Trong phiên đấu giá Sotheby’s tại Paris, giữa các tác phẩm của Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Tường Lân, chợt người xem để ý một bức sơn mài khổ lớn, tinh xảo và cao tay đến mức không thể làm ngơ. Không ai rõ tác giả bức tranh, chỉ thấy trên tranh duy một chữ ký đầy bí ẩn: “THO”. Từ đó, một trong những “ẩn số” nghệ thuật lớn nhất của dòng chảy Mỹ thuật Viễn Đông dần được hé lộ…
Tháng 11 năm 2023, tại Paris, nhà đấu giá Sotheby’s đã mở phiên đấu giá bộ sưu tập Magnificence and Regality – Tráng lệ và Vương giả của Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc. Các tác phẩm thuộc bộ sưu tập lần lượt được “gõ búa” với mức giá lên đến hàng triệu USD.
Thế nhưng, ngoài giá trị khủng của phiên đấu giá và tên tuổi các danh họa trong đó, một điều thu hút chú ý hơn cả là bức tranh sơn mài khổ lớn của một tác giả với chữ ký đơn giản là “THO”. Đó là tác phẩm Village Market Scene – Cảnh chợ làng và danh tính của người sáng tác ra nó cũng dần được hiển lộ đầy kiêu hãnh đến giới sưu tập: họa sĩ Trần Thọ.

Trần Thọ, Village Market Scene (Cảnh chợ làng), sơn mài. Nguồn: Sotheby’s.
Xuất thân, bối cảnh sống và học vấn nghệ thuật
Họa sĩ Trần Thọ tên đầy đủ là Trần Minh Thọ. Ông sinh ra tại khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn. Năm sinh của ông vẫn là thông tin chưa được xác định rõ: một số nguồn viết ông sinh năm 1922, lại có nơi cho rằng ông sinh năm 1882. Ông là người thân của họa sĩ sơn mài Lê Thy (tên thật là Trần Minh Thi, 1919 - 1961), là một trong những nghệ sĩ sơn mài được kính nể bậc nhất tại miền Nam Việt Nam ngày đó. Thế nhưng, vì chưa rõ năm sinh của Trần Thọ nên khó lòng định được vai vế cụ thể giữa hai người.

Họa sĩ Trần Thọ, chụp bởi Giuseppe Baccaro. Nguồn: Ricardo Von Brusky.
Họa sĩ Trần Thọ lớn lên trong thời kỳ giao thoa văn hóa Đông - Tây tại Việt Nam đầu thế kỷ XX. là giai đoạn các kỹ nghệ phương Tây ngấm vào tư duy thẩm mỹ bản địa. Mặc dù không có tài liệu nào ghi chép chi tiết về con đường học tập nghệ thuật của ông, nhưng với những gì quan sát được, công chúng có thể cho rằng ông đã từng được đào tạo căn bản, thể hiện qua kỹ thuật hình họa điêu luyện, khả năng bố cục vững vàng trong các tác phẩm sơn mài khổ lớn và tranh lụa. Hơn nữa, với mối liên hệ gia tộc, có lẽ ông còn có thêm sự trao đổi kỹ thuật nền tảng chặt chẽ với họa sĩ Lê Thy trước khi sang Pháp định cư và phát triển sự nghiệp.
Phong cách nghệ thuật
Hai chất liệu họa sĩ Trần Thọ theo đuổi cũng là hai chất liệu truyền thống của Việt Nam: sơn mài và tranh lụa. Nếu ở tranh lụa, ông sáng tác bằng những nét bút mượt mà, tao nhã, hòa sắc dịu nhẹ để phản ánh những gì tinh tế nhất của thế giới nội tâm… Thì với sơn mài, ông vẽ những bức tranh khổ lớn, đưa vào đó những tạo hình chắc khỏe, thể hiện tư duy làm chủ bố cục cực tốt, khắc họa sống động và khúc chiết nhịp điệu sinh hoạt văn hóa dân gian Việt Nam.
