Hành trình nghệ thuật của họa sĩ Lê Triều Điển, dẫu nhiều lần bị tì đè bởi những khúc quanh của biến chuyển thời thế, vẫn không hề phai ngớt những bản sắc cốt lõi làm nên phong cách trừu tượng đặc trưng của mình. Giữa những năm tháng chiến tranh bất ổn, rồi đến bao nhiêu cơ cực của ngày đầu hòa bình, họa sĩ Lê Triều Điển vẫn lách được những không gian riêng để âm thầm hun đúc, dùi mài và nở rộ tài năng.
Một dịp may mắn, chúng tôi đã có cơ hội được trò chuyện và nghe họa sĩ kể lại một phần trong hành trình nuôi dưỡng con đường nghệ thuật của mình.

Lê Triều Điển, Hành trình phương Tây (bên trái), Hành trình phương Đông (bên phải), sơn dầu, 2019. Nguồn: TRieu Dien artist.
Xin chào họa sĩ Lê Triều Điển! Cảm ơn anh đã đồng ý tham gia buổi phỏng vấn hôm nay.
Khi nhắc đến tranh của họa sĩ Lê Triều Điển, những người theo dõi hội họa sẽ nghĩ ngay tới lối vẽ trừu tượng kết hợp những ký hiệu kỷ hà về nền văn minh Phù Nam hay văn hóa sông nước Đồng bằng Sông Cửu Long. Điều gì trên hành trình hội họa của mình đã khiến anh say mê ký hiệu văn hóa cổ đến vậy và đưa anh hình thành nên lối vẽ đặc trưng đó?
Cái con đường nghệ thuật của mình nó là tự bản thân, tự phấn đấu, làm thế nào cũng phải tự nuôi dưỡng cái nghệ thuật của mình. Lúc đầu thì tôi cũng vẽ ấn tượng rồi biểu tượng vậy thôi; cũng cảnh mua thu, chiến tranh, cũng có rừng Tam Quan, đọt dừa, đêm trăng đồ đó.
Cái chuyện ngôn ngữ ký hiệu này là do nó ẩn từ ở đâu bên trong mình. Mình đi các miếu mạo, đọc về các văn hóa từ Mê Kông, từ Tây Tạng tới Thái Lan, Miến Điện; những cái đền đài, những cái Angkor Wat, rồi những cái Tháp Chàm ở Mỹ Sơn mình cũng đến thăm; ở châu Phi, ở Pháp, ở châu Á có nhiều hang động mang những cái nét cổ. Mình rất thích thú trước những công trình cổ và tư liệu đó. Thì cái sự ưa thích đó nó thâm nhập vào mình, rồi tự động xào nấu thế nào đó mình cũng không biết, đến khi nó lôi cuốn thì mình cho ra.
Cái đó rất tự nhiên khi mình vẽ. Nó giải thích cũng được mà không giải thích cũng được. Khi mình lên một số nét hình, tự nhiên nó kéo mình. Nó kéo mình biến hóa, cái này phải chuyển qua đây, cái này phải chuyển xuống đây, cái này phải đưa hình tượng này, cái này phải chuyển qua nét kia. Nó gần như giống người ta nói là bị nhập đồng vậy đó.
Lúc vẽ thì mình cứ thoải mái luôn. Khi vẽ xong mỗi tấm, nhất là tấm hai mấy mét thì mình mới thấy đã, coi rất là thích thú. Xong cái mình lại chán, muốn vẽ nữa. Thành ra những cái đó nó định hình từ từ tự nó, do mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm mình đều bổ sung, cập nhật những cái văn hóa nghệ thuật thế giới. Rồi mình còn giao tiếp bạn bè, họa sĩ nước ngoài, đàm luận với nhau chuyện này chuyện kia. Nó tác động âm thầm.
Mỗi người có một cách tiếp cận con đường của mình. Còn riêng tôi là hình như nó có từ bên trong.
