Skip to content
Language/
Họa sĩ Lê Thị Kim Bạch trong buổi trò chuyện và phác họa chân dung. Nguồn: NNA Team.

Lê Thị Kim Bạch: “Rửa lụa hư, từ đó tìm cách khác để mình vờn đậm lợt cho tranh”

Đi qua những năm tháng tuổi trẻ nhiều biến động, ra thế giới rồi trở về trong những giới hạn của thời cuộc, họa sĩ Lê Thị Kim Bạch vẫn chọn đi tới cùng với hội họa. Với bà, chính cái tình người, cái duyên với lụa và niềm hạnh phúc giản dị được vẽ mỗi ngày đã dẫn lối cho một hành trình sáng tác bền bỉ suốt nhiều thập niên.

Họa sĩ Lê Thị Kim Bạch trong buổi trò chuyện và phác họa chân dung. Nguồn: Artonis.

Chúng tôi đến thăm họa sĩ Lê Thị Kim Bạch vào những ngày cuối năm 2025. Ở tuổi gần 90, bà sống giản dị và kín tiếng trong căn nhà quen thuộc, nơi lưu giữ những bức tranh lụa, sơn dầu, cả sơn mài – gắn bó với một đời làm nghề. Dù không còn sáng tác thường xuyên, nhưng khi nhắc lại hành trình với cọ màu, bà vẫn hào hứng cầm bút chì ký họa chân dung, tự nhiên và tài tình như chính con người bà.

Trước khi trở thành một tên tuổi gạo cội trong làng mỹ thuật, hành trình bắt đầu của bà có lẽ là một câu chuyện rất khác với hình dung của nhiều người?

Xuất thân của tôi cũng bình thường thôi (cười). Năm 12 tuổi, tôi đã vào quân báo Quân khu 8, ở trong quân đội cho đến năm 17 tuổi thì tập kết ra Bắc, học trường miền Nam.

Cơ duyên đến với mỹ thuật cũng rất tình cờ. Năm đó, Bộ Văn hóa và Trường Mỹ thuật dành 10 chỉ tiêu cho học sinh miền Nam, không phải thi cử, chỉ cần kiểm tra năng khiếu. Đứa nào thích vẽ thì tập trung về nhà khách ở phố Lê Trực. Bác Phi Oanh ở Trường Mỹ thuật đến, nhờ một bạn nữ ngồi làm mẫu rồi bảo: “Các cháu cứ thoải mái, thấy sao vẽ vậy”.

Thật ra tụi tôi đâu có ai biết vẽ gì đâu, cứ thấy sao thì vẽ vậy. Vẽ xong, bác mang bài về trường chọn, lấy ra 10 đứa có năng khiếu nhất để vào học Mỹ thuật. Nếu phải thi đủ các môn hình họa, trang trí, bố cục như bình thường thì chắc tôi không vào được, vì mình đâu có biết gì. Tôi may mắn được chọn trong số 10 học sinh miền Nam đó.

Trong những năm học trung cấp, bà học cùng nhiều tên tuổi lớn của mỹ thuật Việt Nam. Có những người thầy, người bạn nào để lại cho bà nhiều ấn tượng không?

Khóa tôi là Khóa II của Trường Mỹ thuật, mang tên Trần Văn Cẩn. Khóa đầu tiên là khóa kháng chiến, gọi là khóa Tô Ngọc Vân. Khóa tôi gồm cả học sinh miền Nam và miền Bắc. Học sinh miền Nam chỉ kiểm tra năng khiếu, còn học sinh miền Bắc thì vẫn phải thi đủ các môn, nên tụi tôi được nhà trường ưu ái lắm.

Trong 10 học sinh miền Nam của khóa đó có họa sĩ Quách Phong. Phía miền Bắc thì có chị Mộng Bích, chị Bích Thu, chị Xuân Minh… nhưng về sau, người tiếp tục vẽ nhiều nhất vẫn là chị Mộng Bích.

Dạy hình họa có thầy Trịnh Phòng. Bác Nguyễn Phan Chánh là thầy lớn tuổi nhất, râu tóc bạc phơ, rất vui vẻ. Còn có bác Trần Đông Lương nữa. Hồi đó tụi tôi không gọi là “thầy” như bây giờ, mà gọi là bác, là chú. Riêng môn trang trí thì tổ học sinh miền Nam do thầy Nguyễn Văn Tỵ phụ trách. Các thầy đều rất quý học sinh miền Nam.

