Skip to content
Language/
Nguyễn Thành Quốc Thạnh: “Sóng sau đè sóng trước giúp tiếp nối nghệ thuật là vậy.”

Nguyễn Thành Quốc Thạnh: “Sóng sau đè sóng trước giúp tiếp nối nghệ thuật là vậy.”

Nhân dịp họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh đang rục rịch chuẩn bị triển lãm cuối năm, chúng tôi xin hẹn đến thăm ông. Đến hơi sớm, ông vẫn cặm cụi hoàn thiện những tác phẩm cuối, rồi dẫn chúng tôi quanh xưởng vẽ, trước khi cùng ngồi lại uống trà. Ông vốn chọn sự thầm lặng, nên dịp được gặp và ôn lại những chuyện cũ khiến chúng tôi cảm thấy thật may mắn. Cứ thế chuyện trò, những chia sẻ về “sóng sau đè sóng trước giúp tiếp nối nghệ thuật” dần được gợi mở.

Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh đang vẽ tại xưởng. Nguồn: Artonis.

Họa sĩ Nguyễn Thành Quốc Thạnh đang vẽ tại xưởng. Nguồn: Artonis.

Ông còn nhớ khi ra Bắc để vào học hệ sơ trung bảy năm tại Trường Mỹ thuật Hà Nội, ông đã gặp gỡ và học cùng những người bạn nào mà đến bây giờ họ vẫn còn hoạt động nghệ thuật không ạ?

Tôi nhập học năm 1964, là khóa cuối cùng của hệ sơ trung bảy năm, khi mới 12 tuổi. Lớp có 21 bạn, đến nay đều đã ngoài 70 cả rồi. Chúng tôi vẫn giữ nhiều ký ức rất đẹp về thời thơ ấu đó. Bạn học thì tôi nhớ gần hết, như Phan Gia Hương, Hoàng Thích Minh, Nguyễn Bích Trâm, Nguyễn Thanh Bình, Trần Luân Tín… Thật tiếc là giờ lớp đã mất khoảng một nửa, chỉ còn lại chừng chục người.

Lúc đó nhà trường dạy những gì cho khóa cuối của hệ sơ trung bảy năm ạ?

Hệ sơ trung bảy năm có từ khá lâu, chỉ là tôi không nhớ chính xác mốc đầu. Khi tôi thi vào thì lớp mình là khóa cuối. Sau đó trường mở thêm hệ năm năm, rồi hai hệ học chung một thời gian trước khi sáp nhập. Điều quan trọng là chương trình bảy năm ấy đào tạo liên tục từ nhỏ đến lớn, nên kỹ năng được đào sâu lắm, từ ký họa, hình họa, bố cục, tới kỹ năng nghề… tất cả đều được rèn rất kỹ lưỡng.

Dưới góc nhìn của một người quan sát và một nhà sư phạm mỹ thuật, ông thấy thế nào về sự khác biệt giữa những người được đào tạo từ chương trình bảy năm ở miền Bắc trong thời kỳ đất nước còn chia cắt, rồi vào miền Nam sau 1975, so với những người ở lại miền Bắc?

Nói là khác thì không hẳn đúng, nhưng đúng là có một khoảng cách. Những người được đào tạo ở phía Bắc, rồi sau giải phóng vào Nam tiếp tục giảng dạy, họ tiếp nhận cả hai nền mỹ thuật: mỹ thuật Sài Gòn trước 1975 và mỹ thuật sau 1975. Hai nguồn này được dung hòa rất tế nhị và cuối cùng tạo thành một dòng chảy ổn định.

Ví dụ như tranh của Nguyễn Trung, ông ấy hầu như không bao giờ bị chê. Vì ông cùng Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm… tạo nên nét rất riêng của hội họa miền Nam. Tranh của họ hòa nhập tự nhiên với nền mỹ thuật mới, chứ không phải kiểu “Bắc - Nam” đối lập. Nó ổn và hài hòa đấy chứ.

Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Hội xuân, sơn mài truyền thống. Nguồn Facebook cá nhân họa sĩ.

Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Hội xuân, sơn mài truyền thống. Nguồn Facebook cá nhân họa sĩ.