Bên cạnh nuôi dưỡng chất liệu cá nhân từ những vẻ đẹp mình nhìn ngắm được ở xung quanh, bản thân anh cũng là một người xuất thân sông nước, lớn lên giữa không gian đậm đà văn hóa Nam Bộ. Anh có nghĩ rằng điều đó chính là nền tảng cho tất cả cảm hứng nghệ thuật của mình sau này không?
Tôi nghĩ, không riêng gì nghệ sĩ mà với tất cả, cái nơi sinh trưởng ảnh hưởng lớn tới tâm hồn của một con người. Nhất là quê hương của mình, nó gắn bó rất âm thầm, không lý giải được. Nó ăn sâu vừa trong máu, vừa tính cách.
Tuổi nhỏ mình đi qua sông, những mùa mưa bão. Rồi những đêm đi thuyền, ngồi trên ghe, nằm ngửa trên ghe là thấy sao đầy trời. Sông nước mênh mông. Thời đó còn cá sấu, nó nổi lềnh bềnh trên sông xa xa, ông bố chỉ soi đèn mà nó xanh là cặp mắt của cá sấu. Những cánh chim quẹo vào bờ. Đảo bờ cù lao là thấy bìm bịp, thấy còng cọc lội dưới nước.
Rồi qua câu hò, câu hát của những bà mẹ, bà ngoại; những cái đời sống ca dao, hò, vè, văn chương của Tây Nam Bộ; những cái đờn ca tài tử Nam Bộ. Thuở nhỏ gần như là mình đã thấm đẫm rồi. Mình đi qua những đền đài, chùa, miếu, qua những cái điêu khắc của Khmer Nam Bộ, những cái văn hóa, hình tượng. Những cái đó ẩn sâu trong người, có khi mình không kiểm soát được. Tự nhiên tới lúc là nó tuôn tràn, mình làm tranh thì nó ẩn trong đó mà mình không hay biết.

Lê Triều Điển, Delta, sơn dầu, 2013. Nguồn: Gallerie Dumonteil.
Vậy thì hành trình bén duyên với hội họa của anh hẳn cũng rất tự nhiên khi anh được sinh ra và lớn lên trong không gian giàu tính nghệ thuật như vậy?
Bản thân là có năng khiếu từ nhỏ rồi. Năm 3 tuổi là đã muốn vẽ rồi. Vô học cấp một là vẽ đầy trên tập cho các bạn bè ngồi kế bên. Nhiều thằng bạn nó mua tập 100 trang đưa cho tha hồ vẽ, hết rồi cái cất, nó mua quyển khác. Mà mỗi lần vẽ như vậy là đi học ăn sáng ăn trưa nó bao hết.
Ngồi trước cái sân nền xi măng ở huyện Chợ Lách dưới quê mình, hồi xưa Bến Tre bây giờ là Vĩnh Long, thì mình lấy gạch, mình vẽ cái nhà thờ, vẽ mấy cái nhà có cái hình thang, rồi hình tam giác, rồi có mấy cái cột xuống, rồi vẽ vách nhà rách này kia. Không ai dạy cho hết. Mình học từ những người bạn nhỏ với nhau, thằng này vẽ cái này thằng kia vẽ cái kia, hai ba thằng xúm nhau vẽ. Còn ra ruộng là biết móc đất sét nắn con trâu con bò rồi.
Giai đoạn từ khi anh sinh ra và cho đến lúc bắt đầu chạm ngõ hội họa ở Sài Gòn cũng là thời kỳ đất nước trải qua nhiều biến động. Con đường nghệ thuật của anh đã mở ra như thế nào trong những ngày tháng đó?
Từ tiểu học là tháng 5 nào mình cũng lãnh thưởng ưu hạn hết. Còn nói về vẽ là số một luôn. Ba cái trái ổi, trái cam, đu đủ gì đó, mình vẽ là mình đứng đầu hết. Nhưng mà khi xong cái trung học mình dở lở, mình vô trường công không được. Mình mới suy nghĩ là bây giờ đi lên Sài Gòn luôn, nạp đơn thi vô mấy cái trường trung học công. Thì mình bỏ tỉnh lên Sài Gòn, rủ vài người bạn theo lên thi trường công. Đậu luôn! Đậu cao nữa!