Quá trình sáng tác của họa sĩ Trần Thọ cũng hết sức thú vị và càng phản ánh rõ sự dày công, miệt mài của ông với hội họa. Guido Perocco, vị giám tuyển huyền thoại của nước Ý, đã từng giới thiệu về quá trình sáng tác của Trần Thọ giống như một nghi lễ tôn giáo: ông kiên nhẫn chờ đợi tạo đủ 20 lớp sơn mài cần thiết trước khi hoàn thiện lớp cuối cùng; ông đưa vào tranh các chất liệu bản địa và quý hiếm như sắc màu thực vật, san hô, vỏ sò, ngọc cổ, bụi vàng, bạc… như thấy ở các tượng thần.

Tranh của họa sĩ Trần Thọ, không rõ tên, sơn mài. Nguồn: Ricardo Von Brusky.
Họa sĩ Trần Thọ đã sáng tác trong khí quyển chung của thập niên 1950, giai đoạn giới tinh hoa châu Âu vô cùng say mê thứ nghệ thuật đến từ Đông Dương xa xôi. Bên cạnh các Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Thứ, họa sĩ Trần Thọ đã tạo ra những tác phẩm vừa tràn ngập phong vị phương Đông nhưng cũng đáp ứng được tiêu chuẩn nghệ thuật hàn lâm quốc tế bấy giờ.
“Sơn mài và tranh lụa của hai họa sĩ này đứng ở ngã giao giữa truyền thống ngàn năm và cảm quan hiện đại; chính cảm quan ấy, bằng sự thôi thúc của nó, làm cho nét họa và sự mềm mại tinh tế của đường nét mở rộng vào một bầu trời trước đây chưa từng được biết đến, có lẽ chất chứa nhiều cảm xúc hơn và có lẽ cũng kém ngây thơ hơn những gì từng trôi chảy bất động trong dòng truyền thống” – trích lời Giám tuyển Guido Perocco giới thiệu phòng XXXVII, Việt Nam và hai nghệ sĩ Trần Thọ và Lê Thy, từ catalogue của Venice Biennale 27.
Hành trình mang chuông đi đánh xứ người
Trong thời gian sống ở Pháp, họa sĩ Trần Thọ đã tham gia nhiều triển lãm quốc tế lớn tại châu Âu, trong đó, ông có những triển lãm chung cùng họa sĩ Lê Thy và nhóm nghệ sĩ Việt Nam tại nhiều “thánh đường nghệ thuật” lừng lẫy như Paris, Monte Carlo, Nice, Cannes (Pháp), Lucerne (Thụy Sĩ) và Bỉ.
Tuy nhiên, đỉnh cao sự nghiệp của ông trên trường quốc tế là vào năm 1954 tại Venice Biennale – Triển lãm Nghệ thuật Quốc tế Venice lần 27, khi Việt Nam xuất hiện chính thức với tư cách một quốc gia độc lập có gian trưng bày riêng. Ông là một trong hai nghệ sĩ Việt Nam – người còn lại là họa sĩ Lê Thy – được tham gia vào liên hoan nghệ thuật danh giá bậc nhất đó.
Ông đã mang đến Venice Biennale 9 tác phẩm bao gồm cả sơn mài và tranh lụa:
- Thánh lễ (1948). Sơn mài.
- Mùa xuân (1948). Sơn mài.
- Tứ nghệ (1950). Sơn mài.
- Tự họa (1952). Tranh lụa.
- Thiếu nữ cầm quạt: Chân dung cô Ng-T (1952). Tranh lụa.
- Giấc mơ (1952). Tranh lụa.
- Người chăn trâu (1952). Tranh lụa.
- Hòa nhạc ngoài trời (1953). Sơn mài.
- Những nữ chiến binh Amazon (1953). Sơn mài.
Venice Biennale như bệ phóng đưa tên tuổi họa sĩ Trần Thọ vào hàng ngũ những bậc thầy có sức ảnh hưởng. Tuy song hành cùng Lê Thy tại không gian triển lãm quốc tế nhưng ông vẫn khẳng định được giá trị sáng tạo riêng biệt.

Tranh của họa sĩ Trần Thọ, không rõ tên, sơn mài. Nguồn: Ricardo Von Brusky.
