Một phiên bản độc nhất, nơi sự phóng khoáng tự do luôn song hành cùng kỹ thuật chắc tay, đó là điệu Jazz. Trần Việt Hưng cũng là một bản Jazz riêng biệt trong điêu khắc. Ở đó, phiến đá, khối đồng cũng có “suy tư”. Tinh thần ngẫu hứng và mới lạ ông theo đuổi vẫn lặng lẽ đi qua những lớp thời cuộc chưa kịp trở mình để mới.

Tác phẩm của Nhà Điêu khắc Trần Việt Hưng tại Triển lãm Điêu khắc Hà Nội-Sài Gòn 2016. Nguồn: Soi Today.
Vẹo khuôn cho đầm cái chất “mới”
Để hiểu về cái “mới” của Trần Việt Hưng, cần nhìn lại một chút về dòng thời gian của mỹ thuật nước nhà. Nhà nghiên cứu Vũ Huy Thông từng nhận định rằng từ những năm 1950, mỹ thuật Việt Nam đã trải qua một giai đoạn dài đắm mình trong hiện thực xã hội chủ nghĩa. Khi đó, vai trò của người nghệ sĩ thường gắn liền với việc kể chuyện, tuyên truyền, nơi nội dung và thông điệp được đặt lên bàn cân nặng hơn những tìm tòi về ngôn ngữ hình khối thuần túy.
Trong bối cảnh đó, “Chủ nghĩa hình thức” từng bị xem là xa rời đời sống, nhưng thực chất mở ra khả năng giải phóng nghệ thuật khỏi nhiệm vụ minh họa thuần túy. Đổi mới không nằm ở việc kể câu chuyện khác, mà ở việc dám đặt lại câu hỏi về hình dạng, chất liệu và tiếng nói cá nhân. Chính trong sự dịch chuyển ấy, Trần Việt Hưng xuất hiện như một làn gió khác.
Trong quyển Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi (2014), tác giả Hiền Hòa, bút danh của nhà nghiên cứu Lý Đợi, nhìn ông như một đại diện độc lập cho tinh thần đổi mới ấy. Cái “mới” ấy không nằm ở việc đứng ngoài đề tài lớn, mà ở cách ông nhìn chúng bằng một đôi mắt khác. Gốc gác Mỹ Tho, sinh tại Hà Nội năm 1968 và lập nghiệp ở Sài Gòn, ông mang theo một “bản sắc đa diện” khó đóng khung. Chút trầm của ký ức Bắc bộ, chút phóng khoáng phương Nam và nhịp sống đô thị hòa vào nhau. Theo Lý Đợi, chính sự tổng hòa ấy tạo nên một tinh thần lãng mạn theo nghĩa gần gũi đời sống, không phải một trường phái. Điều đó cho phép ông đứng bên lề những phe phái, giữ cho mình khoảng tự do để làm việc.

Tác phẩm Tượng đài Bác Hồ tại Công viên 18 tháng 10 tại Thành phố Cam Ranh. Nguồn: Báo Tiền Phong.
Năm 2014, khi thực hiện tượng Bác tại Vịnh Cam Ranh, ông không chọn tư thế hô hào quen thuộc. Thay vào đó là một khoảnh khắc lặng: tay trái cầm điếu thuốc như đang cân nhắc, tay phải nắm chặt thể hiện quyết tâm. Nhân vật lịch sử hiện lên như một con người trước vận mệnh dân tộc, có suy nghĩ, có do dự rồi mới đi đến quyết định. Ông không né đề tài truyền thống, mà xử lý nó bằng cái nhìn riêng, tập trung vào trạng thái nội tâm hơn biểu tượng bên ngoài.
Cũng trong chương viết về Trần Việt Hưng, tác giả trích dẫn những suy nghĩ của nhà phê bình Nguyễn Quân về thực trạng điêu khắc Việt Nam thời bấy giờ. Nguyễn Quân chỉ ra rằng ngoài những công trình đặt hàng, điêu khắc độc lập phải tự tìm đầu ra. Con đường ấy không rộng, và chính áp lực đó buộc nghệ sĩ không ngừng tìm tòi. Với Trần Việt Hưng, sự đa dạng trong sáng tác dường như đến từ hoàn cảnh ấy: nếu không tự làm mới mình, rất dễ lẫn vào số đông, trở nên cũ kỹ.
“Cái riêng đó là duyên trời cho, mà tôi cũng chăm dữ lắm mới giữ được. Người ta hỏi sao nhìn cái biết Trần Việt Hưng, tôi nói tại tôi đâu có chịu làm giống hôm qua. Làm nghệ thuật mà lặp lại mình thì chán lắm.”
Thế giới sáng tác của ông có thể gói trong ba chữ: Nhân - Sinh - Hợp. “Nhân” là cái tâm khởi đầu, “Sinh” là sự vận động của hình khối, còn “Hợp” là trạng thái hòa điệu giữa con người và tự nhiên. Ông bảo mình làm bằng cảm xúc trước, còn phân loại ra sao là việc của người xem.

Nhà Điêu khắc Trần Việt Hưng đang bảo dưỡng các tác phẩm tại xưởng. Nguồn: Artonis.
Có người gọi là Ấn tượng, có người nói Siêu thực hay Biểu cảm, ông nghe cho vui. Với ông, có Nhân thì mới Sinh, mà Sinh rồi phải Hợp: hòa với người, với đời và với thiên nhiên. Giống một bản Jazz, mỗi nhịp ngẫu hứng vẫn phải tìm được điểm hòa âm để sự tự do không rơi vào rời rạc. Ông ví người nghệ sĩ như vận động viên chạy đường dài: giá trị không nằm ở một phong cách cố định, mà ở khả năng tiếp tục chuyển động. Vì thế, ông chấp nhận thử nghiệm, kể cả khi chưa trọn vẹn, miễn là không lặp lại mình.
“Tôi thà đưa ra một tác phẩm chưa thật sự là mình, nhưng nó phải khác, còn hơn rập khuôn những tác phẩm dễ dàng hài lòng.” (Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi, 2014, Hiền Hòa)
Làm cho đáng cái nghiệp vào thân
Tự nhận mình sinh ra vào thời kỳ “bỏng cháy” của Hà Nội những năm 70, ông mang trong mình ký ức Bắc bộ trước khi vào Nam thi Đại học Mỹ thuật TP.HCM năm 1985. Việc trở về “quê cha đất tổ” Mỹ Tho cũng là sự trở về với một căn tính phương Nam phóng khoáng vốn có trong huyết mạch.