Ông có nghĩ tác phẩm của mình là một vệt nối dài từ Mỹ thuật Đông Dương, rồi đến mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1954–1975 ở miền Bắc, kéo dài đến hiện nay không? Cũng như có ý kiến cho rằng thế hệ của ông, như Đào Minh Tri, Ca Lê Thắng, Nguyễn Trung Tín, Bích Trâm, Phan Gia Hương… là lớp đã tạo ra “gạch nối” giữa mỹ thuật Việt Nam hậu chiến và tiền Đổi Mới. Ông có đồng ý không?

Điều đó đúng. Ca Lê Thắng, Đào Minh Tri, Phan Gia Hương, Nguyễn Bích Trâm, Nguyễn Trung Tín… đều được đào tạo rất chuẩn mực, tiếp thu hội họa hiện đại và truyền lại cho lớp sau. Công lao của họ rất lớn. Có thể xem họ như một gạch nối giữa thế hệ trước và thế hệ sau, gieo những mầm mới rất ổn cho tương lai.

Tôi nghĩ mình cũng nằm trong dòng chảy tiếp nối ấy. Bọn tôi học từ 1964 đến 1972, rồi 1976 đến 1982. Lớp tôi, từng người trong đó, đúng nghĩa là một gạch nối giữa thời kỳ sau Đông Dương tới bây giờ. Cách vẽ, cách nhìn, tư duy, phương pháp đều được các thầy thuộc thế hệ Đông Dương truyền lại. Nhiều thầy của Trường Mỹ thuật Đông Dương cũ trực tiếp dạy chúng tôi, chỉ là bây giờ nhớ tên thì không nhớ hết.

Nhưng cũng có người cho rằng thế hệ của ông xuất hiện rồi trôi qua khá nhanh. Sau 2000 - 2010, một thế hệ mỹ thuật mới nổi lên, mạnh ở chỗ họ tiếp xúc với thế giới mở hơn với Internet bùng nổ, tiếp nhận phương Tây trực tiếp và nhanh hơn. Vậy ông có nghĩ thế hệ cũ bị “lỗi thời” không?

Điều này không đúng lắm. Bảo họ lỗi thời thì không phải, vì tranh của các nghệ sĩ thuộc “dấu gạch nối” ấy vẫn có giá trị và vẫn được thị trường ghi nhận. Mặt khác, đúng là thế hệ mới tiếp xúc thế giới mở bằng rất nhiều phương tiện và tạo ra những cái mới,  điều đó là tất yếu.

Đây là quy luật “sóng sau đè sóng trước”. Thế nên không thể nói lớp này lạc hậu hay lớp kia vượt trội. Đúng hơn là mỗi thế hệ lui lại để thế hệ sau tiến lên, tiếp nối nhau đóng góp cho nghệ thuật, như vậy mới hợp lý.

Một góc làm việc của họa sĩ tại xưởng. Nguồn: Artonis.

Một góc làm việc của họa sĩ tại xưởng. Nguồn: Artonis.

Được biết ông có một hành trình cuộc đời khá nhiều biến động. Ông có thể chia sẻ lại những chặng đường và những kỷ niệm quan trọng trong cuộc đời mình không?

Để tôi nhớ và thống kê lại theo từng năm cho các bạn nhé. Tôi sinh năm 1953 ở U Minh, Cà Mau. Ba tôi là người Tiền Giang, mẹ là người Châu Đốc. Gia đình tập kết ra Bắc năm 1954, lúc đó tôi mới một tuổi. Từ đó đến năm 1972, tôi lớn lên và học hành ngoài Bắc, rồi thi vào hệ sơ trung bảy năm của Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội.

Năm 19 tuổi, tôi nhập ngũ, đi bộ đội vào Nam và ở trong quân ngũ đến khi giải phóng. Sau 1975, tôi ở lại Sài Gòn và học tiếp hệ đại học sáu năm của Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Tốt nghiệp xong, tôi được giữ lại trường làm giảng viên.