Mà hồi đó mình không biết, mình vô cái trường Kỹ thuật Cao Thắng. Hồi đó nó gọi là trường Bá Nghệ chứ không phải trường kỹ thuật. Mình tưởng nó có đủ trò hết, nghề gì cũng có thì chắc vô đây là ngon rồi. Vô cái trường Cao Thắng thì may mắn mỗi tuần có 1 - 2 giờ mỹ thuật. Toàn là danh họa họ dạy không. Mỹ thuật Đông Dương, Mỹ thuật Paris, Mỹ thuật Gia Định đồ đó. Thì như thế mình được học sơ sơ, mình mê lắm.
Dần dần mình thấy là mình vẫn học khoa học kỹ thuật bình thường, lên năm đều đặn, thi trung học đỗ luôn, nhưng mà có cái là mê vẽ. Đi ra trước trường Cao Thắng hồi xưa ở đường Huỳnh Thúc Kháng, Quận Nhất là sát trung tâm Lê Lợi, ra đường sách, ra nhà sách Khai Trí, lên thư viện Abraham Lincoln của Mỹ, vô coi xi-nê toàn phim hay không. Thì như thế mình được đọc thêm, tìm hiểu hội họa, những cái sách của Thái Tuấn, của nhóm sáng tạo câu chuyện hội họa. Rồi mình qua Khai Trí, mình đọc được một số sách của các danh hoạ thế giới họ giới thiệu tác phẩm. Và vô thư viện Mỹ là coi tất cả lịch sử mỹ thuật thế giới luôn, đầy đủ hình ảnh chi tiết từ Ai Cập cổ đại cho tới hiện đại. Nhờ bổ sung cái đó nó mới hun đúc cho mình căn bản nghệ thuật ở trong người.
Tôi lên Bách Khoa học hai năm rồi cái tôi bỏ. Trong lúc đó là lúc nào cũng vẽ tranh, lúc nào cũng mê hội hoạ, lúc nào cũng tìm sách vở để đọc thêm. Lúc đó sách hội họa Việt Nam mình rất là hiếm, ít lắm, chỉ có sách nước ngoài thôi. Cái gì mà thấy đẹp, sách vở nghệ thuật, nghiên cứu, tư liệu, đền đài, triển lãm, bảo tàng là tự nhiên nó kêu gọi mình tới. Nó có sẵn bên trong mình, gần như là nếu không có nó thì mình không thể nào sống được. Không có nó, mình không thể tiếp tục cuộc sống. Chỉ có cái đó mới làm cho mình hưng phấn trong đời sống hàng ngày.
Mà thời gian học ở Cao Thắng với Bách Khoa đó là tôi liên tục đi xem triển lãm. Nhiều danh họa triển lãm liên tục ở Hội Việt Mỹ, Trung tâm Văn hóa Pháp, Nhật. Có nhiều họa sĩ ở Đài Loan chuyên vẽ ngựa qua triển lãm thì mình cũng xem. Mình học được một số kinh nghiệm của những người đi trước.

Hai tác phẩm của Lê Triều Điển trưng bày tại Art Central Hong Kong 2016. Nguồn: TRieu Dien artist.