Một góc lưu giữ các tác phẩm của họa sĩ tại tư gia. Nguồn: Artonis.

Sau đó, bà được chọn sang Liên Xô, học tại Kiev. Việc học tập ở đó đã ảnh hưởng thế nào đến con đường sáng tác của bà sau này?

Tôi học ở Liên Xô tổng cộng 6 năm, chuyên khoa Sơn dầu. Năm đó, đoàn Việt Nam có khoảng 17 người, chia ra các khoa: Sơn dầu, Đồ họa, Tượng và Lý luận. Tôi và anh Tô Dự học Sơn dầu, và trong số đó chỉ có một mình tôi là nữ.

Nhưng trước khi được đi Liên Xô thì quá trình chuẩn bị rất gian nan. Dù học mỹ thuật, nhưng muốn học ngoại ngữ để đi nước ngoài thì bắt buộc phải có bằng cấp ba văn hóa, trong khi lúc đó tụi tôi mới học đến lớp năm.

Bộ Văn hóa phải mở một lớp bổ túc văn hóa đặc biệt. Trong vòng một năm, tụi tôi phải học ngày học đêm, chủ yếu là văn, sử, địa, để hoàn thành toàn bộ chương trình phổ thông, từ cấp hai lên cấp ba. Thi đỗ bằng cấp ba rồi mới được thi vào trường ngoại ngữ. Học xong ngoại ngữ thêm một năm nữa, vượt qua kỳ thi cuối cùng, thì mới đủ điều kiện đi Liên Xô.

Có thêm một giai đoạn đặc biệt nữa là khi tôi học đến năm thứ ba thì rơi vào thời kỳ đấu tranh chống chủ nghĩa Xét lại. Tất cả sinh viên Việt Nam học văn học nghệ thuật ở Liên Xô, từ âm nhạc, mỹ thuật đến lý luận, đều bị rút về nước để đi chỉnh huấn.

Sau chỉnh huấn, ban đầu có chủ trương là không ai được quay lại Liên Xô nữa. Nhưng sau đó, vì lý do ngoại giao, có ý kiến cho rằng không nên cắt đứt quan hệ, nên chỉ chọn một số rất ít sinh viên được trở lại học tiếp. Trong số 17 người ban đầu, chỉ còn 5 người được quay lại, và tôi may mắn nằm trong số đó. Nhờ vậy mà tôi được học tiếp cho đến tốt nghiệp. 

Việc đào tạo ở Liên Xô cho tôi một nền tảng rất vững về tạo hình, khối, ánh sáng và không gian. Những kiến thức đó tôi mang theo suốt đời, kể cả khi sau này thử nghiệm nhiều chất liệu khác.

Khi trở về nước vào năm 1967 sau thời gian học tập tại Kiev, hành trình của bà tại Việt Nam đã có những điều gì ạ?

Lúc đó, đoàn học ở Liên Xô chỉ còn lại rất ít người: một anh học Tượng, một anh học Đồ họa và hai người học chuyên khoa Sơn dầu, trong đó có tôi và anh Tô Dự. Vì tôi học chuyên khoa Sơn dầu tại Trường Mỹ thuật Yết Kiêu, cũng chính trường này cử tôi sang Liên Xô học, nên khi về nước, Bộ Văn hóa có quyết định cho tôi và anh Tô Dự cùng về Trường Mỹ thuật Yết Kiêu giảng dạy.

Nhưng khi cầm quyết định đó đến trường, ông Vũ Huyền, Bí thư Đảng ủy, Hiệu phó phụ trách tổ chức, lại chỉ nhận anh Tô Dự, còn tôi thì dứt khoát không nhận, cũng không nói lý do gì. Tôi thắc mắc lắm do hai anh em cùng họa khoa Sơn dầu, nhưng anh là Đảng viên, còn tôi thì không, mà lại vừa từ Liên Xô về, thời kỳ bị coi là “Xét lại”, nên có lẽ vì vậy mà họ không nhận tôi. 

