Với Hoàng Tường Minh, điêu khắc không đơn thuần là việc tạo ra một hình hài, mà là quá trình giải tỏa những “áp lực của sự vật” và tìm về những giá trị khởi nguyên của nguồn cội.

Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh trong buổi trò chuyện tại xưởng. Nguồn: Artonis.
Nhân dịp ghé thăm xưởng của ông, chúng tôi được ngắm lại những tác phẩm từ triển lãm Áp lực ngược hơn ba năm trước vẫn được ông gìn giữ cẩn thận, đồng thời chứng kiến cách ông uốn nắn sắt, trét đất để định hình những ý tưởng mới.
Xuyên suốt cuộc trò chuyện, hai trục tư tưởng khởi nguyên và áp lực hiện ra như nền tảng cho toàn bộ thực hành điêu khắc của ông, nơi dấu ấn cá nhân được hình thành thông qua sự tác động liên tục lên hình khối và không gian.
Q: Xin chào nhà điêu khắc Hoàng Tường Minh. Để mở đầu cuộc trò chuyện, ông có thể chia sẻ đôi nét về cơ duyên đã đưa ông đến với điêu khắc?
Tôi sinh năm 1962 tại Tuyên Quang, nhưng quê gốc của gia đình là ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Có một sự trùng hợp khá thú vị là vùng đất ấy cũng sản sinh ra nhiều nhà điêu khắc, nên đôi khi tôi nghĩ cái “nghiệp” này có lẽ đã nằm sẵn đâu đó trong mình từ rất sớm.
Năm 1976, tôi theo gia đình chuyển vào trong Nam sinh sống. Đến năm 1978 thì bắt đầu học Mỹ thuật hệ Trung cấp. Ban đầu tôi học Hội họa, nhưng đến năm thứ ba, tôi quyết định thi chuyển sang Điêu khắc. Thật ra từ nhỏ tôi đã thích nặn đồ chơi, tự làm những thứ mình muốn mà ngoài chợ không có. Bạn bè thấy tôi khéo tay thì hay nhờ làm giúp. Cái sự “thích” rất bản năng đó khiến tôi nghĩ: mình đã biết hội họa rồi, sao không thử điêu khắc xem sao?
Thời đó, một lớp điêu khắc chỉ có vài người, ít hơn rất nhiều so với hội họa. Tôi tự nhủ cứ học thêm hai năm điêu khắc xem mình đi được đến đâu, vì muốn chuyển ngành thì cũng phải thi, không đậu là không được học. Và rồi tôi gắn bó với điêu khắc từ trung cấp lên đại học, cho đến khi trở thành một nghệ sĩ sáng tác tự do như bây giờ.

Hoàng Tường Minh, các tác phẩm thuộc triển lãm Áp lực ngược được lưu trữ tại kho xưởng. Nguồn: Artonis.
Q: Được biết ông từng trải qua một thời gian dài làm điêu khắc ứng dụng và gặt hái khá nhiều thành công. Điều gì đã tạo nên bước ngoặt khiến ông quyết định rẽ hướng sang con đường sáng tác vốn đầy nhọc nhằn và thách thức này?
Thật ra tôi không nghĩ mình là người “thành công” theo nghĩa đó. Trong quá trình học và cả khi mới ra trường, tôi phải làm đủ thứ để trang trải cuộc sống. Việc gì có thể làm ra tiền thì mình làm, từ các công trình ứng dụng, trang trí cho đến những dự án cộng tác.
Nhưng song song với ứng dụng, tôi vẫn luôn sáng tác. Đặc biệt là từ khi học đại học, dưới sự hướng dẫn của nhà điêu khắc Phan Gia Hương, cô là người có ảnh hưởng rất lớn đến tôi. Cô luôn thúc đẩy mạnh mẽ lứa chúng tôi về việc coi sáng tác là cốt lõi, chứ không chỉ dừng lại ở việc làm thuê cho các công trình.
Điêu khắc là một quá trình rất dài. Nó không giống hội họa, nơi cảm xúc có thể bộc phát nhanh. Điêu khắc cực nhọc, công phu và đòi hỏi thời gian; cảm xúc trong điêu khắc là cảm xúc kéo dài. Khi làm đủ nhiều, trải qua đủ những tình cờ và cả những vô thức, tôi mới dần phát hiện ra ngôn ngữ riêng của mình.
Có những giai đoạn, khi tôi bị chi phối nhiều bởi các công trình đặt hàng, thời gian dành cho sáng tác cá nhân rất ít. Điều đó khiến mình trăn trở, nhưng cũng chính từ những va đập ấy mà tôi hiểu rõ hơn mình cần gì trong sáng tác.
Q: Trong các tác phẩm của mình, ông thường khai thác những ngẫu tượng phồn thể như một đại tự sự về khởi nguyên vũ trụ. Làm sao ông có thể giữ được bản sắc riêng giữa một chủ đề vốn đã được rất nhiều nghệ sĩ khai thác?
Chủ đề phồn thực trong tôi đến từ những ký ức rất sớm, như câu chuyện mẹ Âu Cơ, Lạc Long Quân hay nếp sinh hoạt ở làng quê. Ngay cả từ “đồng bào” cũng mang lại cho tôi những rung cảm rất mạnh về sự gần gũi và tính cội nguồn. Đó là những gì tôi mang theo một cách tự nhiên, không phải lựa chọn có chủ ý.
Bên cạnh phồn thực, tôi còn theo đuổi một trục khác là “áp lực cuộc sống”, như trong loạt tác phẩm Áp lực. Đó là sự tác động của ngoại cảnh lên con người, lên cái sáng tạo. Tôi muốn ghi lại dấu ấn của mình thông qua chính sự tác động ấy qua cách mà hình khối bị ép, bị biến dạng để tạo ra một trạng thái mới.
Về sự ảnh hưởng, tôi nghĩ làm nghệ thuật không nên ngại. Chúng ta đều đứng trên những nền tảng văn hóa có sẵn. Quan trọng là học hỏi để biến nó thành cái của mình, chứ không phải sao chép lại hình thức.

