và tâm ý trong tranh cho riêng mình. May thay, ông đã chịu trưng bày, và triển lãm này làm sống lại lời dặn của nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn, khi anh “dặn” người em thân quen và cả người xem ở xa cần xếp thời gian để “tới phòng tranh ngay, vì có những bức tranh không đòi ta hiểu, chỉ cần ta đứng yên đủ lâu để ánh sáng nói thay.” Thực tế, ảnh chụp khó thể hiện được thứ ánh sáng lạ lùng đó. Bước vào không gian, điều đầu tiên cảm nhận không phải màu sắc mà là nhịp chuyển động. Lớp then đen sâu, nền son đỏ ấm, ánh vàng quỳ mềm, tất cả như những lớp sóng chậm, thâm trầm. Quốc Thạnh không theo đuổi sự cầu kỳ thị giác; ông tìm cảm xúc lắng đọng, run rẩy của bề mặt sơn khi được gọt, mài, phủ lại rồi mài tiếp. Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Núi tượng, sơn mài trên toan (2025), 200 x 660 cm. Nguồn: Artonis. Góc trưng bày các tác phẩm Sơn dầu vẽ năm 2010 của họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh. Nguồn: Artonis. Ở trung tâm là bức tranh khổ gần 660 cm, một quy mô ít họa sĩ sơn mài chọn vì độ khó, sự nặng nề và khắt khe của vật liệu. Nhưng Quốc Thạnh mở không gian rộng để sóng, đá và bầu trời tràn ra. Bột xà cừ trong tranh phản sáng tự nhiên, lấp lánh nhẹ như mặt nước đêm. Hiệu ứng này vừa giúp mắt người xem “bắt sóng”, vừa giữ vẻ sâu, trầm, sang trọng của kỹ thuật truyền thống. Tên triển lãm đồng tên ông, không nhằm khoe khoang, mà để người xem thấy hành trình từ các bức sơn mài miền Bắc 1976, những bài học năm 1979 - 1980, đến sơn dầu khi trở về sau 23 năm ở trời Đông Âu, và tác phẩm hiện tại. Những rung động tuổi trẻ đi lính vẫn được tri ân bằng cảm xúc và màu sắc. Ông ưu ái đặt các tác phẩm thực hiện theo tinh thần sơn mài miền Bắc cùng khu với bức tranh lớn ấn tượng kia. Khi đứng cạnh các tranh còn lại, chúng giống như hai mốc thời gian, mở ra cuộc trò chuyện giữa truyền thống và hiện tại. Người xem thấy một Quốc Thạnh “khác”: tiết chế hơn, quy củ hơn, tuân theo tinh thần tạo hình khi sơn mài còn gắn chặt với kỷ luật nghề và tư duy hình hoạ Đông Dương. Các bức vẽ năm 1979 với những lớp màu được xử lý chặt chẽ, các đường nét có tính công thức, gam trầm giữ nhịp. Trong khi đó, những bức mang “giọng Nam” về sau của ông với cảm xúc duỗi dài hơn, không gian tự do hơn, màu sắc mở rộng hơn và ánh sáng di chuyển nhiều hơn. Giữa hai cực ấy, triển lãm tạo ra biên độ lịch sử, cho thấy sơn mài Việt Nam không chỉ là chất liệu mà còn là ký ức của từng thời đoạn. “Tôi muốn thử lại cách nhìn của một thời. Không phải để quay về, mà để nhớ mình đã đi ra từ đâu.” Góc trưng bày các tác phẩm vẽ chủ đề thiếu nữ của họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh. Nguồn: Artonis Ngắm những dòng thời gian lắng lại Đi qua nhiều biến động, Nguyễn Thành Quốc Thạnh trở lại với sơn mài trong trạng thái khác: lặng hơn, sâu hơn và có phần quyết liệt hơn trong cách tổ chức ánh sáng. “Sơn mài đâu có nhanh. Nó bắt buộc mình phải sống chậm lại,” ông khẽ nói, như chất dẫn mở cánh cửa bước vào triển lãm, nơi từng lớp sơn, từng nhịp mài cọ, từng ánh phản chiếu nhỏ đều mang cảm giác thời gian tích