Thời điểm đó Hà Nội đang trong giai đoạn bom đạn rất ác liệt, các trường học và cơ quan trung ương đều sơ tán về nông thôn, thành phố gần như trống vắng. Tôi cầm quyết định của Bộ Văn hóa mà không có nơi tiếp nhận, không có biên chế, đồng nghĩa với không có tem phiếu lương thực. Mà thời đó không có tem phiếu là coi như đói.

May mắn là tôi quen cô Hoàng ở báo Phụ Nữ. Cô bảo tôi về ở tạm với báo, và báo Phụ Nữ cưu mang tôi, cho tôi ăn cơm tập thể. Tôi mang ơn báo Phụ Nữ lắm. Sau đó, Bộ Văn hóa mới có quyết định khác, điều tôi về Trường Mỹ thuật Công nghiệp.

Liệu đó chính là lý do một người học chuyên sâu về Sơn dầu như bà lại chọn Lụa làm "người bạn tâm giao" khi bà sáng tác không ạ?

Chuyện học là một chuyện, còn sáng tác lại là chuyện khác, đúng không? (cười). Trường Mỹ thuật Công nghiệp lúc đó, hồi ấy còn gọi là Trung cấp Mỹ nghệ, không có chuyên khoa Sơn dầu, nên tôi chỉ dạy phần cơ bản, chủ yếu là hình họa. Suốt nhiều chục năm, tôi chỉ dạy hình họa, không dạy chuyên khoa Sơn dầu.

Mặt khác, bối cảnh lúc đó rất khó khăn. Sơn dầu phải nhập từ nước ngoài, rất tốn kém. Một tuýp sơn dầu chỉ cần bóp vài nét là hết, mà người dân thì không được tự do mua đồ từ nước ngoài, tất cả đều phải qua Nhà nước. Trong chiến tranh, những vật tư như sơn dầu hay vải vẽ gần như không có nhập.

Trong khi đó, vẽ lụa thì khác. Chỉ cần một hộp thuốc nước Leningrad là có thể vẽ cả năm. Lụa thì sản xuất trong nước, mua rất dễ. Không chỉ riêng tôi mà rất nhiều họa sĩ thời đó đều chọn vẽ lụa vì hoàn cảnh như vậy.

Ở Việt Nam lúc đó có hai nguồn lụa chính: lụa Hà Đông và lụa Đà Nẵng. Ở Đà Nẵng có cả xưởng dệt lụa phục vụ cho vẽ tranh, mua rất thuận tiện. Tôi mua cả trăm mét lụa để dành vẽ dần. Tôi chỉ cần hai hộp thuốc nước Leningrad là vẽ được hai, ba năm liền. Vì thế mà tôi gắn bó với lụa.

Tác phẩm Cây trái quê hương (1990), tranh lụa, kích thước 87 x 60 cm. Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Thời trung cấp, cô từng học với thầy Nguyễn Phan Chánh, một trong những bậc thầy của tranh lụa Việt Nam hiện đại. Khi thực hành vẽ lụa, bà có chịu ảnh hưởng từ thầy không ạ?

Thật ra tôi mê bức Chơi ô ăn quan của thầy Chánh lắm, và chính nó khiến tôi muốn vẽ lụa.

Nhưng khi tôi bắt đầu vẽ lụa trở lại thì không còn được học trực tiếp với thầy nữa. Tôi hỏi chị Mộng Bích, người học chuyên khoa Lụa ở Yết Kiêu, về cách vẽ. Chị chỉ cho tôi vài điều cơ bản: phải tìm hình, tìm bố cục cho thật vững, căng lụa lên khung rồi mới vẽ. Nhưng chị lại bảo là nên quét thêm một lớp hồ lên lụa rồi mới vẽ. Trong khi đó, một người anh khác, anh Xuân Hồng thì lại nói: “Cứ làm sạch hồ trong lụa rồi vẽ”. Mỗi người chỉ một cách khác nhau. 

Ban đầu tôi làm theo, nhưng làm không đúng cách thì lụa nát, nhăn, không vẽ được, phải bỏ. Rửa lụa hư nên từ đó, tôi phải tìm cách khác, tôi thử ngâm lụa bằng nước nóng để hồ bở ra, bóp nhẹ cho sạch hồ, thay nước đến khi nước trong hẳn. Lụa lúc đó nhăn nhúm, nhưng khi căng lên khung thì lại thẳng và trong veo, lúc đó mới vẽ được.