“Tôi nhớ mình bảy tuổi đã đi học vẽ ở Cung Thiếu nhi Hà Nội vì ba phát hiện tôi có năng khiếu. Rồi một ngày ba nói: ‘Vào Nam thi Đại học Mỹ thuật đi’, thế là tôi chọn khoa Điêu khắc, thi khi chưa học qua trường lớp chính quy nào mà vẫn đậu.”
Việc chọn điêu khắc, một lĩnh vực nặng nhọc và đòi hỏi sự đối đầu trực diện với khối tích, bộc lộ bản tính kỷ luật thép ở ông khi muốn dùng sức vóc hiện thực hóa những rung động tinh tế của tâm hồn. Còn hội họa những năm tháng ấy vẫn là thú vui ông luôn gìn giữ. Ông kín tiếng, ít phô trương với báo chí về hành trình cá nhân, nhưng lại là một tay chịu chơi thứ thiệt trong nghề. Ông sẵn sàng bỏ tiền túi, hùn vốn cùng anh em trong nhóm Điêu khắc gia Sài Gòn để dự các trại sáng tác quốc tế từ Thái Lan, Trung Quốc đến Hàn Quốc, Canada.

Nhà Điêu khắc Trần Việt Hưng cùng các nghệ sĩ quốc tế đang tác nghiệp tại Trại sáng tác Bergen Rocks (2008). Nguồn: Bergen Rocks.
Cơ duyên với nhà điêu khắc Morton Burke đưa ông đến trại sáng tác quốc tế Bergen Rocks năm 2008 tại Alberta, Canada. Bergen Rocks vừa là tên trại, vừa mang ý nghĩa “làm rúng động Bergen”. Trong không gian nhỏ của thị trấn Olds, các nghệ sĩ quốc tế làm việc công khai giữa sự tò mò và hào hứng của người dân địa phương. Với ông, đó là niềm tự hào: một nghệ sĩ Việt Nam được ghi nhận trong môi trường không dễ tiếp cận, nhất là khi thị thực Canada vốn không đơn giản.
Ở đó, ông làm việc cùng họa sĩ Nguyễn Tấn Cương và các nghệ sĩ như Peerapong, Paul Haggins cùng một nghệ sĩ gốc Armenia đang sống tại Canada. Không có sự khác biệt màu da, họ hỗ trợ nhau như những đồng nghiệp thực thụ. Chính bầu không khí ấy khiến ông tin rằng mình đang đứng đúng chỗ của nghề.
Không có ê kíp hỗ trợ như nhiều trại trong nước, các nghệ sĩ chỉ được lo chi phí đi lại và ăn ở, toàn bộ quá trình xử lý đá phải tự làm. Chính sự tự thân ấy trở thành phép thử nghề nghiệp. Trong một lần, ông chẻ khối granite gần như thẳng tắp chỉ bằng một nhát búa chính xác. Khoảnh khắc đó khiến người xem và ban tổ chức vỗ tay, không phải vì màn biểu diễn mà vì họ nhận ra phía sau là năm tháng tích lũy và kỷ luật lao động.
Khối granite dùng cho tác phẩm Âm - Dương vốn được lấy từ một công trình tháo dỡ. Với ông, tái sử dụng vật liệu không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là cách nhìn: nghệ sĩ không tạo ra vật chất, chỉ thổi vào đó một đời sống khác. Tác phẩm hiện được trưng bày tạm thời trên tuyến đường điêu khắc Highway 27 ở Olds, Alberta, như một dấu mốc của hành trình “vác vali lên rồi đi”.
Sự thổi hồn ấy không đến từ ngẫu hứng tức thời. Ông luôn nhấn mạnh quá trình quan sát và ghi chép ý tưởng như một dạng “nhật ký cảm xúc”. Nhiều hình ảnh đến bất chợt được lưu lại, chờ gặp chất liệu phù hợp. Vì thế, tác phẩm không bắt đầu từ việc nhìn khối đá rồi nghĩ câu chuyện, mà từ sự gặp gỡ giữa ý tưởng đã chín và vật liệu đúng lúc.

Một số tác phẩm và phôi được bảo quản tại xưởng. Nguồn: Artonis.
Từ những sáng tác ở Ngẫm, đến Âm - Dương, đến Thiên - Địa - Nhân, rồi những hình tượng dơi hay chiếc lá, sáng tác của ông vẫn xoay quanh trục Nhân - Sinh - Hợp. Ở đó có chút dí dỏm, có sự phá khuôn, có ngẫu hứng như những điệu Jazz ông mang vào phiến đá và khối đồng. Thăng trầm của nghề và đời không dừng lại, nhưng ông luôn tìm thấy cơ hội trong giới hạn.
Giao thoa giữa nhiều dòng chảy, vết sướt và dấu chai sần của đời điêu khắc, Trần Việt Hưng luôn mang lại những câu hỏi thú vị về cách một người nghệ sĩ giữ cho mình luôn chuyển động. Để hiểu thêm và trọn vẹn hơn về ông cùng những “cái lạ, cái mới” ấy, những lát cắt sâu hơn sẽ được bàn tiếp ở Kỳ 2.