tụ. Hai dòng đề tài quen thuộc, thiếu nữ và phong cảnh, hiện diện đồng thời, nối với nhau bằng một mạch cảm xúc chung: dịu và dữ cùng hiện diện trên tinh thần trầm. Đến với triển lãm, những người bạn, người đồng nghiệp đã chia sẻ góc nhìn và cảm nhận của bản thân, khi chính họ luôn dõi theo và thấu hiểu nhất về họa sĩ Quốc Thạnh và chặng đường với nghề vẽ của ông. Nhà điêu khắc - Chủ tịch Hội Mỹ thuật TP.HCM, Nguyễn Xuân Tiên gửi lời chúc mừng trân trọng, nhấn mạnh Quốc Thạnh là thầy của nhiều thế hệ học trò, yêu thương học trò và hết lòng với sáng tạo nghệ thuật. Những chi tiết nhỏ ẩn trong phong cảnh hùng vĩ của tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh. Nguồn: Artonis. “Tranh anh Thạnh khúc triết, đưa người xem vào thế giới mộng mơ và lung linh. Gam màu nóng hay lạnh vẫn tạo sự êm đềm, bình yên. Anh thể nghiệm phong cách đa dạng, từ hiện thực lãng mạn, ấn tượng, trừu tượng, bán trừu tượng, diễn tả suy nghĩ về tình yêu, gia đình, cuộc sống, xã hội, hướng người xem đến chân-thiện-mỹ.”, ông Xuân Tiên nhận định. Họa sĩ Nguyễn Trung Tín, người anh thân thiết lâu năm, cũng dành đôi lời chia sẻ về họa sĩ Quốc Thạnh, người thuộc nhóm nghệ sĩ tiền đổi mới, đã đưa nghệ thuật gần hơn với nghệ thuật thực sự”. Ông đã theo dõi và đã biết họa sĩ Quốc Thạnh qua dòng tranh chặt chẽ, chỉnh chu, nghiêm luật, nhưng triển lãm lần này, họa sĩ Quốc Thạnh đã cho thấy “sự tươi mát, trẻ trung, thoát ra các ràng buộc tỷ lệ, thể hiện bản sắc riêng, tư chất con người, tính nhân văn và tính nhạc cảm trong màu sắc, khối núi.” Đôi lời kết Với Nguyễn Thành Quốc Thạnh, triển lãm không chỉ là bộ sưu tập tranh mà là hành trình của một nghệ sĩ trải qua nhiều lớp sóng cuộc đời: tuổi trẻ chiến trường, những năm tháng giảng dạy, và sáng tác thầm lặng. Ông chỉ mong bản thân và mọi người giữ sức khỏe, để trở lại thêm vài lần nữa, trọn vẹn một đời làm nghề nghiêm túc, trầm lắng. Triển lãm mở cửa tự do từ 09:00 đến 18:00, đón chờ những người yêu tranh và các bạn trẻ đến thưởng lãm những tác phẩm đã “ở ẩn sâu trong từng lớp đá, lớp rừng của thời gian” của một người thầy, người họa sĩ mang tên Nguyễn Thành Quốc Thạnh. Vậy, bạn đã sẵn sàng bước vào không gian tranh, để lắng lại bên núi rừng, và cảm nhận cái tình người trong từng lớp màu chưa?
Nguyễn Thành Quốc Thạnh – Đếm từng ngọn sóng, trở lại bên tranh
Lĩnh hội và đi qua nhiều biến động, Nguyễn Thành Quốc Thạnh trở về với sơn mài, với núi non, con đò và bục giảng. Ở ông, những lớp “sóng sau đè sóng trước” luôn gắn liền với tinh thần tiếp nối bền bỉ như thế. Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis. Sóng đẩy một hành trình Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh sinh năm 1953 tại U Minh, Cà Mau vùng đất giao thoa của rừng tràm và sông nước miền Tây. Năm 1954, khi mới một tuổi, ông cùng gia đình tập kết ra Bắc, đánh dấu cho tuổi thơ và hành trình học tập của mình với miền đất nơi thủ đô “Từ đó thì cho đến năm 1972 tôi lớn lên, học hành và thi vào trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, lúc đó là hệ sơ trung bảy năm cuối cùng của trường.” Hệ sơ trung bảy năm của thời