Năm 1984, tôi được cử đi học chuyên tu ở Hungary. Đáng lẽ chỉ ba năm, nhưng vì những biến động chính trị ở đó, tôi ở lại tới 23 năm. Sau cùng, tôi quyết định trở về nước, giảng dạy tại Đại học Mỹ thuật rồi Đại học Kiến trúc. Tôi nhớ được nhiêu thì kể bấy nhiêu, hơi dài nhỉ? (cười).

Ông đi lính bao lâu và trong thời gian tại ngũ, ông có tham gia sáng tác không ạ?

Khi đang làm bài thi tốt nghiệp, tháng 8 năm 1972, tôi nhận được giấy gọi nhập ngũ. Tôi nhập ngũ cùng Lương Xuân Đoàn, bây giờ là Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, và Nguyễn Thanh Bình. Sau huấn luyện, khi “đi B”, mỗi người lại được điều về một đơn vị khác nhau.

Nguyễn Thanh Bình về đơn vị chiến đấu, từng nhiều lần đối mặt sống chết nhưng may mắn là anh không sao, chắc lúc đó anh cũng vẫn vẽ. Còn tôi phục vụ ở Quân đoàn 3, tập trung chiến đấu chứ cũng không vẽ gì. Tôi ra quân năm 1976 rồi được gọi về học tiếp đại học sáu năm, tốt nghiệp năm 1982.

Khi về trường vào năm 1976, ông có học cùng Nguyễn Thanh Bình hay Đỗ Hoàng Tường không?

Ở hệ đại học thì tôi không học cùng Nguyễn Thanh Bình hay Đỗ Hoàng Tường, nhưng kỷ niệm về những người bạn cũ vẫn còn. Thanh Bình về trường sau tôi một năm, còn Đỗ Hoàng Tường học sau hệ của tôi. Sau khi tốt nghiệp và dạy ở Trường Mỹ thuật một thời gian, tôi được cử đi học chuyên tu ở Hungary.

Ở Hungary lâu như vậy, ông có tiếp tục theo đuổi nghệ thuật không?

Ba năm đầu tôi học và vẽ được một số tác phẩm. Nhưng sau đó tình hình chính trị thay đổi, tôi phải ở lại và thời gian còn lại chủ yếu là mưu sinh, không dùng nghệ thuật để sống được. Sống lâu ở nước ngoài thì nhớ nhà lắm, mà nhớ quá thì phải về thôi. Tôi bỏ hết mọi thứ, về nước năm 2010. Rất may là anh em bạn bè vẫn đón nhận.

Dù sống ở Hungary nhiều năm như vậy, cảm hứng sáng tác của ông lại hoàn toàn tập trung vào con người và văn hóa Việt, hầu như không thấy đời sống bên Hungary. Vì sao lại có sự tập trung này?

Thực ra, đi Hungary chủ yếu để rèn nghề. Nhưng những kỷ niệm thời lính ở Quân đoàn 3 trên Tây Nguyên, và cả tuổi trẻ nữa, nó cứ day dứt. Khi trở về nước và giảng dạy, tôi được quay lại với không khí hội họa, và những ký ức ấy giúp tôi sáng tác rất ổn định.

Tôi gắn bó với sơn mài từ khi được thầy Văn Tâm dạy, rồi càng đào sâu thì càng thấy chất liệu truyền thống này hợp với mình.

Họa sĩ đang hoàn thiện tác phẩm mới tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis.

Họa sĩ đang hoàn thiện tác phẩm mới tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis.

Nhân ông nhắc đến kỷ niệm quân ngũ, vì sao tranh của ông hầu như không mang đề tài chiến tranh mà chủ yếu là con người và văn hóa Việt?

Cuộc đời tôi nằm đúng giai đoạn các chế độ thay đổi mạnh. Khi ở nước ngoài, tôi ít hoạt động nghệ thuật nên những ký ức cũ chưa có dịp thể hiện. Khi về nước, tôi mới thử nghiệm lại. Tôi cũng từng làm vài tác phẩm về chiến tranh, khoảng ba bức, nhưng giờ không còn ở đây nữa. Sau đó tôi chuyển sang những đề tài đời thường của con người, gắn với chất liệu sơn mài, và theo đuổi nó đến giờ.

Ông có một thời gian dài sống tại Đông Âu, vậy thì so với Việt Nam, ông thấy nền mỹ thuật tuyên truyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở đâu bị áp đặt nặng hơn?