Related articles
Trần Việt Hưng – Mang điệu jazz vào phiến đá, khối đồng, hình nhân (Kỳ 2)
Cảm nhận những khoảng trống bằng tâm thức nghe vừa phiêu vừa lạ, nhưng với Trần Việt Hưng, đó là cách ông sống cùng điêu khắc. Lá bằng lăng, lá sa kê rơi trên đường, không chiếc nào giống chiếc nào, hệt như con người với những nỗi niềm riêng. Ông đi qua kinh nghiệm đã có và cả những thử nghiệm mới, mở rộng khối tích bằng những dụng ý rất riêng, để rồi hiện lên như một điểm giao thoa thú vị của điêu khắc hôm nay. Vì sao có thể nhìn ông như vậy? Nhà Điêu khắc Trần Việt Hưng bên tác phẩm Tự Ái. Nguồn: Artonis. Bản nguyên tiếp biến Nếu điêu khắc truyền thống thường nhấn vào khối đặc, vào cái nhìn thấy và sờ được, thì Trần Việt Hưng lại dành sự chú ý cho phần không nhìn thấy. Ảnh hưởng từ người thầy, cũng là thần tượng duy nhất của ông, Phan Gia Hương, thể hiện rõ ở tư duy xử lý khoảng không. Từ sự am tường khối tích, sự khắt khe với đồng và đá, ông học cách xem điêu khắc như một cấu trúc của suy nghĩ chứ không chỉ là vật thể đặt trong không gian. Tinh thần đặt câu hỏi về con người, tự nhiên và sự tồn tại là mạch ngầm nối hai thế hệ, lặng lẽ nhưng bền bỉ. Tuy vậy, nếu Phan Gia Hương đại diện cho những tượng đài chặt chẽ, chuẩn mực của lớp đi trước, thì Trần Việt Hưng lại “Jazz hóa” những khối tích ấy. Ông đưa vào đó sự phóng khoáng của cảm xúc cá nhân, một chút lãng mạn, và đặc biệt là cách sử dụng khoảng rỗng như một phần chủ động của tác phẩm. Khoảng trống không còn là phần còn lại sau khi đục đẽo, mà trở thành nơi ý nghĩa được sinh ra. "Khoảng trống cực kỳ quan trọng. Mình phải cảm giác bằng tâm thức chứ không phải bằng mắt hay tay." Tác phẩm Âm - Dương tại Trại sáng tác Bergen Rocks (2008). Nguồn: Bergen Rocks. Gần hai mươi năm trước, tác phẩm Âm - Dương tại Bergen Rocks đã cho thấy rõ điều đó. Hình tượng gia đình được cách điệu bằng một khối lớn đại diện người đàn ông, trong lòng ẩn hiện dáng người phụ nữ, và khoảng rỗng trở thành bóng đứa trẻ. Toàn bộ cấu trúc vươn mình trên đỉnh cột, mong manh mà vẫn ổn định. Gia đình không được kể bằng gương mặt hay chi tiết cụ thể, mà bằng lực giữ thăng bằng giữa các phần. Thông điệp “Gia đình mang lại sự cân bằng cho cuộc sống” là cách ông chuyển ý niệm thành cấu trúc vật lý, là cách ông “vẹo” hình tượng quen thuộc để mở ra một diễn giải khác. Đến năm 2011, tác phẩm Dơi đoạt giải A tại triển lãm mỹ thuật khu vực TP.HCM cho thấy một góc nhìn khơi mở của người nghệ sĩ trước triết lý “Tam không” trong truyền thống Á Đông. Hình ảnh đôi bàn tay “Ta nghe - Ta nhìn - Ta nói” nằm trong đôi cánh dơi treo ngược gợi lên sự linh hoạt kỳ lạ. Con dơi tận dụng trọng lực để tạo gia tốc trước khi bay, cũng như cách Trần Việt Hưng biến nghịch cảnh hay những khoảng lặng đời mình thành điểm bật cho sáng tạo. Nếu trong lời dạy xưa, bịt tai, bịt mắt, bịt miệng là cách giữ mình, thì ở đây, ông làm điều ngược lại. Không né tránh. Không im lặng. Khi không còn che chắn, người nghệ sĩ có dám nhìn, nghe và nói bằng cả giác quan lẫn cái tâm hay không? Sự dí dỏm trong tạo hình tưởng như chơi, nhưng ẩn chứa một suy tư nghiêm túc về trăn trở cá nhân trước đời sống. Tác phẩm Dơi đạt giải A tại Triển lãm Mỹ thuật khu vực VI - TP. HCM. Nguồn: Báo Tuổi trẻ Online. Từ tinh thần ấy, qua tháng năm và những va chạm đời thường, cảm hứng của ông dần tìm đến những chiếc lá. Với Trần Việt Hưng, lá không chỉ là thực vật; mỗi chiếc lá bàng hay lá bằng lăng ông nhặt được đều là một “nhân vật” có cá tính. Chúng biết cuộn mình vì cô đơn, biết xòe ra nhảy múa hay nằm chơi đàn trong không gian. Tinh thần nhân cách hóa thiên nhiên ấy có điểm giao thú vị với điêu khắc gia người Ý Giuseppe Penone. Từ tinh thần Arte Povera, Penone truy tìm sự tương đồng vật chất giữa cơ thể người và cây cối, đúc đồng lá với hệ gân như mạch máu, in dấu tay lên thân gỗ để chỉ ra con người và thiên nhiên cùng chung một cơ chế tồn tại. Trần Việt Hưng chạm vào chiếc lá từ một hướng khác. Ông không đi tìm sự tương đồng sinh học mà tìm sự tương đồng về cảm xúc. Nếu Penone cho thấy thiên nhiên có sự sống, thì Hưng cho thấy thiên nhiên có tâm hồn. Ở đó, triết lý “Hợp” hiện lên rõ ràng: con người và chiếc lá là một. Dù xòe mở hay cuộn mình, dù “Thong dong dưới nguyệt, dập dìu bóng hoa”, tất cả đều là những biến điệu của cùng một đời sống. Là một bản Jazz Fusion Nếu chỉ nhìn vào điêu khắc mà bỏ qua việc vẽ, hẳn sẽ hiểu chưa trọn vẹn về cái chất ngẫu hứng đậm Jazz của Trần Việt Hưng. Từ năm bảy tuổi cho đến khi theo học điêu khắc, ông đã vẽ sơn dầu khổ lớn chỉ vì “thích thì vẽ”. Không để chứng minh điều gì, không để xây dựng danh xưng họa sĩ, mà để giải tỏa năng lượng sáng tạo bên trong.Thời dịch giã là một minh chứng rõ. Khi không thể lên xưởng cũng không kịp mua toan hay giấy vẽ, ông đành lật mặt sau những tờ lịch cũ làm toan, dùng acrylic “may có mua từ trước sẵn” để vẽ. Những bức tranh nhỏ như ghi