Những gì ông đem đến liên hoan, dựa trên lời phê bình của giám tuyển Guido Perocco, như một sự giải phóng khỏi “quy tắc ngàn năm”. Trước biennale, nghệ thuật của Trần Thọ là sự tiếp nối dòng chảy truyền thống một cách tĩnh lặng. Sau cọ xát tại biennale, việc tiếp xúc với xu hướng nghệ thuật thế giới đã kích thích "cảm quan hiện đại" trong ông. Trần Thọ dũng cảm đưa vào tranh sơn mài và lụa những "năng lượng chưa từng biết đến của hình thể", những bố cục bứt phá mà Perocco gọi là "nỗi thôi thúc không buông tha trong công cuộc đổi mới tác phẩm". Qua các tác phẩm như Giấc mơ, Những nữ chiến binh Amazon, ông nới lỏng đường nét, tăng sức nặng cảm xúc, từ đó thấy rằng ông đã biến chất liệu cổ thành công cụ biểu đạt tư duy hiện đại, không còn bị bó hẹp trong lối vẽ minh họa hay trang trí thuần túy.
Tầm ảnh hưởng và vai trò trong dòng chảy nghệ thuật
Trong dòng chảy Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Trần Thọ là một nhánh rẽ đặc sắc, trở thành cầu nối mang kỹ thuật thủ công phương Đông kết hợp với tư duy khúc chiết, giải phẫu và cảm quan không gian phương Tây để tạo ra một ngôn ngữ hội họa lụa và sơn mài vừa hiện đại, vừa đậm đặc căn tính Việt.

Tranh của họa sĩ Trần Thọ, không rõ tên, sơn mài. Nguồn: Ricardo Von Brusky.
Tác phẩm sơn mài tiêu biểu của ông được sưu tập bởi Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc (hậu duệ đời thứ 5 của vua Minh Mạng), chứng minh vị thế nghệ thuật tinh tế được công nhận bởi giới thượng lưu đương thời. Định giá tác phẩm của ông tại sàn Sotheby's đạt mức rất cao (100,000 – 200,000 EUR giá khởi điểm). Việc "phát hiện" Trần Thọ tại các phiên đấu giá quốc tế thế kỷ XXI như của Sotheby’s giúp hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về đóng góp của các nghệ sĩ miền Nam Việt Nam và nghệ sĩ gốc Việt hải ngoại.
Từ những gì thể hiện trên trường nghệ thuật hàn lâm của thế giới, tên tuổi và danh mục tác phẩm của họa sĩ Trần Thọ đã được ghi nhận trong các tài liệu lưu trữ mỹ thuật quốc tế (tư liệu của OPAC SBN Ý). Ông cũng được ghi danh trang trọng trong cuốn catalogue của kỳ Venice Biennale thứ 27, là kỳ biennale có quy mô lớn nhất tính đến thời điểm năm 1954. Đó là một chứng từ lịch sử vô giá, định vị Trần Thọ ở nhóm những nghệ sĩ tiên phong đưa Mỹ thuật Việt Nam ra thế giới. Lời tán dương của Guido Perocco chính là sự bảo chứng tối cao cho chất lượng nghệ thuật của ông. Ông tiếp tục được mời tham gia Venice Biennale lần 28 năm 1956. Hai lần tham gia biennale của Trần Thọ, vượt qua những tiêu chuẩn gắt gao, để sánh vai cùng nghệ sĩ quốc tế càng khẳng định thêm tài năng và vị thế không thể chối cãi của Trần Thọ.
Nhưng hành trình của Trần Thọ cùng Lê Thy đến với và gây ấn tượng tại Venice Biennale diễn ra như thế nào? Mời các bạn đón đọc tiếp kỳ sau để tiếp tục khám phá!
Bài viết có sử dụng tư liệu trích từ luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Xin cảm ơn tác giả Phạm Thị Điệp Giang đã cho phép trích dẫn tư liệu vào bài viết!
