Trong phiên đấu giá Sotheby’s tại Paris, giữa các tác phẩm của Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Tường Lân, chợt người xem để ý một bức sơn mài khổ lớn, tinh xảo và cao tay đến mức không thể làm ngơ. Không ai rõ tác giả bức tranh, chỉ thấy trên tranh duy một chữ ký đầy bí ẩn: “THO”. Từ đó, một trong những “ẩn số” nghệ thuật lớn nhất của dòng chảy Mỹ thuật Viễn Đông dần được hé lộ…
Tháng 11 năm 2023, tại Paris, nhà đấu giá Sotheby’s đã mở phiên đấu giá bộ sưu tập Magnificence and Regality – Tráng lệ và Vương giả của Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc. Các tác phẩm thuộc bộ sưu tập lần lượt được “gõ búa” với mức giá lên đến hàng triệu USD.
Thế nhưng, ngoài giá trị khủng của phiên đấu giá và tên tuổi các danh họa trong đó, một điều thu hút chú ý hơn cả là bức tranh sơn mài khổ lớn của một tác giả với chữ ký đơn giản là “THO”. Đó là tác phẩm Village Market Scene – Cảnh chợ làng và danh tính của người sáng tác ra nó cũng dần được hiển lộ đầy kiêu hãnh đến giới sưu tập: họa sĩ Trần Thọ.

Trần Thọ, Village Market Scene (Cảnh chợ làng), sơn mài. Nguồn: Sotheby’s.
Xuất thân, bối cảnh sống và học vấn nghệ thuật
Họa sĩ Trần Thọ tên đầy đủ là Trần Minh Thọ. Ông sinh ra tại khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn. Năm sinh của ông vẫn là thông tin chưa được xác định rõ: một số nguồn viết ông sinh năm 1922, lại có nơi cho rằng ông sinh năm 1882. Ông là người thân của họa sĩ sơn mài Lê Thy (tên thật là Trần Minh Thi, 1919 - 1961), là một trong những nghệ sĩ sơn mài được kính nể bậc nhất tại miền Nam Việt Nam ngày đó. Thế nhưng, vì chưa rõ năm sinh của Trần Thọ nên khó lòng định được vai vế cụ thể giữa hai người.

Họa sĩ Trần Thọ, chụp bởi Giuseppe Baccaro. Nguồn: Ricardo Von Brusky.
Họa sĩ Trần Thọ lớn lên trong thời kỳ giao thoa văn hóa Đông - Tây tại Việt Nam đầu thế kỷ XX. là giai đoạn các kỹ nghệ phương Tây ngấm vào tư duy thẩm mỹ bản địa. Mặc dù không có tài liệu nào ghi chép chi tiết về con đường học tập nghệ thuật của ông, nhưng với những gì quan sát được, công chúng có thể cho rằng ông đã từng được đào tạo căn bản, thể hiện qua kỹ thuật hình họa điêu luyện, khả năng bố cục vững vàng trong các tác phẩm sơn mài khổ lớn và tranh lụa. Hơn nữa, với mối liên hệ gia tộc, có lẽ ông còn có thêm sự trao đổi kỹ thuật nền tảng chặt chẽ với họa sĩ Lê Thy trước khi sang Pháp định cư và phát triển sự nghiệp.
Phong cách nghệ thuật
Hai chất liệu họa sĩ Trần Thọ theo đuổi cũng là hai chất liệu truyền thống của Việt Nam: sơn mài và tranh lụa. Nếu ở tranh lụa, ông sáng tác bằng những nét bút mượt mà, tao nhã, hòa sắc dịu nhẹ để phản ánh những gì tinh tế nhất của thế giới nội tâm… Thì với sơn mài, ông vẽ những bức tranh khổ lớn, đưa vào đó những tạo hình chắc khỏe, thể hiện tư duy làm chủ bố cục cực tốt, khắc họa sống động và khúc chiết nhịp điệu sinh hoạt văn hóa dân gian Việt Nam.
Quá trình sáng tác của họa sĩ Trần Thọ cũng hết sức thú vị và càng phản ánh rõ sự dày công, miệt mài của ông với hội họa. Guido Perocco, vị giám tuyển huyền thoại của nước Ý, đã từng giới thiệu về quá trình sáng tác của Trần Thọ giống như một nghi lễ tôn giáo: ông kiên nhẫn chờ đợi tạo đủ 20 lớp sơn mài cần thiết trước khi hoàn thiện lớp cuối cùng; ông đưa vào tranh các chất liệu bản địa và quý hiếm như sắc màu thực vật, san hô, vỏ sò, ngọc cổ, bụi vàng, bạc… như thấy ở các tượng thần.