chép cảm xúc tức thời, nhưng lại trở thành mầm cho các ý tưởng có thể phát triển thành sơn mài hay sơn dầu lớn hơn sau này. Hội họa, với ông, không phải đích đến, mà là trạng thái trung gian của một ý tưởng đang tìm hình. “Cái nét như Thủy mặc mà mọi người thấy, nó đến như một cái duyên thôi. Nếu đem so về kỹ thuật thì chắc tôi còn kém lắm. Nhưng cái tôi cần là giữ lại những cảm xúc đột nhiên bật lên, ghi lại cho trung thực, vậy là đủ.” Một số tranh vẽ ngẫu hứng mang phong cách Thủy mặc. Nguồn: Artonis. Chính sự không câu nệ kỹ thuật ấy tạo nên một trạng thái rất riêng. Không phải sự tĩnh lặng của khuôn phép, mà là phản xạ tức thời, nơi đường nét và khoảng thở chỉ nhằm giữ lại một cảm xúc vừa kịp xuất hiện rồi biến mất. Dù làm việc trên mặt phẳng hai chiều, ông vẫn nghĩ như một nhà điêu khắc. Nhiều khi đang vẽ, ông tự hỏi: “Cái này làm tượng chắc có đẹp không?”. Tranh vẫn thế, không tách rời tượng, mà là cách xả stress, và cũng là bước thử nghiệm cho một cấu trúc có thể bước ra không gian ba chiều. Ý niệm này mở ra những khả năng biến hình: một chiếc lá trong tranh có thể hóa thành khối đá, khối đồng, thậm chí mang màu sắc rực rỡ và cái trào phúng của Pop Art. Ông không tự đóng mình vào một hệ mỹ học cố định. Ý tưởng biến hình theo chất liệu và hình thức, nhưng nhịp cảm xúc ban đầu luôn được giữ lại, như một mạch ngầm của sự ngẫu hứng và “chịu chơi” trong tư duy vật liệu. Nghệ thuật với ông không chỉ là khoảnh khắc thăng hoa mà còn là nhịp lao động đều đặn trong xưởng, bên những đồng nghiệp thân thiết và có sức ảnh hưởng lớn như Bùi Hải Sơn, Hoàng Tường Minh, vân vân. Tiếng búa, tiếng hàn vang lên mỗi ngày cho thấy cảm hứng chỉ bền khi được nâng đỡ bởi sự cần mẫn. Một số sáng tác trong dự án sắp tới đang dần hoàn thiện tại xưởng. Nguồn: Artonis. Vị thế của Trần Việt Hưng trong dòng chảy điêu khắc đương đại không nằm ở việc ông đứng ở đâu, mà ở cách ông đã “chạy” qua các chặng đường sáng tạo. Ông là một “gạch nối” mềm, hay một bản Jazz Fusion giữa các thế hệ: dịch chuyển liên tục nhưng không tách rời nền tảng.Với lớp tiền bối như cố Điêu khắc gia Phan Gia Hương, ông giữ sự nghiêm cẩn trong xử lý khối tích nhưng rũ bỏ đi những diễn ngôn nặng nề của tượng đài truyền thống. So với những đồng nghiệp cùng thời thường cố gắng định hình một "thương hiệu" ổn định, ông lại chọn tâm thế của kẻ lãng du, luôn sẵn sàng làm mới mình. Và khi nhìn sang thế hệ 8X như Thái Nhật Minh - người đẩy điêu khắc sang bình diện cấu trúc ý niệm - ta thấy Trần Việt Hưng đã dọn đường bằng việc mở khối tích bằng trạng thái nội tâm. Sự tiếp nối ở đây không nằm ở hình dáng, mà nằm ở tinh thần kiên định không để điêu khắc dừng lại ở vai trò mô phỏng thuần túy.Từ triển lãm Ngẫm (2007) đến những phác thảo cho dự án Hót sắp tới, nơi các hình tượng âm nhạc như The Beatles, Richard Clayderman hay Louis Armstrong được xử lý bằng tinh thần dí dỏm quen thuộc, có thể thấy một điều nhất quán: ông chưa bao giờ đứng yên. Mỗi dự án mới không phủ nhận cái cũ, mà mở rộng biên độ của nó. Đôi lời kết Trần Việt Hưng là thế, dí dỏm và đầy phóng khoáng, nhưng khi bắt tay vào việc lại hết sức nghiêm khắc. Ông dung hòa kỹ thuật xử lý khối tích với tinh thần ngẫu hứng, như một bản Jazz Fusion không ngừng chuyển động. Sắc màu loan chuyển trên tờ lịch cũ, cú chẻ đá granite hay những chiếc lá cuộn mình giữa vô vàn hình nhân, tất cả đều là từng nhịp rung động rất riêng của ông. Ông vẫn luôn mở lòng để thử những điều mới, và không ngừng thấy cái mới trong từng khoảnh khắc. Đúng chuẩn một người mang tinh thần “hát ca nhảy múa” với sáng tạo, mà vẫn không quên để dành những khoảng trống trong khối hình, để đá, đồng cũng lây cái chất mà chỉ Trần Việt Hưng mới có.
Trần Việt Hưng – Mang điệu jazz vào phiến đá, khối đồng, hình nhân (Kỳ 1)
Một phiên bản độc nhất, nơi sự phóng khoáng tự do luôn song hành cùng kỹ thuật chắc tay, đó là điệu Jazz. Trần Việt Hưng cũng là một bản Jazz riêng biệt trong điêu khắc. Ở đó, phiến đá, khối đồng cũng có “suy tư”. Tinh thần ngẫu hứng và mới lạ ông theo đuổi vẫn lặng lẽ đi qua những lớp thời cuộc chưa kịp trở mình để mới. Tác phẩm của Nhà Điêu khắc Trần Việt Hưng tại Triển lãm Điêu khắc Hà Nội-Sài Gòn 2016. Nguồn: Soi Today. Vẹo khuôn cho đầm cái chất “mới” Để hiểu về cái “mới” của Trần Việt Hưng, cần nhìn lại một chút về dòng thời gian của mỹ thuật nước nhà. Nhà nghiên cứu Vũ Huy Thông từng nhận định rằng từ những năm 1950, mỹ thuật Việt Nam đã trải qua một giai đoạn dài đắm mình trong hiện thực xã hội chủ nghĩa. Khi đó, vai trò của người nghệ sĩ thường gắn liền với việc kể chuyện, tuyên truyền, nơi nội dung và thông điệp được đặt lên bàn cân nặng hơn những tìm tòi về ngôn ngữ hình khối thuần túy. Trong bối cảnh đó, “Chủ nghĩa hình thức” từng bị xem là xa rời đời sống, nhưng thực chất mở ra khả năng giải phóng nghệ thuật khỏi nhiệm vụ minh họa thuần túy. Đổi mới không nằm ở việc kể