Related articles
Venice Biennale 1954 – Khi nghệ thuật Việt Nam bước vào “đấu trường Olympic hội họa”
Nếu thể thao có thế vận hội Olympic, khoa học có giải Nobel thì ở mảng nghệ thuật, Venice Biennale chính là định chế danh giá bậc nhất thế giới. Được tham gia Venice Biennale và triển lãm tác phẩm của mình trong không gian trưng bày quốc gia (National Pavilion) là sự chứng nhận tối cao nhất về vị thế chuyên môn tầm quốc tế mà một nghệ sĩ có thể mơ đạt tới. Và vào năm 1954, lần đầu tiên có hai nghệ sĩ Việt Nam được trưng bày tác phẩm tại Venice Biennale… Venice Biennale – “Thế vận hội” của nghệ thuật thị giác Ra đời vào năm 1895, Venice Biennale là một trong những sự kiện văn hóa và nghệ thuật đương đại danh giá lẫn lâu đời nhất thế giới, nơi những quốc gia tham dự sẽ mang đến các tác phẩm tiêu biểu nhất của nghệ sĩ đại diện. Sự kiện xoay quanh hai mảng nghệ thuật chính: Art Biennale – Triển lãm nghệ thuật, được tổ chức vào các năm chẵn và Architecture Biennale – Triển lãm kiến trúc vào các năm lẻ. Trong tiếng Ý, “biennale” có nghĩa là “hai năm một lần”, tương ứng với cách tổ chức xen kẽ này. Một vài catalogue và tờ rơi các triển lãm của hai nghệ sĩ Tran Tho và Le Thy tại các gallery của Ý trong những năm 1950 (Milan, Turin, Rome,…). Nguồn: Zanga Arts Space | Tư liệu trong luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Được tham gia Venice Biennale không chỉ là dấu mốc lịch sử đối với nền nghệ thuật của một quốc gia mà còn là đỉnh cao sự nghiệp của nghệ sĩ đại diện. Năm 1954, lần đầu tiên Việt Nam xuất hiện chính thức với tư cách một quốc gia độc lập có gian trưng bày riêng tại Venice Biennale lần 27. Giữa bối cảnh lịch sử đầy biến động của năm 1954, việc văn hóa và nghệ thuật Việt Nam cất tiếng nói sòng phẳng, tự tin bên cạnh 30 cường quốc mỹ thuật khác tại một kỳ biennale có quy mô lớn kỷ lục tính đến thời điểm bấy giờ mang ý nghĩa ngoại giao văn hóa vô cùng lớn lao. Hành trình "Mang chuông đi đánh xứ người" của Lê Thy và Trần Thọ Năm 1954 – Tiếng vang đầu tiên Năm 1954, giữa vô vàn biến động trong nước lẫn trên bàn cờ chính trị quốc tế, gian trưng bày riêng của Việt Nam tại Venice lại như một tuyên ngôn văn hóa mạnh mẽ về một quốc gia độc lập có nền mỹ thuật rực rỡ. Hai nghệ sĩ đại diện Việt Nam lúc đó là họa sĩ Trần Thọ và họa sĩ Lê Thy. Họ không chỉ đại diện cho nền nghệ thuật Việt Nam nói chung và thế hệ nghệ sĩ Nam Bộ đầy tài năng, sục sôi tinh thần tìm tòi nói riêng. Quan trọng hơn, họ mang đến Venice thứ ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng, độc bản nhất của Việt Nam để đối thoại với thế giới. Lê Thy, Une panthère noire sur un rocher en surplomb, auprès d’une cascade traversant une végétation luxuriante, l’animal guettant en contrebas un daim avançant sur un chemin longeant des rizière (Báo đen bên thác nước chờ săn nai), sơn mài, khoảng 1948. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation. Trần Thọ tham gia Venice Biennale với 9 tác phẩm đồ sộ, chia đều cho hai chất liệu lẫn hai thái cực: sơn mài nặng tính truyền thống, triết lý và tranh lụa thiên tính cảm xúc, hiện đại. Trong khi đó, bậc thầy sơn mài Lê Thy mang đến 5 tác phẩm sơn mài với các kỹ thuật đặc biệt của ông. Các tác phẩm của hai họa sĩ được vận chuyển vượt đại dương sang Ý. Tại đó, chúng phải vượt qua nhãn quan khắt khe của Guido Perocco – một trong những nhà phê bình, giám tuyển nghệ thuật quyền lực và có sức ảnh hưởng lớn nhất nước Ý suốt nhiều thập kỷ. Trần Thọ, Vessels (Những con tàu), sơn mài. Nguồn: Escritório De Arte. Không chỉ được tuyển duyệt, Trần Thọ và Lê Thy còn được Perocco đích thân viết lời giới thiệu trang trọng trong catalogue chính thức của Biennale 27, đề cao kỹ nghệ và tư duy tạo hình của hai nghệ sĩ Việt Nam. Tranh của hai ông được sánh vai cùng tác phẩm tham dự của nhiều nghệ sĩ lừng lẫy năm châu trong cùng kỳ Biennale 27 đó như Salvador Dalí, Willem de Kooning, Francis Bacon, Henri Matisse, v.v. Những điều này là minh chứng cho thấy tác phẩm của Trần Thọ và Lê Thy đã chạm đến tiêu chuẩn nghệ thuật hàn lâm khắt khe của thế giới. Năm 1956 – Sự bảo chứng cho đẳng cấp bền vững Nếu xem năm 1954 chỉ mới là sự "tò mò" của phương Tây với nghệ thuật Viễn Đông thì việc Trần Thọ tiếp tục được mời vào Biennale 28 (1956, không có sự tham gia của Lê Thy) là lời khẳng định chắc nịch rằng nghệ thuật của ông không phải hiện tượng nhất thời mà có giá trị học thuật nội tại vững chắc. Lần này, họa sĩ Trần Thọ tham gia với 7 tác phẩm sơn mài: I contadini del mio villaggio (1954) – Những người nông dân làng tôi. Studio (1954) – Xưởng vẽ. La rete (1955) – Cái lưới. Rovine Khmère (1955) – Di tích Khmer. Raccolta dei fiori (1955) – Hái hoa. I pescatori (1956) – Những ngư dân. Barche (1956) – Thuyền. (Thông tin tham khảo từ ASACdati. Tên tiếng Việt của tác phẩm là do người viết tạm dịch) Trần Thọ, Les Buffles (Những con trâu). Nguồn: World Bank Collection. Hành trình tham gia Venice Biennale hai kỳ liên tiếp này chứng minh vị thế của Trần Thọ đã được hệ thống hàn lâm châu Âu công nhận ở cấp độ cao nhất. Nhiều nguồn tư liệu cũng ghi nhận giống nhau rằng trong cả hai lần tham gia, họa sĩ Trần Thọ đều được nhận Honorary Mention – Giải danh dự, càng khẳng định thêm tài năng và vị thế của ông. Bước ngoặt định danh toàn cầu cho nghệ thuật Việt Trước khi bước ra thế giới, sơn mài thường bị soi chiếu hay đánh giá từ góc nhìn mang tính thuộc địa, hoặc bị giới học giả phương Tây đóng khung là một dạng "nghệ thuật trang trí" hay "kỹ nghệ thủ công" (craft). Sân khấu Venice Biennale chính là bệ phóng giúp Lê Thy và Trần Thọ đập tan định kiến “thủ công mỹ nghệ” đó. Họ chứng minh rằng sơn mài Việt Nam là một chất liệu hội họa thuần khiết, có khả năng tải được những tư duy bố cục đồ sộ, hàn lâm và các cấu trúc không gian phức tạp. Trần Thọ, Duas Mulheres (Hai người phụ nữ). Nguồn: Escritório De Arte. Việc trực tiếp đứng chung khán đài với tinh hoa mỹ thuật toàn cầu tại Venice vừa giúp hai ông có cơ hội cọ xát, đối thoại sòng phẳng với các trào lưu nghệ thuật hiện đại đang bùng nổ tại châu Âu, vừa xác lập đặc trưng thẩm mỹ độc bản của Lê Thy và Trần Thọ. Từ đó, họ làm giàu thêm thế giới quan sáng tác của mình, đồng thời định vị rõ ràng hơn lối đi riêng cho mỹ thuật nước nhà: Hiện đại hóa nhưng không đánh mất bản sắc. Lê Thy, Travelling scene in Tonkin (Cảnh du hành ở Bắc Kỳ), sơn mài, khoảng 1940 - 1949. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation. Sau hai ông, nhiều nghệ sĩ Việt Nam ở những thế hệ tiếp theo cũng đã có cơ hội chạm ngõ Venice Biennale, gầy dựng tên tuổi và mở rộng thêm vùng trời nghệ thuật riêng của mình từ đó. Năm 2026 đây, Việt Nam lại tiếp tục có nghệ sĩ đại diện tham gia Venice Biennale, kéo dài tiếp sợi duyên giữa nước ta với nền nghệ thuật hàn lâm quốc tế đã được chắp lại và se nên bởi hai bậc tiền bối: Lê Thy và Trần Thọ. Bài viết có sử dụng tư liệu trích từ luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Xin cảm ơn tác giả Phạm Thị Điệp Giang đã cho phép trích dẫn tư liệu vào bài viết!