Khi tôi kẹt vô trong lính thì tôi không đi Thủ Đức. Tôi thấy bây giờ mình phải kiếm cái ngành gì đừng có bắn nhau. Thành ra, có người bạn họ đưa vô không quân. Vô thì toàn gặp dân họa sĩ. Lúc đó mình ra Đà Nẵng, mình bắt đầu có cuộc sống riêng, mình bắt đầu vẽ, năm 60 - 65. Năm 67 tôi làm triển lãm cá nhân lần đầu tiên ở Đà Nẵng, coi như khai bút. Cái lần triển lãm đầu tiên đó đối với riêng mình là một dấu mốc rất là quan trọng. Nó rất lớn đối với mình là vì sao: những cái hun đúc của mình vẽ mỗi lần 5 - 7 tấm rồi mình gom lại. Thời kỳ chiến tranh mà có một số lượng tranh như thế là không phải dễ. Rồi thêm nữa là triển lãm xong có một chị coi gallery bán tranh cho Mỹ, chị nói bây giờ bán chị mua hết. Lúc đó mừng quá, mình chịu luôn. Thằng bạn tôi nó thấy bán được tranh, nó nói giờ tao cưới vợ mà thiếu tiền, mày cho mượn hết số tiền đó đi. Mình OK luôn! Thì đó là một cái kỷ niệm với bạn bè cũng lớn, sâu đậm.
Thì từ đó mình bắt đầu triển lãm ở Đà Nẵng, xong tham gia ở triển lãm hộ dân Mỹ ở Cần Thơ. Năm 69 - 70 mình quay về Cần Thơ, triển lãm hội Việt Mỹ, triển lãm ở trường Phan Thanh Giản, triển lãm cùng một nhóm anh em. Đi tới đâu là tôi quy tụ số anh em họa sĩ ở đó, gom lại họa sĩ địa phương tổ chức triển lãm liên tục. Cho tới ngày hòa bình, tôi về quê ở Vĩnh Long, mới gom 5 - 10 anh em trẻ mà năng khiếu năng khiếu lại để tổ chức tổ hội hoạ. Thời kỳ đầu sau năm 75 đó là đi vẽ khẩu hiệu để cho mấy em có cái nuôi sống đã. Khi ở Vĩnh Long như thế thì thời gian vẽ tranh bị tù đọng. Triển lãm xong về cất đó thôi. Những cái nào bung hơi mới, hơi cách điệu, hơi xa xa là bị phê phán.
Đến năm 90 - 91 mở cửa, thoáng. Mình hồi xưa là dân học sinh ở Sài Gòn mà. Quay về Sài Gòn, chạy tới chạy lui thì thấy Sài Gòn nó có không khí hơn. Thành ra mình mới chuyển về Sài Gòn, sẵn đó đưa mấy đứa con đi vô đại học mình nuôi nó luôn. Thì may mắn là tôi bắt đầu nối nhịp với Mỹ thuật Sài Gòn. Lúc bấy giờ mới tham gia vô cái triển lãm đầu tiên là Báo Công An, may mắn tôi bán được một cái bức tranh cho thằng sưu tập Tây ở bên Pháp. Nó mang về Pháp thì cái nhóm sưu tập lớn ở Paris nó đến xem nó thích. Nó một cú phôn cho thông dịch tới điện cho tôi liền ở bên đây là tuần sau nó sẽ qua để nó xem tranh. Thì bắt đầu cuộc sống nó cởi mở, sự sáng tạo nó phát triển.
Cái tuổi trên 50 năm mà làm nghệ thuật, nó dày, lên bờ, xuống ruộng khủng khiếp, qua những thời kỳ khó khăn, thời kỳ nỗ lực nuôi dưỡng cái nghệ thuật cho riêng mình. Rồi nó lại theo từng bước phát triển của xã hội, mở rộng về mỹ thuật ở địa phương, ở trong nước rồi nước ngoài.
Suốt những giai đoạn từ trước ngày thống nhất cho đến sau ngày hòa bình, không riêng gì anh mà rất nhiều họa sĩ từ Bắc chí Nam đều phải sống rất cơ cực vì lúc đó Việt Nam chưa mở cửa với thế giới. Đời sống văn chương nghệ thuật nói chung bị trì trệ, người nghệ sĩ khó có thể tồn tại đã độc lập được. Làm cách nào anh đã vượt qua được giai đoạn đó, vừa mưu sinh, vừa nuôi vợ con mà vẫn có thể tiếp tục đam mê nghệ thuật của mình?