Thật ra hơi khó so sánh. Hungary là nước nhỏ, dân số khoảng 9 triệu, và nghề hội họa cũng khó sống như ở Việt Nam. Mặc dù nằm giữa châu Âu, hội họa Hungary vẫn gây được tiếng vang nhất định. Khi tôi ở đó, các tác động từ chính trị cũng tương đối giống Việt Nam, nhưng về cơ bản kỹ năng hội họa được học rất tốt. Chủ đề chính trị thì cả hai nơi đều có, nhưng Hungary lúc đó có phần tự do hơn một chút. Nói chung, ở nước nào cũng có những vùng “cấm kỵ”, và nếu không đụng vào thì đều khá tự do.

Ông đề cập về sự tự do sáng tạo ở Việt Nam. Vậy theo ông, sự tự do và cởi mở này có mặt trái nào không, hay chỉ giúp nền mỹ thuật đi lên?

Nếu ai đã từng sống ở nước ngoài nhiều năm, sẽ thấy trở về Việt Nam lại cảm thấy cực kỳ tự do. Có những điều gần như là một thỏa thuận ngầm mà mọi người không được đụng đến, đó là những nội dung mang tính chính trị và áp đặt mà không có hướng dẫn. Nếu ngoài cái đó ra, thì tất cả các xu hướng, trường phái của thế giới đều được người Việt Nam làm rất ổn.

Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Bến thuyền, sơn mài, 44 x 122 cm. Nguồn Facebook cá nhân họa sĩ.

Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Bến thuyền, sơn mài, 44 x 122 cm. Nguồn Facebook cá nhân họa sĩ.

Về nước và quay trở lại làm giảng viên trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh thì ông giảng dạy chuyên ngành gì ạ? Bên cạnh đó, ông có kỳ vọng gì về thế hệ trẻ mà mình đã giảng dạy và tiếp xúc?

Tôi quay lại làm giảng viên năm 2011 ở Trường Mỹ thuật, dạy khoảng 3 năm. Lúc đó tôi được làm chủ nhiệm lớp, rồi cũng hướng dẫn sinh viên cả hình họa lẫn bố cục như bao thầy cô khác. Sau đó, tôi chuyển sang giảng dạy tại Trường Đại học Kiến trúc.

Tôi thấy sinh viên bây giờ thông minh, tiếp nhận nhanh, nhưng kỹ năng phải kiên trì rèn luyện. Trường Mỹ thuật chủ yếu giảng dạy theo kinh nghiệm, trong khi trường Kiến trúc dạy bài hình họa theo phương pháp khoa học với kỹ thuật số hóa, dễ nắm nhanh. Bạn nào học được cả hai phương pháp sẽ tiến xa rất nhanh. Nếu không rèn kỹ năng, sẽ dễ thất bại ngay tại môi trường mình. Nhưng nhìn chung, lớp trẻ rất năng động, tiếp thu nhanh và có tiềm năng tạo ra những bước tiến mới cho nghệ thuật Việt Nam.

Khi tiếp xúc với nhiều họa sĩ trẻ sau năm 2010, ông thấy khoảng cách lớn nào giữa thế hệ của ông với thế hệ họa sĩ trẻ bây giờ không ạ?

Thực ra không có cách biệt quá lớn, chỉ có phương pháp tiếp cận thì hơi khác. Lớp trẻ được tiếp xúc với rất nhiều nền văn hóa trên bình diện thế giới phẳng, nên họ sẽ đi xa hơn và nhanh hơn, chuyện này là đương nhiên, là “sóng sau đè sóng trước” đấy.

Lớp chúng tôi chấp nhận vẽ theo kỷ niệm và bút pháp sẵn có. Còn lớp trẻ thì khác, họ không ngại thay đổi, làm tung tóe lên để tạo ra cái mới cho nền nghệ thuật này. Sẽ còn rất nhiều thứ để bàn về lý do của những sự khác biệt và chuyển mình này, có dịp lại trò chuyện sau nhé!

Xin cảm ơn những chia sẻ chi tiết của ông. Chúc ông nhiều sức khỏe ạ!

Previous Post Next Post