gian năm 1964, lúc đó ông mới 12 tuổi. Lứa của ông được học tập cùng các bạn hệ năm năm mới mở, nhờ đó các kiến thức chuyên môn đều được đào tạo kỹ lưỡng và sâu. “Tôi được học cùng các bạn Phan Gia Hương, Nguyễn Bích Trâm, Nguyễn Thanh Bình, Trần Luân Tín, và hơn 20 bạn nữa. Nhiều bạn giờ cũng mất rồi. Các kỹ năng về ký họa, hình họa, bố cục các thứ, là chúng tôi được giáo dục rất là kỹ lưỡng.” Đến tháng 8 năm 1972, ông nhận giấy nghĩa vụ đi bộ đội cùng Lương Xuân Đoàn, Nguyễn Thanh Bình. Ông thuộc Quân đoàn 3 - Tây Nguyên. Sau giải phóng năm 1976, ông ra quân, và được trường Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh gọi về đi học tiếp hệ đại học sáu năm, ông tốt nghiệp vào năm 1982. Sau đó ông được cử đi sang Hungary học chuyên tu vào năm 1984. Ba năm ở Đông Âu, giữa giai đoạn biến động chính trị mạnh, khiến ông ít có cơ hội sáng tác nhưng lại rèn luyện được kỹ năng và phương pháp làm việc nghiêm ngặt. Ông sống ở Hungary 23 năm trước khi quyết định trở về vì “nhớ quá”. Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Giao mùa, tranh sơn mài, 80 x 180 cm. Nguồn: Facebook cá nhân họa sĩ. Trở về nước, ông được mời về giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh khoảng ba năm, sau đó chuyển sang Trường Đại học Kiến trúc. Công việc giảng dạy là một cách để ông nối mình lại với môi trường hội họa, để rồi truyền thụ kinh nghiệm cho thế hệ sau. “Tôi đã giảng dạy tại Đại học Mỹ thuật, làm chủ nhiệm lớp, giúp sinh viên phát triển kỹ năng hình họa và bố cục.” Dạy học và sáng tác khiến ông hạnh phúc. Quay lại với sơn mài, chất liệu thầy Văn Tâm định hướng, ông nghiên cứu từng lớp màu, mài dũa kỹ thuật để tìm giọng điệu riêng. "Thầy Văn Tâm đã đưa tôi đến với sơn mài, và từ đó tôi gắn bó rất sâu với nó. Nghiên cứu và rèn luyện suốt, nay tranh cũng được đánh giá khá ổn, cũng vui.” Tranh của ông không ồn ào lý thuyết, chủ yếu xoay quanh phong cảnh, núi non, mặt nước, những hình ảnh gợi vẻ trầm lắng Á Đông, còn những đời sống tại Hungary lại hiếm thấy trong những tác phẩm này. Lý do ông chia sẻ rất đơn giản: "Những những kỷ niệm thời lính và những rung động tuổi trẻ vẫn theo tôi dai dẳng. Khi về nước tiếp tục giảng dạy, tôi được sống trong không khí hội họa, và chính những trải nghiệm đó giúp tôi sáng tác các chủ đề quê nhà suốt một thời gian dài." Một góc làm việc tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis. Nếu họa sĩ Nguyễn Trung thử nghiệm sơn mài với đa dạng phong cách từ hiện thực đến trừu tượng, ông lại chọn khai thác hình tượng núi non hùng vĩ, phong cảnh hiện thực với vẻ đẹp lãng mạn. Phong cách này mang đến sự cô đọng, sâu lắng. Sự nhẫn nại ấy được nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn nhận xét là “nghệ thuật của nhẫn nại,” nơi “mỗi lớp sơn khô là một lớp thời gian lắng lại, mỗi vết mài hé ra một phần ký ức, kết nối sắc vàng ký ức đất của Trần Văn Cẩn và lam tư tưởng của Phan Cẩm Thượng trong một nhịp đi riêng.” Dù từng là người lính, chủ đề chiến tranh chỉ xuất hiện trong hai hay ba bức tranh rồi dừng lại. Tinh thần nghệ thuật của ông tương đồng với người bạn cùng lớp Nguyễn Thanh