câu chuyện khác, mà ở việc dám đặt lại câu hỏi về hình dạng, chất liệu và tiếng nói cá nhân. Chính trong sự dịch chuyển ấy, Trần Việt Hưng xuất hiện như một làn gió khác. Trong quyển Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi (2014), tác giả Hiền Hòa, bút danh của nhà nghiên cứu Lý Đợi, nhìn ông như một đại diện độc lập cho tinh thần đổi mới ấy. Cái “mới” ấy không nằm ở việc đứng ngoài đề tài lớn, mà ở cách ông nhìn chúng bằng một đôi mắt khác. Gốc gác Mỹ Tho, sinh tại Hà Nội năm 1968 và lập nghiệp ở Sài Gòn, ông mang theo một “bản sắc đa diện” khó đóng khung. Chút trầm của ký ức Bắc bộ, chút phóng khoáng phương Nam và nhịp sống đô thị hòa vào nhau. Theo Lý Đợi, chính sự tổng hòa ấy tạo nên một tinh thần lãng mạn theo nghĩa gần gũi đời sống, không phải một trường phái. Điều đó cho phép ông đứng bên lề những phe phái, giữ cho mình khoảng tự do để làm việc. Tác phẩm Tượng đài Bác Hồ tại Công viên 18 tháng 10 tại Thành phố Cam Ranh. Nguồn: Báo Tiền Phong. Năm 2014, khi thực hiện tượng Bác tại Vịnh Cam Ranh, ông không chọn tư thế hô hào quen thuộc. Thay vào đó là một khoảnh khắc lặng: tay trái cầm điếu thuốc như đang cân nhắc, tay phải nắm chặt thể hiện quyết tâm. Nhân vật lịch sử hiện lên như một con người trước vận mệnh dân tộc, có suy nghĩ, có do dự rồi mới đi đến quyết định. Ông không né đề tài truyền thống, mà xử lý nó bằng cái nhìn riêng, tập trung vào trạng thái nội tâm hơn biểu tượng bên ngoài. Cũng trong chương viết về Trần Việt Hưng, tác giả trích dẫn những suy nghĩ của nhà phê bình Nguyễn Quân về thực trạng điêu khắc Việt Nam thời bấy giờ. Nguyễn Quân chỉ ra rằng ngoài những công trình đặt hàng, điêu khắc độc lập phải tự tìm đầu ra. Con đường ấy không rộng, và chính áp lực đó buộc nghệ sĩ không ngừng tìm tòi. Với Trần Việt Hưng, sự đa dạng trong sáng tác dường như đến từ hoàn cảnh ấy: nếu không tự làm mới mình, rất dễ lẫn vào số đông, trở nên cũ kỹ. “Cái riêng đó là duyên trời cho, mà tôi cũng chăm dữ lắm mới giữ được. Người ta hỏi sao nhìn cái biết Trần Việt Hưng, tôi nói tại tôi đâu có chịu làm giống hôm qua. Làm nghệ thuật mà lặp lại mình thì chán lắm.” Thế giới sáng tác của ông có thể gói trong ba chữ: Nhân - Sinh - Hợp. “Nhân” là cái tâm khởi đầu, “Sinh” là sự vận động của hình khối, còn “Hợp” là trạng thái hòa điệu giữa con người và tự nhiên. Ông bảo mình làm bằng cảm xúc trước, còn phân loại ra sao là việc của người xem. Nhà Điêu khắc Trần Việt Hưng đang bảo dưỡng các tác phẩm tại xưởng. Nguồn: Artonis. Có người gọi là Ấn tượng, có người nói Siêu thực hay Biểu cảm, ông nghe cho vui. Với ông, có Nhân thì mới Sinh, mà Sinh rồi phải Hợp: hòa với người, với đời và với thiên nhiên. Giống một bản Jazz, mỗi nhịp ngẫu hứng vẫn phải tìm được điểm hòa âm để sự tự do không rơi vào rời rạc. Ông ví người nghệ sĩ như vận động viên chạy đường dài: giá trị không nằm ở một phong cách cố định, mà ở khả năng tiếp tục chuyển động. Vì thế, ông chấp nhận thử nghiệm, kể cả khi chưa trọn vẹn, miễn là không lặp lại mình. “Tôi thà đưa ra một tác phẩm chưa thật sự là mình, nhưng nó phải khác, còn hơn rập khuôn những tác phẩm dễ dàng hài lòng.” (Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi, 2014, Hiền Hòa) Làm cho đáng cái nghiệp vào thân Tự nhận mình sinh ra vào thời kỳ “bỏng cháy” của Hà Nội những năm 70, ông mang trong mình ký ức Bắc bộ trước khi vào Nam thi Đại học Mỹ thuật TP.HCM năm 1985. Việc trở về “quê cha đất tổ” Mỹ Tho cũng là sự trở về với một căn tính phương Nam phóng khoáng vốn có trong huyết mạch. “Tôi nhớ mình bảy tuổi đã đi học vẽ ở Cung Thiếu nhi Hà Nội vì ba phát hiện tôi có năng khiếu. Rồi một ngày ba nói: ‘Vào Nam thi Đại học Mỹ thuật đi’, thế là tôi chọn khoa Điêu khắc, thi khi chưa học qua trường lớp chính quy nào mà vẫn đậu.” Việc chọn điêu khắc, một lĩnh vực nặng nhọc và đòi hỏi sự đối đầu trực diện với khối tích, bộc lộ bản tính kỷ luật thép ở ông khi muốn dùng sức vóc hiện thực hóa những rung động tinh tế của tâm hồn. Còn hội họa những năm tháng ấy vẫn là thú vui ông luôn gìn giữ. Ông kín tiếng, ít phô trương với báo chí về hành trình cá nhân, nhưng lại là một tay chịu chơi thứ thiệt trong nghề. Ông sẵn sàng bỏ tiền túi, hùn vốn cùng anh em trong nhóm Điêu khắc gia Sài Gòn để dự các trại sáng tác quốc tế từ Thái Lan, Trung Quốc đến Hàn Quốc, Canada. Nhà Điêu khắc Trần Việt Hưng cùng các nghệ sĩ quốc tế đang tác nghiệp tại Trại sáng tác Bergen Rocks (2008). Nguồn: Bergen Rocks. Cơ duyên với nhà điêu khắc Morton Burke đưa ông đến trại sáng tác quốc tế Bergen Rocks năm 2008 tại Alberta, Canada. Bergen Rocks vừa là tên trại, vừa mang ý nghĩa “làm rúng động Bergen”. Trong không gian nhỏ của thị trấn Olds, các nghệ sĩ quốc tế làm việc công khai giữa sự tò mò và hào hứng của người dân địa phương. Với ông, đó là niềm tự hào: một nghệ sĩ Việt Nam được ghi nhận trong môi trường không dễ tiếp cận, nhất là khi thị thực Canada