Vẽ trên lụa đã làm sạch hồ thì rất cực. Màu chấm vào là chạy, phải chùi rồi vẽ lại nhiều lần đến khi màu thấm vào sợi lụa thì mới đứng. Nhưng bù lại, khi đã vào màu rồi thì có thể vờn từ đậm sang lợt, từ nóng sang lạnh rất êm, rất nhẹ. Tôi kết hợp những gì học được với những lần sai rồi sửa của mình để tạo ra cách vẽ riêng.

Khi điều kiện vật liệu đã khá hơn, bà có thay đổi kỹ thuật vẽ lụa của mình không?

Dạ, tôi vẫn giữ. Vì tôi học chuyên khoa Sơn dầu, nên khi vẽ lụa, tôi đưa tư duy sơn dầu vào: tạo khối, tạo ánh sáng, tạo không gian. Tranh lụa trước đây chủ yếu là nét và mảng, còn tôi thì muốn lụa có khối, có chiều sâu.

Muốn vậy thì phải làm sạch hồ trong lụa, vẽ nhiều lần cho màu nhuộm vào sợi, rồi vờn khối khi lụa còn ẩm vừa đủ. Nếu ướt quá thì màu chạy, khô quá thì cứng, không vờn được. Phải canh đúng độ se của lụa. Tất cả đều là tự rút kinh nghiệm dần dần.

Mỗi người có một cách vẽ riêng. Tôi học bạn bè những điều cơ bản về lụa, rồi khi đã tìm ra cách của mình, tôi lại chia sẻ ngược lại với bạn bè.

Trong sáng tác của bà, dễ nhận thấy hai mảng đề tài chính: chân dung con người, phong cảnh và tĩnh vật. Vì sao bà lại dành nhiều tâm sức cho chân dung đến vậy ạ?

Đơn giản là vì con người là đối tượng mình tiếp xúc thường xuyên, gặp gỡ hàng ngày. Còn vẽ phong cảnh thì phải đi ra ngoài, ghi chép, chuẩn bị nhiều thứ, thì hơi rắc rối hơn.

Tôi vẫn nhớ, lần thứ hai tôi sang Liên Xô, sau khi đã tốt nghiệp đại học, thì ở Kiev lúc đó sinh viên từ khắp nơi trên thế giới đều sang học: châu Phi, châu Mỹ, đủ các châu lục. Khác với lần đầu, khi chỉ có sinh viên Việt Nam là người nước ngoài.

Chính vì vậy tôi có điều kiện vẽ rất nhiều chân dung người nước ngoài. Tôi nhờ họ ngồi mẫu, họ rất sẵn lòng. Tôi bảo: “Mặc trang phục tiêu biểu nhất của dân tộc bạn nhé”, thì họ làm ngay. Người Mexico thì mang nón, áo khoác đặc trưng, cầm đàn ngồi đánh suốt ba tiếng đồng hồ cho tôi vẽ. Có người ngồi xong đứng dậy còn nói đùa là tê hết cả người.

Người Iraq thì mang trang phục dân tộc, đem cả ống điếu đặc trưng. Có cô người Ghana đang mặc đồ sinh viên Liên Xô, nhưng khi tôi nhờ thì về thay trang phục dân tộc rồi quay lại ngồi cho vẽ. Họ rất tử tế, rất nhiệt tình. Mình nhờ là họ sẵn sàng giúp ngay. Điều đó làm tôi rất quý, và cũng khiến tôi gắn bó nhiều với chân dung.

Những tác phẩm ký họa khác của họa sĩ được lưu trữ tại tư gia. Nguồn: Artonis.

Trong những năm giảng dạy tại Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, từ Hà Nội đến thời gian biệt phái vào Sài Gòn, bà có đào tạo được học trò nào theo đuổi tranh lụa theo lối vẽ của mình không?

Thật ra thì tôi không biết. Sau này cũng có những người học hỏi kinh nghiệm, rồi tự vẽ, tự tìm tòi, nhưng tôi không trực tiếp dạy chuyên khoa lụa cho ai cả.