Bình, khi cả hai đều chọn tập trung vào đời sống, con người và phong cảnh, khẳng định sự trở về với cái đẹp bình dị sau bão giông. Suy tư những vệt nối dài Với hành trình đa chiều, ông vẫn luôn trân trọng những đóng góp của bạn học và tin rằng thế hệ của ông chính là những “gạch nối” dành cho nền Mỹ thuật Việt Nam. “Các thầy của thế hệ trước đã truyền lại cách vẽ, cách nhìn và phương pháp thực hiện cho thế hệ chúng tôi, tạo nên một sự nối dài giữa nghệ thuật Đông Dương, và cả các thế hệ tiếp theo, gieo những mầm mới cho thế hệ tương lai.” Sự nối kết ấy đặc biệt rõ ràng sau năm 1975, khi lớp nghệ sĩ miền Bắc quay về miền Nam giảng dạy, bao gồm cả các đồng nghiệp như Đào Minh Tri, Ca Lê Thắng, Phan Gia Hương, Nguyễn Bích Trâm. Họ đã đảm nhận sứ mệnh “dung hòa một cách rất tế nhị” giữa Mỹ thuật Sài Gòn chế độ cũ và Mỹ thuật mới. “Giữa hai nền Mỹ thuật Sài Gòn trước và sau giải phóng, mặc dù có khoảng cách, nhưng những người trở về từ Bắc đã giúp chúng hòa quyện một cách rất khéo léo. Những tác phẩm của Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ đã tạo nên một sự giao thoa nghệ thuật, góp phần phát triển Mỹ thuật miền Nam trong giai đoạn mới.” Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Vu Quy, tranh sơn mài, 120 x 200 cm. Nguồn: Facebook cá nhân họa sĩ. Thế hệ của ông không tạo ra sự đứt gãy, mà khéo léo vun đắp một vệt nối dài, làm giàu thêm không khí sáng tác chung. Đối với ông, tranh của thế hệ "gạch nối" vẫn giữ được “tác dụng rất to lớn và có giá trị.” Mặt khác, ông cũng chấp nhận một cách cởi mở rằng thế hệ trẻ hiện tại, với sự tiếp xúc rộng rãi với thế giới qua Internet, sẽ “đi xa hơn, nhanh hơn” thế hệ cũ. “Thế hệ chúng tôi không hề lỗi thời, lớp trẻ có cơ hội tiếp cận quốc tế đã mang đến những sáng tạo rất đáng trân trọng. Ví như sóng sau đè lên sóng trước là điều hợp lý cho sự chuyển tiếp tự nhiên của nghệ thuật cũng không sai.” Với ông, hoạt động nghệ thuật tại Việt Nam không quá khắt khe, chỉ cần nghệ sĩ hiểu mình đang làm gì và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình, và không phải cứ ở nước ngoài thì sẽ tự do hơn. “Ai sống ở nước ngoài lâu rồi trở về sẽ thấy ở đây tự do đến bất ngờ. Nếu có những vùng cấm mà không được chạm vào, thì đừng chạm vào, ở nước nào cũng vậy thôi.” Ông đánh giá môi trường sáng tác tại Việt Nam hiện tại rất cởi mở cho nghệ sĩ trẻ. Ngược lại, ở phương Tây, cơ hội dành cho nghệ sĩ gốc Việt không hề rộng mở như tưởng tượng, vì sự ưu tiên luôn dành cho người bản địa trước. Việc hội nhập thành công phụ thuộc vào khả năng giao tiếp và sinh hoạt văn hóa, chỉ khi hòa nhập tốt, họ mới có thể “được mở một cánh cửa.” Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh đang hoàn thiện tác phẩm. Nguồn: Artonis. Là một người thầy, ông chia sẻ quan điểm giảng dạy điềm đạm. Theo ông, đào tạo mỹ thuật trong nước vẫn mang dấu ấn kinh nghiệm truyền nối, “thầy dạy sao trò vẽ vậy”. Khi chuyển sang môi trường Kiến trúc, ông nhận thấy sinh viên tiếp xúc nhiều hơn với công nghệ, quy trình và kiến thức rõ ràng, giúp việc học mạch lạc hơn. Với ông, nghệ sĩ trẻ sẽ tiến xa nếu biết dung