Cái giai đoạn đó thì tôi may mắn là ở địa phương cho tụi tôi vô cái tổ hội họa và có cấp cho một số ít lương thực.
Tôi cho mấy em nó đi kẻ khẩu hiệu để hoạt động. Còn tôi là đi vận động làm tranh triển lãm. Thì tranh triển lãm bấy giờ cũng đa số là khẩu hiệu thôi nhưng mà anh em họa sĩ hay là nghệ sĩ người ta hay lắm. Người ta biết chọn cái gì nó dễ chịu hơn, không có bị căng thẳng, không có bị sốc. Thí dụ bây giờ mình vẽ cánh đồng lúa mặt trời hừng đông là nó đẹp rồi. Vô tư thì sẽ làm được. Thì nói chung phải lựa những cái chủ đề hết sức là tế nhị để tham gia triển lãm. Mà triển lãm thường xuyên, mỗi năm Tết đến thì địa phương làm cái đó, mình dựa theo để mình vận động anh em vẽ tranh.
Một số anh em tới hôm nay vẫn là họa sĩ chuyên nghiệp. Mình cũng rất mừng cái giai đoạn đó nó qua. Ăn uống kham khổ, cực khổ lắm nhưng mà chia sẻ với nhau thì nó qua được. Tôi thấy không có cái gì bằng cái lòng tin yêu của mình đối với nghệ thuật. Nó sẽ vượt qua được.

Lê Triều Điển, Ký ức Mekong, sơn dầu, 2020. Nguồn: TRieu Dien artist.
Là một họa sĩ đã sống và hoạt động trong nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau của đất nước, anh có cảm nhận như thế nào về nền hội họa của Việt Nam trong giai đoạn hiện tại?
Ghi nhận theo cảm giác bản thân họa sĩ thôi thì tôi thấy ở trong nước đang chuyển mình, mà nhất là tin tưởng vào cái lớp trẻ. Tôi thấy cái số đông của lớp trẻ vươn lên mãnh liệt tìm tòi. Thành ra, cái sáng tác của Việt Nam hiện nay đang ở thời kì chuyển mình. Còn cái chuyện mà thành danh thành này kia thì phải đợi phía trước, phải qua một quá trình thời gian. Cần thời gian là vì ở trong nước, cái hạ tầng cơ sở, tổ chức trường học, tổ chức báo chí mỹ thuật, tổ chức những nhà phê bình, bài viết trên báo, trên đài truyền thông, các bảo tàng phải đầy đủ chánh quy và những không gian triển lãm nghệ thuật phải thật hiện đại. Cái đà đó mới nâng các họa sĩ trẻ lên cái nhịp điệu đối với quốc tế, đối với thế giới.
Với từng ấy năm kinh nghiệm của mình, theo anh làm thế nào để một họa sĩ có thể được gọi là “họa sĩ lớn” trong hội họa?
Cái câu hỏi này nó cũng là rất là trừu tượng nha! Cái nghệ sĩ lớn là gì? Là trước tiên anh phải có một cái tư duy lớn. Giống như vẽ tranh trừu tượng thì phải có cái tư duy trừu tượng.
Cái người họa sĩ lớn là tự thân tài năng sẽ trở thành họa sĩ lớn. Nó là một cái quá trình thành hình, vận động, làm việc. Cái họa sĩ lớn đó nằm ở trong tương lai.
Mỗi người có một cái thứ lớn riêng của mình. Trong tương lai, tôi nghĩ đất nước nào cũng có tài năng nếu mình phát triển đầy đủ, năng lực tối đa, làm việc tối đa, mà do bản thân từng người chứ không phải một tổ chức xã hội.
Tài năng nghệ sĩ là ở bản thân, từ nỗ lực của cá nhân người nghệ sĩ đó. Còn cái nghệ sĩ lớn nó phải có thời gian người ta định hình cái đó.
Xin cảm ơn họa sĩ Lê Triều Điển đã dành thời gian trò chuyện!