Họa sĩ Trần Thọ – "Ẩn số" nghệ thuật trong dòng chảy Mỹ thuật miền Viễn Đông
Trong phiên đấu giá Sotheby’s tại Paris, giữa các tác phẩm của Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Tường Lân, chợt người xem để ý một bức sơn mài khổ lớn, tinh xảo và cao tay đến mức không thể làm ngơ. Không ai rõ tác giả bức tranh, chỉ thấy trên tranh duy một chữ ký đầy bí ẩn: “THO”. Từ đó, một trong những “ẩn số” nghệ thuật lớn nhất của dòng chảy Mỹ thuật Viễn Đông dần được hé lộ… Tháng 11 năm 2023, tại Paris, nhà đấu giá Sotheby’s đã mở phiên đấu giá bộ sưu tập Magnificence and Regality – Tráng lệ và Vương giả của Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc. Các tác phẩm thuộc bộ sưu tập lần lượt được “gõ búa” với mức giá lên đến hàng triệu USD. Thế nhưng, ngoài giá trị khủng của phiên đấu giá và tên tuổi các danh họa trong đó, một điều thu hút chú ý hơn cả là bức tranh sơn mài khổ lớn của một tác giả với chữ ký đơn giản là “THO”. Đó là tác phẩm Village Market Scene – Cảnh chợ làng và danh tính của người sáng tác ra nó cũng dần được hiển lộ đầy kiêu hãnh đến giới sưu tập: họa sĩ Trần Thọ. Trần Thọ, Village Market Scene (Cảnh chợ làng), sơn mài. Nguồn: Sotheby’s. Xuất thân, bối cảnh sống và học vấn nghệ thuật Họa sĩ Trần Thọ tên đầy đủ là Trần Minh Thọ. Ông sinh ra tại khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn. Năm sinh của ông vẫn là thông tin chưa được xác định rõ: một số nguồn viết ông sinh năm 1922, lại có nơi cho rằng ông sinh năm 1882. Ông là người thân của họa sĩ sơn mài Lê Thy (tên thật là Trần Minh Thi, 1919 - 1961), là một trong những nghệ sĩ sơn mài được kính nể bậc nhất tại miền Nam Việt Nam ngày đó. Thế nhưng, vì chưa rõ năm sinh của Trần Thọ nên khó lòng định được vai vế cụ thể giữa hai người. Họa sĩ Trần Thọ, chụp bởi Giuseppe Baccaro. Nguồn: Ricardo Von Brusky. Họa sĩ Trần Thọ lớn lên trong thời kỳ giao thoa văn hóa Đông - Tây tại Việt Nam đầu thế kỷ XX. là giai đoạn các kỹ nghệ phương Tây ngấm vào tư duy thẩm mỹ bản địa. Mặc dù không có tài liệu nào ghi chép chi tiết về con đường học tập nghệ thuật của ông, nhưng với những gì quan sát được, công chúng có thể cho rằng ông đã từng được đào tạo căn bản, thể hiện qua kỹ thuật hình họa điêu luyện, khả năng bố cục vững vàng trong các tác phẩm sơn mài khổ lớn và tranh lụa. Hơn nữa, với mối liên hệ gia tộc, có lẽ ông còn có thêm sự trao đổi kỹ thuật nền tảng chặt chẽ với họa sĩ Lê Thy trước khi sang Pháp định cư và phát triển sự nghiệp. Phong cách nghệ thuật Hai chất liệu họa sĩ Trần Thọ theo đuổi cũng là hai chất liệu truyền thống của Việt Nam: sơn mài và tranh lụa. Nếu ở tranh lụa, ông sáng tác bằng những nét bút mượt mà, tao nhã, hòa sắc dịu nhẹ để phản ánh những gì tinh tế nhất của thế giới nội tâm… Thì với sơn mài, ông vẽ những bức tranh khổ lớn, đưa vào đó những tạo hình chắc khỏe, thể hiện tư duy làm chủ bố cục cực tốt, khắc họa sống động và khúc chiết nhịp điệu sinh hoạt văn