Tranh của họa sĩ Trần Thọ, không rõ tên, sơn mài. Nguồn: Ricardo Von Brusky.
Họa sĩ Trần Thọ đã sáng tác trong khí quyển chung của thập niên 1950, giai đoạn giới tinh hoa châu Âu vô cùng say mê thứ nghệ thuật đến từ Đông Dương xa xôi. Bên cạnh các Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Thứ, họa sĩ Trần Thọ đã tạo ra những tác phẩm vừa tràn ngập phong vị phương Đông nhưng cũng đáp ứng được tiêu chuẩn nghệ thuật hàn lâm quốc tế bấy giờ.
“Sơn mài và tranh lụa của hai họa sĩ này đứng ở ngã giao giữa truyền thống ngàn năm và cảm quan hiện đại; chính cảm quan ấy, bằng sự thôi thúc của nó, làm cho nét họa và sự mềm mại tinh tế của đường nét mở rộng vào một bầu trời trước đây chưa từng được biết đến, có lẽ chất chứa nhiều cảm xúc hơn và có lẽ cũng kém ngây thơ hơn những gì từng trôi chảy bất động trong dòng truyền thống” – trích lời Giám tuyển Guido Perocco giới thiệu phòng XXXVII, Việt Nam và hai nghệ sĩ Trần Thọ và Lê Thy, từ catalogue của Venice Biennale 27.
Hành trình mang chuông đi đánh xứ người
Trong thời gian sống ở Pháp, họa sĩ Trần Thọ đã tham gia nhiều triển lãm quốc tế lớn tại châu Âu, trong đó, ông có những triển lãm chung cùng họa sĩ Lê Thy và nhóm nghệ sĩ Việt Nam tại nhiều “thánh đường nghệ thuật” lừng lẫy như Paris, Monte Carlo, Nice, Cannes (Pháp), Lucerne (Thụy Sĩ) và Bỉ.
Tuy nhiên, đỉnh cao sự nghiệp của ông trên trường quốc tế là vào năm 1954 tại Venice Biennale – Triển lãm Nghệ thuật Quốc tế Venice lần 27, khi Việt Nam xuất hiện chính thức với tư cách một quốc gia độc lập có gian trưng bày riêng. Ông là một trong hai nghệ sĩ Việt Nam – người còn lại là họa sĩ Lê Thy – được tham gia vào liên hoan nghệ thuật danh giá bậc nhất đó.
Ông đã mang đến Venice Biennale 9 tác phẩm bao gồm cả sơn mài và tranh lụa:
- Thánh lễ (1948). Sơn mài.
- Mùa xuân (1948). Sơn mài.
- Tứ nghệ (1950). Sơn mài.
- Tự họa (1952). Tranh lụa.
- Thiếu nữ cầm quạt: Chân dung cô Ng-T (1952). Tranh lụa.
- Giấc mơ (1952). Tranh lụa.
- Người chăn trâu (1952). Tranh lụa.
- Hòa nhạc ngoài trời (1953). Sơn mài.
- Những nữ chiến binh Amazon (1953). Sơn mài.
Venice Biennale như bệ phóng đưa tên tuổi họa sĩ Trần Thọ vào hàng ngũ những bậc thầy có sức ảnh hưởng. Tuy song hành cùng Lê Thy tại không gian triển lãm quốc tế nhưng ông vẫn khẳng định được giá trị sáng tạo riêng biệt.