Góc tác nghiệp các phác thảo sắt tại xưởng của nhà điêu khắc Hoàng Tường Minh. Nguồn: Artonis.
Q: Khi bắt đầu một tác phẩm, ông thường ưu tiên tính thẩm mỹ tự thân hay sẽ mường tượng về một không gian đặt để cụ thể trước?
Thông thường, yếu tố thẩm mỹ và mong muốn cá nhân của tôi đến trước, rồi sau đó mới nghĩ đến không gian đặt để. Nhưng ngay trong quá trình làm, tôi đã phải cân nhắc đến kích thước. Không phải tác phẩm nào cũng có thể làm to lên được.
Có những tác phẩm chỉ phù hợp ở một kích thước nhất định, chứ không thể lấy một hình khối nhỏ rồi phóng lớn lên để đặt ngoài trời hay trong một không gian rộng. Vì vậy, trong lúc làm là luôn có sự cân nhắc. Còn để định hình chắc chắn ngay từ đầu rằng tác phẩm này sẽ đặt ở đâu thì thật sự rất khó.
Điêu khắc và kiến trúc vốn gắn liền với nhau. Điêu khắc là chiếm lĩnh không gian, nên trong một không gian cụ thể, tác phẩm buộc phải đồng tâm với kiến trúc và cảnh quan xung quanh. Điều đó không chỉ là vấn đề thẩm mỹ, mà còn là sự hài hòa trong tổng thể.
Q: Vậy thì một quá trình của ông khi tạo ra một tác phẩm sẽ là gì và liệu điều này có liên quan đến việc ông chọn Sắt làm chất liệu biểu đạt chính thay vì Đá hay Đồng trong những năm gần đây?
Tôi ít vẽ tay. Thay vào đó, tôi phác thảo trực tiếp bằng chất liệu. Tôi uốn kẽm, nặn đất sét để tạo ra những bản nhỏ khoảng 20 - 30cm, “vặn vẹo” cho đến khi thấy ổn rồi mới bắt đầu làm lớn. Quá trình làm lớn không phải là sao chép y nguyên bản nhỏ, mà luôn có những thay đổi về cảm xúc và chất liệu.
Có những ý tưởng chỉ phù hợp với đá, gỗ hay sắt. Nhưng sắt cho tôi sự chủ động nhiều nhất. Nếu làm đá thì quá nặng, cần nhiều người và máy móc, khiến tính cá nhân bị loãng. Nếu làm đồng, tôi phải phụ thuộc vào khâu đúc, nơi cảm xúc dễ bị rơi rớt.
Với sắt, tôi có thể tự tay uốn nắn, gia công, nhấc lên đặt xuống một mình. Nó nhẹ hơn về mặt vật lý, nhưng lại giúp tôi đạt được cảm xúc mạnh mẽ nhất vì tôi được trực tiếp chạm vào mọi công đoạn của tác phẩm.

Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh bên các tác phẩm cũ được bao bọc cẩn thận. Nguồn: Artonis.
Q: Với một quá trình hơn 30 năm gắn bó về nghề thì theo ông, đâu là sự khác biệt lớn nhất giữa “điêu khắc” và “làm tượng”? Phải chăng đây là một sự nhầm lẫn thường thấy trong giới theo nghề hiện nay?
Khi nói đến “làm tượng”, tôi nghĩ ngay đến tượng đài hay các công trình đặt hàng. Ở đó, chủ đề thường đã được xác định sẵn bởi chủ đầu tư, và tác phẩm phải qua rất nhiều vòng hội đồng xét duyệt, chỉnh sửa theo những ý đồ có trước.
Còn điêu khắc, với tôi, là sáng tác mang tính cá nhân. Tôi làm tác phẩm trước hết cho chính mình, để thỏa mãn những suy nghĩ và trăn trở nội tâm. Khi được tự do sáng tác, bất kể chất liệu gì, tôi đều thấy rất thú vị, thậm chí có thể quên ăn quên nghỉ. Đó là cảm giác tự do mà “làm tượng” không có.
Về việc người khác nhìn nhận thế nào, tôi không thể nói thay. Mỗi người có một lựa chọn riêng. Riêng tôi, dù từng tham gia làm thuê cho các công trình tượng đài, nhưng tôi chưa bao giờ coi đó là đích đến cuối cùng của một nhà điêu khắc.
Q: Nhìn lại hành trình đã qua, điều gì khiến ông gắn bó với điêu khắc cho đến hôm nay? Và nếu muốn công chúng nhớ đến mình và các tác phẩm, ông mong họ nhớ đến điều gì?
Từ nhỏ tôi đã thích thay đổi hình khối. Điêu khắc cho phép tôi làm điều đó một cách trực tiếp, điều mà hội họa không mang lại theo cách ấy.
Còn về phần để nhớ thì chắc vẫn quanh hai trục mà chúng ta đã nói đến là phồn thực và áp lực thôi. Một mặt là khởi nguyên, sinh sôi, bắt nguồn từ tâm lý sáng tạo dựa trên bản sắc dân tộc; mặt khác là những tác động, những áp lực từ tâm lý thị giác mà tôi đưa vào hình khối. Tôi muốn người xem cảm thấy được cái cách tôi tác động và làm thay đổi vật chất để để lại dấu ấn cá nhân của mình.
Vâng! Xin cảm ơn những chia sẻ của ông.