hòa lĩnh hội kinh nghiệm và hệ thống khoa học. Thêm nữa, kỷ luật và kiên trì rèn luyện là yếu tố giúp họ đi được đường dài. Lớp trẻ dám thử thách, dám mạo hiểm: “chỗ này không được, các bạn nhảy vào chỗ khác, và làm tung tóe lên, để cuối cùng tạo ra cái mới cho nền nghệ thuật này.” Một tinh thần không ngại va chạm, chấp nhận tạo ra những khoảng khác thường cần thiết để tìm thấy cái mới, điều mà thế hệ trước đôi khi phải dè dặt hơn. Thay lời kết Từ những trải nghiệm Bắc - Nam, đến quãng đời dài ở Đông Âu, ông hình thành một tinh thần nghệ thuật giao hòa mà không hề phô trương. Tất cả kết lại thành một “vệt nối dài” tự nhiên, góp phần làm nên diện mạo của một thế hệ không đối lập, không đứt đoạn. Giữa bối cảnh nghệ thuật Việt Nam thay đổi nhanh sau năm 2000, ông vẫn giữ nhịp sáng tác ổn định. Một sự lựa chọn của người biết mình muốn gì, có khả năng gì, và không chạy theo cái mới chỉ vì nó mới. Các thế hệ là những lớp sóng tiếp nối nhau, và cách nhìn ấy phác họa hình ảnh người làm nghề trầm tĩnh, biết lắng nghe và tôn trọng cả những điều đi trước lẫn đang đến.
Nguyễn Thành Quốc Thạnh: “Sóng sau đè sóng trước giúp tiếp nối nghệ thuật là vậy.”
Nhân dịp họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh đang rục rịch chuẩn bị triển lãm cuối năm, chúng tôi xin hẹn đến thăm ông. Đến hơi sớm, ông vẫn cặm cụi hoàn thiện những tác phẩm cuối, rồi dẫn chúng tôi quanh xưởng vẽ, trước khi cùng ngồi lại uống trà. Ông vốn chọn sự thầm lặng, nên dịp được gặp và ôn lại những chuyện cũ khiến chúng tôi cảm thấy thật may mắn. Cứ thế chuyện trò, những chia sẻ về “sóng sau đè sóng trước giúp tiếp nối nghệ thuật” dần được gợi mở. Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh đang vẽ tại xưởng. Nguồn: Artonis. Ông còn nhớ khi ra Bắc để vào học hệ sơ trung bảy năm tại Trường Mỹ thuật Hà Nội, ông đã gặp gỡ và học cùng những người bạn nào mà đến bây giờ họ vẫn còn hoạt động nghệ thuật không ạ? Tôi nhập học năm 1964, là khóa cuối cùng của hệ sơ trung bảy năm, khi mới 12 tuổi. Lớp có 21 bạn, đến nay đều đã ngoài 70 cả rồi. Chúng tôi vẫn giữ nhiều ký ức rất đẹp về thời thơ ấu đó. Bạn học thì tôi nhớ gần hết, như Phan Gia Hương, Hoàng Thích Minh, Nguyễn Bích Trâm, Nguyễn Thanh Bình, Trần Luân Tín… Thật tiếc là giờ lớp đã mất khoảng một nửa, chỉ còn lại chừng chục người. Lúc đó nhà trường dạy những gì cho khóa cuối của hệ sơ trung bảy năm ạ? Hệ sơ trung bảy năm có từ khá lâu, chỉ là tôi không nhớ chính xác mốc đầu. Khi tôi thi vào thì lớp mình là khóa cuối. Sau đó trường mở thêm hệ năm năm, rồi hai hệ học chung một thời gian trước khi sáp nhập. Điều quan trọng là chương trình bảy năm ấy đào tạo liên tục từ nhỏ đến lớn, nên kỹ năng được đào sâu lắm, từ ký họa, hình họa, bố cục, tới kỹ năng nghề… tất cả đều được rèn rất kỹ lưỡng. Dưới góc nhìn của một người quan sát và một nhà sư phạm mỹ thuật, ông thấy thế nào về sự khác biệt giữa những người được đào tạo từ chương trình bảy năm ở miền Bắc trong thời kỳ đất nước còn chia cắt, rồi vào miền Nam sau 1975, so với những người ở lại miền Bắc? Nói là khác thì không hẳn đúng, nhưng đúng là có một khoảng cách. Những