hóa dân gian Việt Nam. Quá trình sáng tác của họa sĩ Trần Thọ cũng hết sức thú vị và càng phản ánh rõ sự dày công, miệt mài của ông với hội họa. Guido Perocco, vị giám tuyển huyền thoại của nước Ý, đã từng giới thiệu về quá trình sáng tác của Trần Thọ giống như một nghi lễ tôn giáo: ông kiên nhẫn chờ đợi tạo đủ 20 lớp sơn mài cần thiết trước khi hoàn thiện lớp cuối cùng; ông đưa vào tranh các chất liệu bản địa và quý hiếm như sắc màu thực vật, san hô, vỏ sò, ngọc cổ, bụi vàng, bạc… như thấy ở các tượng thần. Tranh của họa sĩ Trần Thọ, không rõ tên, sơn mài. Nguồn: Ricardo Von Brusky. Họa sĩ Trần Thọ đã sáng tác trong khí quyển chung của thập niên 1950, giai đoạn giới tinh hoa châu Âu vô cùng say mê thứ nghệ thuật đến từ Đông Dương xa xôi. Bên cạnh các Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Thứ, họa sĩ Trần Thọ đã tạo ra những tác phẩm vừa tràn ngập phong vị phương Đông nhưng cũng đáp ứng được tiêu chuẩn nghệ thuật hàn lâm quốc tế bấy giờ. “Sơn mài và tranh lụa của hai họa sĩ này đứng ở ngã giao giữa truyền thống ngàn năm và cảm quan hiện đại; chính cảm quan ấy, bằng sự thôi thúc của nó, làm cho nét họa và sự mềm mại tinh tế của đường nét mở rộng vào một bầu trời trước đây chưa từng được biết đến, có lẽ chất chứa nhiều cảm xúc hơn và có lẽ cũng kém ngây thơ hơn những gì từng trôi chảy bất động trong dòng truyền thống” – trích lời Giám tuyển Guido Perocco giới thiệu phòng XXXVII, Việt Nam và hai nghệ sĩ Trần Thọ và Lê Thy, từ catalogue của Venice Biennale 27. Hành trình mang chuông đi đánh xứ người Trong thời gian sống ở Pháp, họa sĩ Trần Thọ đã tham gia nhiều triển lãm quốc tế lớn tại châu Âu, trong đó, ông có những triển lãm chung cùng họa sĩ Lê Thy và nhóm nghệ sĩ Việt Nam tại nhiều “thánh đường nghệ thuật” lừng lẫy như Paris, Monte Carlo, Nice, Cannes (Pháp), Lucerne (Thụy Sĩ) và Bỉ. Tuy nhiên, đỉnh cao sự nghiệp của ông trên trường quốc tế là vào năm 1954 tại Venice Biennale – Triển lãm Nghệ thuật Quốc tế Venice lần 27, khi Việt Nam xuất hiện chính thức với tư cách một quốc gia độc lập có gian trưng bày riêng. Ông là một trong hai nghệ sĩ Việt Nam – người còn lại là họa sĩ Lê Thy – được tham gia vào liên hoan nghệ thuật danh giá bậc nhất đó. Ông đã mang đến Venice Biennale 9 tác phẩm bao gồm cả sơn mài và tranh lụa: Thánh lễ (1948). Sơn mài. Mùa xuân (1948). Sơn mài. Tứ nghệ (1950). Sơn mài. Tự họa (1952). Tranh lụa. Thiếu nữ cầm quạt: Chân dung cô Ng-T (1952). Tranh lụa. Giấc mơ (1952). Tranh lụa. Người chăn trâu (1952). Tranh lụa. Hòa nhạc ngoài trời (1953). Sơn mài. Những nữ chiến binh Amazon (1953). Sơn mài. Venice Biennale như bệ phóng đưa tên tuổi họa sĩ Trần Thọ vào hàng ngũ những bậc thầy có sức ảnh hưởng. Tuy song hành cùng Lê Thy tại không gian triển lãm quốc tế nhưng ông vẫn khẳng định được giá trị sáng tạo riêng biệt. Tranh của họa sĩ Trần Thọ, không rõ tên, sơn mài. Nguồn: Ricardo Von Brusky. Những gì ông đem đến liên hoan, dựa