Ở Trường Mỹ thuật Công nghiệp không có hội họa, nên tôi chỉ dạy môn hình họa cơ bản. Mà hình họa là cái nền quan trọng nhất. Vẽ hình vững thì đưa vào chất liệu nào cũng vững: lụa, sơn dầu, sơn mài… hình vững thì bố cục đẹp, hình đẹp, đưa vào chất liệu nào nó cũng đẹp.

Cho nên tôi chỉ dạy hình họa. Còn ai thích chất liệu nào thì sau đó tự đi sâu vào chuyên khoa đó.

Không gian lưu trữ kho tàng tranh lụa Chân dung tại tư gia. Nguồn: Artonis.

Trong suốt cuộc đời làm nghề, bà từng có bao nhiêu triển lãm cá nhân, và triển lãm nào làm bà nhớ nhất ạ?

Thật ra mỗi đời người có một triển lãm cá nhân là mừng lắm rồi, chứ nói gì nhiều. Tôi cũng không có ý định làm triển lãm cá nhân. Tôi chỉ vẽ rồi cất đó thôi.

Nhưng hồi đó, khi tôi đang biệt phái giảng dạy ở Sài Gòn, anh Trần Lưu Hậu, lúc ấy là Chủ tịch Hội, có viết thư vào, bảo tôi nên ra Hà Nội làm triển lãm cá nhân. Khi đó ngoài Bắc rất ít triển lãm cá nhân, mới có triển lãm của Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, nên Hội muốn tổ chức một triển lãm cá nhân của một họa sĩ nữ.

Vậy là tôi mang tranh ra triển lãm. Triển lãm cá nhân đầu tiên của tôi là vào cuối năm 1983, đầu năm 1984. Sau đó thì có thêm vài lần nữa, tổng cộng chắc khoảng ba, bốn lần.

Triển lãm đầu tiên đó tôi mang toàn bộ tranh lụa đã vẽ ra Hà Nội. Có lẽ sau triển lãm đó, đại hội mới bầu tôi làm Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật, chắc cũng vì triển lãm ấy.

Vậy trong thời gian làm Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam, bà quan sát thấy đời sống mỹ thuật Việt Nam thay đổi ra sao?

Mỗi năm đều có thay đổi. Tôi cũng không hiểu sao đại hội lại bầu tôi vào làm Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật, nhưng đã nhận thì phải làm.

Thời đó, anh Trần Khánh Chương làm Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, hàng năm đều tổ chức triển lãm theo từng tỉnh, từng khu vực rồi đến toàn quốc. Tôi đi chấm giải khắp nơi, từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc, xem từng tỉnh một, từng khu vực một.

Có những tỉnh còn rất khó khăn, có những nơi khá hơn, nhưng nhìn chung thì đời sống mỹ thuật cũng dần dần được nâng lên, từng bước một.

Nhìn lại cả cuộc đời làm nghệ thuật, điều gì khiến bà cảm thấy hạnh phúc nhất?

Có lẽ là được vẽ. Vẽ là hạnh phúc rồi. Ngoài vẽ ra tôi cũng không biết làm gì khác.

Mình vẽ xong, ngồi ngắm tranh mình vẽ, thấy hài lòng là sướng rồi. Còn triển lãm hay không, tôi không quan tâm. Nếu vẽ mà chưa hài lòng thì nó vằn vặt, khó chịu, phải nghĩ đi nghĩ lại cho đến khi thấy ổn thì thôi.

Hạnh phúc nhất là được vẽ, và được tự mình ngắm tranh mình vẽ. Còn chuyện người khác thích hay không, tôi không đặt nặng. Triển lãm hồi đầu ở Hà Nội là do Hội Mỹ thuật mời, chứ bản thân tôi cũng không chủ động, nhưng rất vui là mọi người lại rất thích.

Bà nghĩ gì về cách thế hệ họa sĩ trẻ ngày nay như Vũ Đình Tuấn hay Bùi Tiến Tuấn đang "làm mới" chất liệu lụa?

Tôi nghĩ mỗi người phải có cách riêng. Điều cơ bản nhất vẫn là hình và bố cục cho đẹp. Còn cách thể hiện thì mỗi người tự tìm cho mình một con đường. Vì mỗi cách đều có cái đẹp của nó.

Xin chân thành cảm ơn chia sẻ của bà!

Previous Post Next Post