người được đào tạo ở phía Bắc, rồi sau giải phóng vào Nam tiếp tục giảng dạy, họ tiếp nhận cả hai nền mỹ thuật: mỹ thuật Sài Gòn trước 1975 và mỹ thuật sau 1975. Hai nguồn này được dung hòa rất tế nhị và cuối cùng tạo thành một dòng chảy ổn định. Ví dụ như tranh của Nguyễn Trung, ông ấy hầu như không bao giờ bị chê. Vì ông cùng Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm… tạo nên nét rất riêng của hội họa miền Nam. Tranh của họ hòa nhập tự nhiên với nền mỹ thuật mới, chứ không phải kiểu “Bắc - Nam” đối lập. Nó ổn và hài hòa đấy chứ. Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Hội xuân, sơn mài truyền thống. Nguồn Facebook cá nhân họa sĩ. Ông có nghĩ tác phẩm của mình là một vệt nối dài từ Mỹ thuật Đông Dương, rồi đến mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1954–1975 ở miền Bắc, kéo dài đến hiện nay không? Cũng như có ý kiến cho rằng thế hệ của ông, như Đào Minh Tri, Ca Lê Thắng, Nguyễn Trung Tín, Bích Trâm, Phan Gia Hương… là lớp đã tạo ra “gạch nối” giữa mỹ thuật Việt Nam hậu chiến và tiền Đổi Mới. Ông có đồng ý không? Điều đó đúng. Ca Lê Thắng, Đào Minh Tri, Phan Gia Hương, Nguyễn Bích Trâm, Nguyễn Trung Tín… đều được đào tạo rất chuẩn mực, tiếp thu hội họa hiện đại và truyền lại cho lớp sau. Công lao của họ rất lớn. Có thể xem họ như một gạch nối giữa thế hệ trước và thế hệ sau, gieo những mầm mới rất ổn cho tương lai. Tôi nghĩ mình cũng nằm trong dòng chảy tiếp nối ấy. Bọn tôi học từ 1964 đến 1972, rồi 1976 đến 1982. Lớp tôi, từng người trong đó, đúng nghĩa là một gạch nối giữa thời kỳ sau Đông Dương tới bây giờ. Cách vẽ, cách nhìn, tư duy, phương pháp đều được các thầy thuộc thế hệ Đông Dương truyền lại. Nhiều thầy của Trường Mỹ thuật Đông Dương cũ trực tiếp dạy chúng tôi, chỉ là bây giờ nhớ tên thì không nhớ hết. Nhưng cũng có người cho rằng thế hệ của ông xuất hiện rồi trôi qua khá nhanh. Sau 2000 - 2010, một thế hệ mỹ thuật mới nổi lên, mạnh ở chỗ họ tiếp xúc với thế giới mở hơn với Internet bùng nổ, tiếp nhận phương Tây trực tiếp và nhanh hơn. Vậy ông có nghĩ thế hệ cũ bị “lỗi thời” không? Điều này không đúng lắm. Bảo họ lỗi thời thì không phải, vì tranh của các nghệ sĩ thuộc “dấu gạch nối” ấy vẫn có giá trị và vẫn được thị trường ghi nhận. Mặt khác, đúng là thế hệ mới tiếp xúc thế giới mở bằng rất nhiều phương tiện và tạo ra những cái mới, điều đó là tất yếu. Đây là quy luật “sóng sau đè sóng trước”. Thế nên không thể nói lớp này lạc hậu hay lớp kia vượt trội. Đúng hơn là mỗi thế hệ lui lại để thế hệ sau tiến lên, tiếp nối nhau đóng góp cho nghệ thuật, như vậy mới hợp lý. Một góc làm việc của họa sĩ tại xưởng. Nguồn: Artonis. Được biết ông có một hành trình cuộc đời khá nhiều biến động. Ông có thể chia sẻ lại những chặng đường và những kỷ niệm quan trọng trong cuộc đời mình không? Để tôi nhớ và thống kê lại theo từng năm cho các bạn nhé. Tôi sinh năm 1953 ở U Minh, Cà Mau. Ba tôi là người Tiền Giang, mẹ là người Châu Đốc. Gia đình tập kết ra Bắc năm 1954, lúc đó tôi mới một tuổi. Từ đó đến năm 1972, tôi lớn lên và học hành ngoài Bắc, rồi thi vào hệ sơ trung bảy năm của Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Năm 19 tuổi, tôi nhập ngũ, đi bộ đội vào Nam và ở trong quân ngũ đến khi giải phóng. Sau 1975, tôi ở lại Sài Gòn và học tiếp hệ đại học sáu năm của Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Tốt nghiệp xong, tôi được giữ lại trường làm giảng viên. Năm 1984, tôi được cử đi học chuyên tu ở Hungary. Đáng lẽ chỉ ba năm, nhưng vì những biến động chính trị ở đó, tôi ở lại tới 23 năm. Sau cùng, tôi quyết định trở về nước, giảng dạy tại Đại học Mỹ thuật rồi Đại học Kiến trúc. Tôi nhớ được nhiêu thì kể bấy nhiêu, hơi dài nhỉ? (cười). Ông đi lính bao lâu và trong thời gian tại ngũ, ông có tham gia sáng tác không ạ? Khi đang làm bài thi tốt nghiệp, tháng 8 năm 1972, tôi nhận được giấy gọi nhập ngũ. Tôi nhập ngũ cùng Lương Xuân Đoàn, bây giờ là Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, và Nguyễn Thanh Bình. Sau huấn luyện, khi “đi B”, mỗi người lại được điều về một đơn vị khác nhau. Nguyễn Thanh Bình về đơn vị chiến đấu, từng nhiều lần đối mặt sống chết nhưng may mắn là anh không sao, chắc lúc đó anh cũng vẫn vẽ. Còn tôi phục vụ ở Quân đoàn 3, tập trung chiến đấu chứ cũng không vẽ gì. Tôi ra quân năm 1976 rồi được gọi về học tiếp đại học sáu năm, tốt nghiệp năm 1982. Khi về trường vào năm 1976, ông có học cùng Nguyễn Thanh Bình hay Đỗ Hoàng Tường không? Ở hệ đại học thì tôi không học cùng Nguyễn Thanh Bình hay Đỗ Hoàng Tường, nhưng kỷ niệm về những người bạn cũ vẫn còn. Thanh Bình về trường sau tôi một năm, còn Đỗ Hoàng Tường học sau hệ của tôi. Sau khi tốt nghiệp và dạy ở Trường Mỹ thuật một thời gian, tôi được cử đi học chuyên tu ở Hungary. Ở Hungary lâu như vậy, ông có tiếp tục theo đuổi nghệ thuật không? Ba năm đầu tôi học và vẽ được một số tác phẩm. Nhưng sau đó tình hình chính trị thay đổi, tôi phải ở lại và thời gian còn lại chủ yếu là mưu sinh, không dùng nghệ thuật để sống được. Sống lâu ở nước ngoài thì nhớ nhà lắm, mà nhớ quá thì phải về thôi. Tôi bỏ hết mọi thứ, về nước năm 2010. Rất may là anh em bạn bè vẫn đón nhận. Dù sống ở Hungary nhiều năm như vậy, cảm hứng sáng tác của ông lại hoàn toàn tập trung vào con người và văn hóa Việt, hầu như không thấy đời sống bên Hungary. Vì sao lại có sự tập trung này? Thực ra, đi Hungary chủ yếu để rèn nghề. Nhưng những kỷ niệm thời lính ở Quân đoàn 3 trên Tây Nguyên, và cả tuổi trẻ nữa, nó cứ day dứt. Khi trở về nước và giảng dạy, tôi được quay lại với không khí hội họa, và những ký ức ấy giúp tôi sáng tác rất ổn định. Tôi gắn bó với sơn mài từ khi được thầy Văn Tâm dạy, rồi càng đào sâu thì càng thấy chất liệu truyền thống này hợp với mình. Họa sĩ đang hoàn thiện tác phẩm mới tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis. Nhân ông nhắc đến kỷ niệm quân ngũ, vì sao tranh của ông hầu như không mang đề tài chiến tranh mà chủ yếu là con người và văn hóa Việt? Cuộc đời tôi nằm đúng giai đoạn các chế độ thay đổi mạnh. Khi ở nước ngoài, tôi ít hoạt động nghệ thuật nên những ký ức cũ chưa có dịp thể hiện. Khi về nước, tôi mới thử nghiệm lại. Tôi cũng từng làm vài tác phẩm về chiến tranh, khoảng ba bức, nhưng giờ không còn ở đây