trên lời phê bình của giám tuyển Guido Perocco, như một sự giải phóng khỏi “quy tắc ngàn năm”. Trước biennale, nghệ thuật của Trần Thọ là sự tiếp nối dòng chảy truyền thống một cách tĩnh lặng. Sau cọ xát tại biennale, việc tiếp xúc với xu hướng nghệ thuật thế giới đã kích thích "cảm quan hiện đại" trong ông. Trần Thọ dũng cảm đưa vào tranh sơn mài và lụa những "năng lượng chưa từng biết đến của hình thể", những bố cục bứt phá mà Perocco gọi là "nỗi thôi thúc không buông tha trong công cuộc đổi mới tác phẩm". Qua các tác phẩm như Giấc mơ, Những nữ chiến binh Amazon, ông nới lỏng đường nét, tăng sức nặng cảm xúc, từ đó thấy rằng ông đã biến chất liệu cổ thành công cụ biểu đạt tư duy hiện đại, không còn bị bó hẹp trong lối vẽ minh họa hay trang trí thuần túy. Tầm ảnh hưởng và vai trò trong dòng chảy nghệ thuật Trong dòng chảy Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Trần Thọ là một nhánh rẽ đặc sắc, trở thành cầu nối mang kỹ thuật thủ công phương Đông kết hợp với tư duy khúc chiết, giải phẫu và cảm quan không gian phương Tây để tạo ra một ngôn ngữ hội họa lụa và sơn mài vừa hiện đại, vừa đậm đặc căn tính Việt. Tranh của họa sĩ Trần Thọ, không rõ tên, sơn mài. Nguồn: Ricardo Von Brusky. Tác phẩm sơn mài tiêu biểu của ông được sưu tập bởi Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc (hậu duệ đời thứ 5 của vua Minh Mạng), chứng minh vị thế nghệ thuật tinh tế được công nhận bởi giới thượng lưu đương thời. Định giá tác phẩm của ông tại sàn Sotheby's đạt mức rất cao (100,000 – 200,000 EUR giá khởi điểm). Việc "phát hiện" Trần Thọ tại các phiên đấu giá quốc tế thế kỷ XXI như của Sotheby’s giúp hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về đóng góp của các nghệ sĩ miền Nam Việt Nam và nghệ sĩ gốc Việt hải ngoại. Từ những gì thể hiện trên trường nghệ thuật hàn lâm của thế giới, tên tuổi và danh mục tác phẩm của họa sĩ Trần Thọ đã được ghi nhận trong các tài liệu lưu trữ mỹ thuật quốc tế (tư liệu của OPAC SBN Ý). Ông cũng được ghi danh trang trọng trong cuốn catalogue của kỳ Venice Biennale thứ 27, là kỳ biennale có quy mô lớn nhất tính đến thời điểm năm 1954. Đó là một chứng từ lịch sử vô giá, định vị Trần Thọ ở nhóm những nghệ sĩ tiên phong đưa Mỹ thuật Việt Nam ra thế giới. Lời tán dương của Guido Perocco chính là sự bảo chứng tối cao cho chất lượng nghệ thuật của ông. Ông tiếp tục được mời tham gia Venice Biennale lần 28 năm 1956. Hai lần tham gia biennale của Trần Thọ, vượt qua những tiêu chuẩn gắt gao, để sánh vai cùng nghệ sĩ quốc tế càng khẳng định thêm tài năng và vị thế không thể chối cãi của Trần Thọ. Nhưng hành trình của Trần Thọ cùng Lê Thy đến với và gây ấn tượng tại Venice Biennale diễn ra như thế nào? Mời các bạn đón đọc tiếp kỳ sau để tiếp tục khám phá! Bài viết có sử dụng tư liệu trích từ luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Xin cảm ơn tác giả Phạm Thị Điệp Giang đã cho phép trích dẫn tư liệu vào bài viết!