vốn không đơn giản. Ở đó, ông làm việc cùng họa sĩ Nguyễn Tấn Cương và các nghệ sĩ như Peerapong, Paul Haggins cùng một nghệ sĩ gốc Armenia đang sống tại Canada. Không có sự khác biệt màu da, họ hỗ trợ nhau như những đồng nghiệp thực thụ. Chính bầu không khí ấy khiến ông tin rằng mình đang đứng đúng chỗ của nghề. Không có ê kíp hỗ trợ như nhiều trại trong nước, các nghệ sĩ chỉ được lo chi phí đi lại và ăn ở, toàn bộ quá trình xử lý đá phải tự làm. Chính sự tự thân ấy trở thành phép thử nghề nghiệp. Trong một lần, ông chẻ khối granite gần như thẳng tắp chỉ bằng một nhát búa chính xác. Khoảnh khắc đó khiến người xem và ban tổ chức vỗ tay, không phải vì màn biểu diễn mà vì họ nhận ra phía sau là năm tháng tích lũy và kỷ luật lao động. Khối granite dùng cho tác phẩm Âm - Dương vốn được lấy từ một công trình tháo dỡ. Với ông, tái sử dụng vật liệu không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là cách nhìn: nghệ sĩ không tạo ra vật chất, chỉ thổi vào đó một đời sống khác. Tác phẩm hiện được trưng bày tạm thời trên tuyến đường điêu khắc Highway 27 ở Olds, Alberta, như một dấu mốc của hành trình “vác vali lên rồi đi”. Sự thổi hồn ấy không đến từ ngẫu hứng tức thời. Ông luôn nhấn mạnh quá trình quan sát và ghi chép ý tưởng như một dạng “nhật ký cảm xúc”. Nhiều hình ảnh đến bất chợt được lưu lại, chờ gặp chất liệu phù hợp. Vì thế, tác phẩm không bắt đầu từ việc nhìn khối đá rồi nghĩ câu chuyện, mà từ sự gặp gỡ giữa ý tưởng đã chín và vật liệu đúng lúc. Một số tác phẩm và phôi được bảo quản tại xưởng. Nguồn: Artonis. Từ những sáng tác ở Ngẫm, đến Âm - Dương, đến Thiên - Địa - Nhân, rồi những hình tượng dơi hay chiếc lá, sáng tác của ông vẫn xoay quanh trục Nhân - Sinh - Hợp. Ở đó có chút dí dỏm, có sự phá khuôn, có ngẫu hứng như những điệu Jazz ông mang vào phiến đá và khối đồng. Thăng trầm của nghề và đời không dừng lại, nhưng ông luôn tìm thấy cơ hội trong giới hạn. Giao thoa giữa nhiều dòng chảy, vết sướt và dấu chai sần của đời điêu khắc, Trần Việt Hưng luôn mang lại những câu hỏi thú vị về cách một người nghệ sĩ giữ cho mình luôn chuyển động. Để hiểu thêm và trọn vẹn hơn về ông cùng những “cái lạ, cái mới” ấy, những lát cắt sâu hơn sẽ được bàn tiếp ở Kỳ 2.
Trần Việt Hưng: “Không cho phép mình lặp lại, thế mới hợp được cái nghề”
Dí dỏm trong kỷ luật và “sợ chán phải lặp lại” - đó có lẽ là những ấn tượng cô đọng nhất về nhà điêu khắc Trần Việt Hưng. Trở lại xưởng tác nghiệp chung của các điêu khắc gia như Bùi Hải Sơn, Hoàng Tường Minh…, chúng tôi bước vào một điểm tụ nghề nghiệp giàu ảnh hưởng của điêu khắc miền Nam - nơi những tên tuổi nhiều năm kinh nghiệm vẫn miệt mài giữ lửa và làm việc hăng say mỗi ngày. Vốn khá kín tiếng, cuộc trò chuyện lần này mang đến thêm nhiều chia sẻ về hành trình ông đã đi qua. Và rồi nhận ra, không quá lời khi xem Trần Việt Hưng là sự giao thoa giữa kinh nghiệm được mài giũa qua năm tháng và tinh thần cởi mở trước những chuyển động của tương lai. Nhà Điêu khắc Trần Việt Hưng trong buổi trò chuyện tại xưởng. Nguồn: Artonis. Mến chào Nhà điêu khắc Trần Việt Hưng, rất cảm ơn ông đã dành thời gian cho buổi trò chuyện này. Để bắt đầu, có lẽ chúng ta nên quay ngược thời gian một chút về những ngày đầu khi ông mới bén duyên với nghệ thuật? Tôi sinh năm 1968, ở Hà Nội, một Hà Nội của thời rất “bỏng cháy”. Tôi lớn lên ngoài đó, rồi sau này mới vào Nam. Thực ra, vào Nam cũng là trở về quê cha đất tổ, vì ba tôi là người Mỹ Tho, tập kết ra Bắc. Học xong phổ thông ở Hà Nội, tôi thi vào Trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM, đậu năm 1985, ra trường năm 1990. Từ đó đến giờ, tôi cứ thế làm nghề. Có một chuyện vui như thế này. Ba tôi thấy tôi có năng khiếu mỹ thuật từ nhỏ. Khoảng bảy tuổi, tôi đã đi học vẽ ở Cung Thiếu nhi Hà Nội. Sau đó, ba bảo: “Thôi, vào Nam đi, thi vào Đại học Mỹ thuật.” Tôi chọn thi thẳng vào khoa Điêu khắc. Lúc đó chưa hề học qua trường lớp luyện thi chính quy nào cả, nhưng lại đậu ngay vào khoa Điêu khắc. Nếu phải nói về một người thầy mà tôi ấn tượng thì… không phải đầu tiên, cũng không phải cuối cùng, mà chắc là mãi mãi. Đó là Nhà giáo - Nhà điêu khắc Phan Gia Hương. Năm đầu tôi học với cô, lúc ấy cô vừa đi tu nghiệp ở Bulgaria về. Và may mắn nữa là bài tốt nghiệp của tôi cũng do cô hướng dẫn. Với tôi, cô Gia Hương là thần tượng cả đời. Từ sự dẫn dắt của cô Phan Gia Hương, ông bắt đầu định hình phong cách riêng của mình như thế nào? Chẳng hạn như tác phẩm tượng đài Bác Hồ mà ông từng thực hiện? Chủ đề riêng thì tôi nghĩ đơn giản lắm. Trong cuộc sống, cái gì cũng có thể trở thành chất liệu sáng tác. Quan trọng là mình có cảm nhận được hình ảnh của đời sống và đưa nó vào tác phẩm hay không. Còn tượng đài Bác Hồ, đó là một cái duyên. Năm 1946, khi Bác từ Pháp trở về, Hiệp định Sơ bộ coi như tan vỡ. Bác muốn trì hoãn thời gian để cách mạng củng cố lực lượng. Chuyến tàu ấy chỉ ghé Vịnh Cam