nữa. Sau đó tôi chuyển sang những đề tài đời thường của con người, gắn với chất liệu sơn mài, và theo đuổi nó đến giờ. Ông có một thời gian dài sống tại Đông Âu, vậy thì so với Việt Nam, ông thấy nền mỹ thuật tuyên truyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở đâu bị áp đặt nặng hơn? Thật ra hơi khó so sánh. Hungary là nước nhỏ, dân số khoảng 9 triệu, và nghề hội họa cũng khó sống như ở Việt Nam. Mặc dù nằm giữa châu Âu, hội họa Hungary vẫn gây được tiếng vang nhất định. Khi tôi ở đó, các tác động từ chính trị cũng tương đối giống Việt Nam, nhưng về cơ bản kỹ năng hội họa được học rất tốt. Chủ đề chính trị thì cả hai nơi đều có, nhưng Hungary lúc đó có phần tự do hơn một chút. Nói chung, ở nước nào cũng có những vùng “cấm kỵ”, và nếu không đụng vào thì đều khá tự do. Ông đề cập về sự tự do sáng tạo ở Việt Nam. Vậy theo ông, sự tự do và cởi mở này có mặt trái nào không, hay chỉ giúp nền mỹ thuật đi lên? Nếu ai đã từng sống ở nước ngoài nhiều năm, sẽ thấy trở về Việt Nam lại cảm thấy cực kỳ tự do. Có những điều gần như là một thỏa thuận ngầm mà mọi người không được đụng đến, đó là những nội dung mang tính chính trị và áp đặt mà không có hướng dẫn. Nếu ngoài cái đó ra, thì tất cả các xu hướng, trường phái của thế giới đều được người Việt Nam làm rất ổn. Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Bến thuyền, sơn mài, 44 x 122 cm. Nguồn Facebook cá nhân họa sĩ. Về nước và quay trở lại làm giảng viên trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh thì ông giảng dạy chuyên ngành gì ạ? Bên cạnh đó, ông có kỳ vọng gì về thế hệ trẻ mà mình đã giảng dạy và tiếp xúc? Tôi quay lại làm giảng viên năm 2011 ở Trường Mỹ thuật, dạy khoảng 3 năm. Lúc đó tôi được làm chủ nhiệm lớp, rồi cũng hướng dẫn sinh viên cả hình họa lẫn bố cục như bao thầy cô khác. Sau đó, tôi chuyển sang giảng dạy tại Trường Đại học Kiến trúc. Tôi thấy sinh viên bây giờ thông minh, tiếp nhận nhanh, nhưng kỹ năng phải kiên trì rèn luyện. Trường Mỹ thuật chủ yếu giảng dạy theo kinh nghiệm, trong khi trường Kiến trúc dạy bài hình họa theo phương pháp khoa học với kỹ thuật số hóa, dễ nắm nhanh. Bạn nào học được cả hai phương pháp sẽ tiến xa rất nhanh. Nếu không rèn kỹ năng, sẽ dễ thất bại ngay tại môi trường mình. Nhưng nhìn chung, lớp trẻ rất năng động, tiếp thu nhanh và có tiềm năng tạo ra những bước tiến mới cho nghệ thuật Việt Nam. Khi tiếp xúc với nhiều họa sĩ trẻ sau năm 2010, ông thấy khoảng cách lớn nào giữa thế hệ của ông với thế hệ họa sĩ trẻ bây giờ không ạ? Thực ra không có cách biệt quá lớn, chỉ có phương pháp tiếp cận thì hơi khác. Lớp trẻ được tiếp xúc với rất nhiều nền văn hóa trên bình diện thế giới phẳng, nên họ sẽ đi xa hơn và nhanh hơn, chuyện này là đương nhiên, là “sóng sau đè sóng trước” đấy. Lớp chúng tôi chấp nhận vẽ theo kỷ niệm và bút pháp sẵn có. Còn lớp trẻ thì khác, họ không ngại thay đổi, làm tung tóe lên để tạo ra cái mới cho nền nghệ thuật này. Sẽ còn rất nhiều thứ để bàn về lý do của những sự khác biệt và chuyển mình này, có dịp lại trò chuyện sau nhé! Xin cảm ơn những chia sẻ chi tiết của ông. Chúc ông nhiều sức khỏe ạ!