Tranh của họa sĩ Trần Thọ, không rõ tên, sơn mài. Nguồn: Ricardo Von Brusky.
Những gì ông đem đến liên hoan, dựa trên lời phê bình của giám tuyển Guido Perocco, như một sự giải phóng khỏi “quy tắc ngàn năm”. Trước biennale, nghệ thuật của Trần Thọ là sự tiếp nối dòng chảy truyền thống một cách tĩnh lặng. Sau cọ xát tại biennale, việc tiếp xúc với xu hướng nghệ thuật thế giới đã kích thích "cảm quan hiện đại" trong ông. Trần Thọ dũng cảm đưa vào tranh sơn mài và lụa những "năng lượng chưa từng biết đến của hình thể", những bố cục bứt phá mà Perocco gọi là "nỗi thôi thúc không buông tha trong công cuộc đổi mới tác phẩm". Qua các tác phẩm như Giấc mơ, Những nữ chiến binh Amazon, ông nới lỏng đường nét, tăng sức nặng cảm xúc, từ đó thấy rằng ông đã biến chất liệu cổ thành công cụ biểu đạt tư duy hiện đại, không còn bị bó hẹp trong lối vẽ minh họa hay trang trí thuần túy.
Tầm ảnh hưởng và vai trò trong dòng chảy nghệ thuật
Trong dòng chảy Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Trần Thọ là một nhánh rẽ đặc sắc, trở thành cầu nối mang kỹ thuật thủ công phương Đông kết hợp với tư duy khúc chiết, giải phẫu và cảm quan không gian phương Tây để tạo ra một ngôn ngữ hội họa lụa và sơn mài vừa hiện đại, vừa đậm đặc căn tính Việt.

Tranh của họa sĩ Trần Thọ, không rõ tên, sơn mài. Nguồn: Ricardo Von Brusky.
Tác phẩm sơn mài tiêu biểu của ông được sưu tập bởi Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc (hậu duệ đời thứ 5 của vua Minh Mạng), chứng minh vị thế nghệ thuật tinh tế được công nhận bởi giới thượng lưu đương thời. Định giá tác phẩm của ông tại sàn Sotheby's đạt mức rất cao (100,000 – 200,000 EUR giá khởi điểm). Việc "phát hiện" Trần Thọ tại các phiên đấu giá quốc tế thế kỷ XXI như của Sotheby’s giúp hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về đóng góp của các nghệ sĩ miền Nam Việt Nam và nghệ sĩ gốc Việt hải ngoại.
Từ những gì thể hiện trên trường nghệ thuật hàn lâm của thế giới, tên tuổi và danh mục tác phẩm của họa sĩ Trần Thọ đã được ghi nhận trong các tài liệu lưu trữ mỹ thuật quốc tế (tư liệu của OPAC SBN Ý). Ông cũng được ghi danh trang trọng trong cuốn catalogue của kỳ Venice Biennale thứ 27, là kỳ biennale có quy mô lớn nhất tính đến thời điểm năm 1954. Đó là một chứng từ lịch sử vô giá, định vị Trần Thọ ở nhóm những nghệ sĩ tiên phong đưa Mỹ thuật Việt Nam ra thế giới. Lời tán dương của Guido Perocco chính là sự bảo chứng tối cao cho chất lượng nghệ thuật của ông. Ông tiếp tục được mời tham gia Venice Biennale lần 28 năm 1956. Hai lần tham gia biennale của Trần Thọ, vượt qua những tiêu chuẩn gắt gao, để sánh vai cùng nghệ sĩ quốc tế càng khẳng định thêm tài năng và vị thế không thể chối cãi của Trần Thọ.
Nhưng hành trình của Trần Thọ cùng Lê Thy đến với và gây ấn tượng tại Venice Biennale diễn ra như thế nào? Mời các bạn đón đọc tiếp kỳ sau để tiếp tục khám phá!
Bài viết có sử dụng tư liệu trích từ luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Xin cảm ơn tác giả Phạm Thị Điệp Giang đã cho phép trích dẫn tư liệu vào bài viết!