Ranh, không vào đất liền. Bác nhìn vào bờ và nói: “Việt Nam phải độc lập.” Khi làm tượng, tôi muốn diễn tả tâm trạng ấy. Tay phải Bác nắm chặt thể hiện sự cương quyết. Tay trái cầm điếu thuốc như một khoảng lặng để suy tư. Với tôi, đó là một khoảnh khắc rất sâu sắc. Việc cảm nhận chủ đề từ góc nhìn của mình cũng là một thử thách. Sáng tác là vậy, có lúc thất bại, có lúc thành công. Nhưng hạnh phúc nhất là khi cảm xúc vỡ òa, và mình làm ra được tác phẩm theo đúng cảm nhận của mình nhất, là mình nhất. Vậy khi thực hiện tác phẩm, ý tưởng thường đến trước hay khi đôi tay chạm vào chất liệu thì hình khối mới bắt đầu hiện ra? Việc nghĩ ra ý tưởng và phác thảo mới là khâu quan trọng nhất, thậm chí tốn thời gian hơn cả việc thực hiện. Tôi phải “nuôi” nó đủ lâu. Một khi ý tưởng đã chín và có phác thảo trên tay, việc thực hiện chỉ đơn giản là chép lại cảm xúc của mình vào chất liệu. Tôi luôn làm phác thảo trước để chỉnh sửa, vì điêu khắc không có chỗ cho sự sai lầm. Với cốt hay đá, một khi đã đục sai là chỉ có vứt đi. Nói đến đây lại nhớ kỷ niệm ở Bergen Rocks, nhờ những năm tháng lăn lộn với chất liệu ở Việt Nam mà tôi có kỹ năng chẻ một khối đá granite thẳng tắp chỉ bằng một nhát búa. Khi đó, từ khách tham quan đến chủ đầu tư đều vỗ tay rần rần. Muốn làm chủ được tác phẩm, trước hết mình phải hiểu thấu tận "gan ruột" chất liệu đã. Giữa đá, đồng và nhiều chất liệu mới khác, đâu là nơi ông thấy mình tự tin nhất? Ông hoàn toàn tự tay thực hiện hay có sự hỗ trợ từ một ekip? Chắc chắn là đồng. Đồng cho phép tôi giữ được 99% ý đồ ban đầu vì mình kiểm soát được từ khuôn nhựa. Với đá, dù có công nghệ hiện đại hỗ trợ cắt gọt thì cũng chỉ đạt khoảng 70 - 80%, phần còn lại vẫn cần bàn tay con người chạm vào. Tất nhiên, với những công trình lớn, tôi cần các xưởng đổ đồng hoặc đục đá thi công từ phác thảo của mình, đó là một quy trình cần sự phối hợp chứ, dĩ nhiên, đã làm phải đầu tư tý cùng anh em người ta phụ mình (cười). Nhà Điêu khắc Trần Việt Hưng đang trùng tu lại tác phẩm Dơi tại xưởng. Nguồn: Artonis. Nhắc đến những vỡ òa của cảm xúc, phải chăng ông cũng đã có rất nhiều kỷ niệm khi tham dự Trại sáng tác Quốc tế Bergen Rocks tại Canada - một hành trình hoàn toàn “tự thân vận động”. Điều gì đã thôi thúc ông dấn thân vào một môi trường lạ và có phần khắc nghiệt như vậy? Ở Việt Nam cũng tổ chức nhiều trại sáng tác quốc tế, và trong một lần tình cờ gặp ông Morton người Canada, tôi đã nhận lời mời sang Alberta tham gia Bergen Rocks. Gọi là “tự thân vận động” vì ban tổ chức chỉ chi trả phí đi lại, ăn ở; còn lại mọi công đoạn sáng tác, đục đẽo trên đá granite nặng nề thì phải đều tự thân làm hết, không có anh em phụ giúp như khi ở nhà. Bergen thực ra là một thị trấn nhỏ của Alberta, nhưng đúng như cái tên của nó, kỳ trại đó đã làm “rúng động” cả vùng. Rất nhiều người dân kéo đến để thưởng lãm cách các nghệ sĩ quốc tế làm việc. Tôi tự hào lắm chứ, vì mình đại diện cho người Việt Nam được làm việc trên đất Canada - nơi mà việc xin visa khó nhằng lắm. Tại đó, tôi thực hiện tác phẩm tên Âm - Dương. Ngoài việc của mình, tôi còn cùng họa sĩ Nguyễn Tấn Cương hỗ trợ các đồng nghiệp khác như Peerapong, Paul Haggins hay một nghệ sĩ người Armenia… Anh em đồng nghiệp quốc tế với nhau, hỗ trợ nhau là chuyện thường tình. Từ triển lãm cá nhân đầu tiên năm 2007 cho đến khi bước chân ra thị trường quốc tế, những kỷ niệm nào khiến ông cảm thấy hạnh phúc nhất về sự đón nhận của công chúng dành cho điêu khắc? Điều đáng nhớ nhất là tôi dám làm triển lãm cá nhân đầu tiên vào năm 2007, cái Ngẫm đấy. Lúc đó tôi chỉ nghĩ mình bày ra để “biểu diễn chơi” thôi, nhưng không ngờ lại được đón nhận nồng nhiệt và bán được tác phẩm. Rồi sau thì cũng tham gia rất nhiều trại sáng tác, từ Việt Nam đến Hàn Quốc, rồi Canada đủ cả, nhưng điều khiến tôi hãnh diện nhất là sự trân trọng của giới yêu nghệ thuật dành cho mình. Đi nhiều, học hỏi nhiều, tôi cũng nghiệm ra rằng, để đứng được ở sân chơi quốc tế, nghệ sĩ cần ba yếu tố: tay nghề thi công vững, ý tưởng độc đáo và quan trọng nhất là sức khỏe. Nghề này nặng nhọc lắm. Như hồi ở Canada, tôi dùng đá granite từ một công trình dỡ bỏ để sáng tác. Thực ra đó là xu hướng của thế giới rồi, mình tận dụng những chất liệu đã bỏ đi để thổi hồn vào cho nó, mọi thứ đơn giản vậy thôi. Nhưng để làm được, mình phải quan sát và tìm hiểu nó rất kỹ. Ý tưởng ấy, tôi thường ghi chép lại như một dạng ‘nhật ký cảm xúc’, để khi gặp chất liệu phù hợp thì có thể triển khai ngay. Trên trang cá nhân của ông hay đăng mấy bức vẽ theo phong cách Thủy mặc rất thú vị, nay gặp còn được ông cho xem các tập giấy vẽ này nữa. Có phải việc vẽ tranh là cách ông "đổi món" cho đỡ nhớ nghề những lúc không thể chạm vào đá hay đồng không? Kể một câu chuyện vui như này, từ lúc còn đi học tôi đã vẽ rồi. Có những lúc rảnh rảnh, thích vẽ là tôi vẽ, mà toàn vẽ sơn dầu khổ lớn thôi. Đến thời gian dịch bệnh bị “giam” ở nhà không lên xưởng làm điêu khắc được, tôi lấy màu Acrylic vẽ lên mặt sau của những tờ lịch cũ để giải tỏa bức bối. Nhiều người nói tranh tôi giống Thủy mặc, nhưng thú thật nếu xét về kỹ thuật Thủy mặc chính quy thì tôi… kém lắm. Đó chỉ là cách tôi ghi lại những cảm xúc đột xuất thôi. Nhưng cái gốc của tôi vẫn là điêu khắc. Khi vẽ những chiếc lá, trong đầu tôi đã tự hỏi: “Cái này làm tượng chắc đẹp và lạ lắm?”. Tôi muốn thử nghiệm những ngôn ngữ mới, có thể là sử dụng màu sắc theo kiểu Pop Art. Vẽ cũng là một cách tôi lưu giữ những ý tưởng thoáng qua để sau tiện chuyển thể sang sơn mài, sơn dầu khổ lớn hoặc những tác phẩm điêu khắc có hình hài mới lạ hơn. Cũng không rõ, chắc nếu được thì sẽ cân nhắc bày, lại khoe chơi cho vui ấy mà. Một số bức tranh được chia sẻ trong buổi trò chuyện. Nguồn: Artonis. Trong tranh của ông là những nét cọ mềm mại, thiền tính. Hình tượng chiếc lá cũng xuất hiện xuyên suốt từ tranh sang các tác phẩm điêu khắc. Phải chăng đó là một ký hiệu nghệ thuật để định hình phong cách Trần Việt Hưng? Ban đầu chỉ là cảm xúc. Khi quan sát xung quanh, trên đường đi làm này, thấy một chiếc lá bằng lăng hay lá bàng rơi, cuộn lại hay xòe ra, thế tự nhiên tôi nảy ra ý muốn “nhân cách hóa”, thổi hồn vào nó. Không phải vô tình mà tôi làm nhiều chiếc lá như vậy mà đó là kết quả của quan sát và rung động. Tôi luôn làm mới mình, tìm một ngôn ngữ riêng để tạo nên một phong cách không lẫn vào ai. Cái chất riêng đó, tôi gọi là “duyên”. Người ta nhìn vào thấy lạ, thấy mới và nhận ra ngay, vì tôi không cho phép mình lặp lại, thế mới hợp được cái nghề. Điêu khắc vốn nặng nhọc và có phần khô khan, gần như đối lập với sự uyển chuyển trong hội họa. Ông dung hòa hai bản thể ấy ra sao? Thực ra hai bộ môn này khác nhau về cách tiếp cận không gian. Hội họa xử lý trên mặt phẳng, dùng màu sắc, ánh sáng và sắc độ để tạo ảo giác về chiều sâu. Còn điêu khắc lại là câu chuyện của “tám phương tám hướng”, dù là 3D, 4D hay 5D thì nhìn hướng nào cũng phải đẹp: từ trên xuống, dưới nhìn lên, trái sang phải hay trước ra sau đều phải toàn bích. Tôi dung hòa chúng bằng cách mang tư duy của sự mềm mại vào trong hình khối. Trong điêu khắc, bên cạnh vật chất hữu hình, tôi đặc biệt chú tâm vào những “khoảng trống” thứ ngôn ngữ giúp hình khối thở và kết nối với tâm thức người xem. Điêu khắc không chỉ là đục đẽo, mà là cách tôi dùng hình khối để diễn đạt sự uyển chuyển vốn có trong cảm xúc của mình. Vậy thì thay vì phân chia hình khối rạch ròi, ông thường chọn những “khoảng trống” làm ngôn ngữ kết nối. Phải chăng đây là một dụng ý nghệ thuật xuyên suốt? Khoảng trống rất quan trọng. Người thầy lớn của tôi, điêu khắc gia Phan Gia Hương, từng nói: trong một tác phẩm điêu khắc, khoảng trống là yếu tố thiết yếu. Không phải chỉ phần mình sờ thấy được mới quan trọng. Cái chạm bằng tay, nhìn bằng mắt chỉ là một phần. Khoảng trống phải cảm bằng tâm thức. Nó không đo đếm được, nhưng lại quyết định cảm giác của tác phẩm. Với tôi, điêu khắc không chỉ là khối đặc, mà là sự hòa hợp giữa cái có và cái không. Một trong những tác phẩm lấy cảm hứng từ dáng lá. Nguồn: Artonis. Nếu dùng những từ khóa như Nhân, Sinh và Hợp để phản ánh thế giới nghệ thuật của mình, ông sẽ sắp xếp ra sao? Thực ra, tôi sáng tác bằng cảm xúc và nhiều người thường đánh giá tác phẩm của tôi mang tính Ấn tượng, Siêu thực hay Biểu cảm. Tất cả chúng đều xoay quanh cái “Nhân”. Với tôi, Nhân chính là cái tâm của con người, Sinh là sự phát triển, tạo ra tác phẩm, và Hợp là sự hòa đồng. Khi làm nghệ thuật, tôi luôn đi theo lộ trình đó: bắt đầu bằng cái tâm (Nhân), nỗ lực làm ra tác phẩm (Sinh) để đạt đến sự hòa hợp cuối cùng giữa con người với thiên nhiên (Hợp). Sự gắn kết này hiện diện xuyên suốt, từ tác phẩm Dơi, chiếc lá trước đây cho đến hình dạng con người trong các sáng tác hiện tại. Sắp tới, tôi dự định thực hiện một series về các thần tượng âm nhạc của mình, có thể đặt tên là “Hót” (cười). Tôi thần tượng ban nhạc The Beatles, nghệ sĩ piano Richard Clayderman hay ca sĩ - nhạc sĩ Louis Armstrong… Có lẽ đó sẽ là một bộ tác phẩm theo chủ đề, như một cách “hợp” với những giai điệu đã nuôi dưỡng tâm hồn mình. Sau tất cả những thử thách và cả những khoảnh khắc "vỡ òa" cùng nghệ thuật, ông có bao giờ thấy mông lung về con đường mình đã chọn? Và sau này, ông muốn mọi người nhớ đến cái tên Trần Việt Hưng như thế nào? Thì là "trót mang lấy nghiệp vào thân", tôi không còn trách trời gần hay trời xa nữa. Con đường này chốt rồi. Còn muốn người ta nhớ tới mình à? Nghe có vẻ hơi giống cụ Nguyễn Du khi viết: "Ba trăm năm nữa, người đời có khóc Tố Như không?". Tôi không dám mong cầu quá xa xôi, chỉ hy vọng một điều đơn giản thôi: "Nhìn vào tác phẩm là thấy Trần Việt Hưng". Nhớ tới tôi là người không bao giờ cũ kỹ trong mắt những người yêu cái đẹp là đủ. Cảm ơn những chia sẻ thú vị từ ông và mong chờ vào những dự án sắp tới!
