Nhắc đến Thang Trần Phềnh trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại, người ta thường nhớ đến ông như một trong những họa sĩ mang tư duy mở đường, xuất hiện rất sớm, trước cả khi hệ đào tạo chính quy được thiết lập. Nhưng để hiểu tương đối đầy đủ về ông, cần trở lại với những nghiên cứu đời sau và cùng quay ngược về An Nam của một thời cũ, nơi bối cảnh xã hội và mỹ thuật đã âm thầm định hình nên cá tính nghệ sĩ của ông.

Họa sĩ Thang Trần Phềnh ngoài tuổi 70. Nguồn: Art Times.
Cả Ta cả Trung, vệt màu đầu
Trước năm 1858, khi Việt Nam chưa trở thành thuộc địa của Pháp, đời sống xã hội vận hành trong hệ tư tưởng phong kiến và mỹ thuật gắn chặt với trật tự ấy. Qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, ảnh hưởng từ mỹ thuật Trung Hoa thấm sâu vào nhiều phương diện tạo hình, từ bố cục, bút pháp cho đến quan niệm thẩm mỹ. Tuy nhiên, như các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Định chỉ ra, sự tiếp nhận này không mang tính sao chép đơn thuần.
Trong không gian đình làng, chùa chiền, tranh dân gian hay sân khấu Tuồng, mỹ thuật Việt Nam dần hình thành những sắc thái riêng, mộc mạc và gần với sinh hoạt cộng đồng. Nghệ thuật thời kỳ này chủ yếu phục vụ lễ nghi, giáo hóa và biểu tượng; ngôn ngữ tạo hình mang tính ước lệ, đặt trọng tâm vào ý tứ hơn là mô tả chi li. Không gian vì thế được tổ chức linh hoạt, đủ để dẫn dắt cảm xúc và trí tưởng tượng, tạo nên một cảm quan thẩm mỹ bản địa bền bỉ qua nhiều thế hệ.

Tác phẩm Bãi giữa Sông Hồng, tranh màu nước, 25cm x 35cm (1919). Nguồn: Thể thao Văn hóa.
Khi người Pháp đặt chân tới, xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn giao thời đầy chênh vênh. Hệ mỹ thuật phong kiến chưa tan rã, trong khi mỹ thuật phương Tây chưa có hệ thống đào tạo chính thức. Khoảng trống ấy mở ra cơ hội cho những cá nhân tự học và tự thực hành. Thang Trần Phềnh sinh năm 1895 trong bối cảnh đó, với tuổi thơ gắn liền mực Tàu, bột khoáng, đình chùa và phố phường An Nam.
Theo ghi chép từ tài liệu Tl.35/hđ của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, năm 1911, khi mới mười lăm tuổi, bức tranh màu nước Chùa Trấn Quốc trong buổi hoàng hôn của ông đã lọt vào mắt xanh nhà sưu tập người Pháp Georges Bois tại buổi đấu xảo Hà Nội. Sự quý mến ấy mở ra những đơn đặt hàng đầu tiên, rồi tiếng vẽ tranh đẹp lan dần. Khách mua tranh phần lớn là người Pháp, người Đức làm việc tại Sở dầu Cầu Đất, hiệu Ogliastro hay một số nhà binh Pháp, giúp ông vừa mưu sinh vừa khẳng định vị trí của một người vẽ bản địa trong đời sống đô thị Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX.
Một bước ngoặt khác đến vào năm 1912, khi Thang Trần Phềnh được xem đoàn nghệ sĩ Trung Quốc sang diễn tân kịch tại Quảng Đông hội quán, phố Hàng Buồm. Những bức họa trang trí sân khấu đã khơi dậy trong ông khao khát được vẽ phông cảnh. Trong hồi ký, ông kể lại quá trình mày mò tìm thầy, mượn tranh, mua sơn, ghép vải để vẽ những bức phông lớn với đường làng, nhà lá và viễn cảnh xa gần. Bức phông phong cảnh ấy được rạp Sán Nhiên Đài mượn treo năm 1914, đánh dấu lần đầu ông chính thức bén duyên với công việc vẽ phông sân khấu, song song với việc ký họa tại Sở Lục Lộ (tương tự như Sở Giao thông ngày nay).
Cũng từ những năm này, theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Định, Thang Trần Phềnh tham gia các triển lãm nghệ thuật An Nam của Hội Ái hữu Mỹ thuật, mang tranh mực Tàu dự triển lãm Nghệ thuật An Nam lần thứ V năm 1914. Lối thủy họa của ông nhanh chóng tạo dấu ấn trong đời sống mỹ thuật Bắc Kỳ.

Tác phẩm Phạm Ngũ Lão (1923). Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Trong nhiều tư liệu, ông xuất hiện với các tên gọi khác nhau như Trần Văn Bình, tự Đạt Siêu hay Pheng. Đến năm 1967, trong hồi ký, ông giải thích tên mình là sự kết hợp của nhiều lớp văn hóa: “Thang” là họ cha người lai Hoa, “Trần” là họ Thánh gắn với tín ngưỡng gia đình, “Phềnh” mang yếu tố Trung Hoa. Ông gọi đó là “cả Ta cả Trung”. Dù mang gốc Hoa - Việt, môi trường sống và đời sống tinh thần quanh ông lại rất Việt, tạo nên một cảm quan thẩm mỹ gần gũi với xã hội bản địa.
Cách lý giải cái tên không chỉ là chuyện cá nhân mà phản ánh một nền tảng văn hóa đã thấm sâu và bền bỉ. Thang Trần Phềnh trưởng thành như một nghệ sĩ bản địa đúng nghĩa, hình thành từ truyền thống trước khi tiếp xúc với hệ mỹ thuật phương Tây. Việc ông đến với hội họa bằng con đường tự học và lao động nghề nghiệp cho thấy một tư duy tạo hình đã chín muồi từ bối cảnh xã hội - mỹ thuật cũ, chưa qua đào tạo hàn lâm mà Pháp mang đến sau này khi Trường Mỹ thuật Đông Dương hình thành vào năm 1925.
Cuộc sống trong ý tứ của cọ
Trong những năm 1910 - 1920, Thang Trần Phềnh đã là cái tên quen thuộc trong giới vẽ, như nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Định tìm hiểu. Tại cuộc Đấu xảo Nghệ thuật An Nam năm 1923, nhà văn Vũ Đình Long từng nhận xét rằng tài vẽ của ông là điều không cần ca tụng thêm, bởi suốt nhiều năm liền, ông liên tục đoạt giải cao ở hạng mục thủy họa. Sự công nhận ấy cho thấy vị thế của ông trong đời sống mỹ thuật đương thời.
Không dừng lại ở màu nước, theo tư liệu từ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Thang Trần Phềnh sớm thử sức với sơn dầu dù điều kiện còn hạn chế. Chính quá trình tự học và thực hành vẽ phông cảnh giúp ông hình thành lối tổ chức không gian “tứ cố”, cho phép quan sát từ nhiều hướng nhìn. Những bức phông như chùa Cầu Đông, được vẽ tại chỗ với bố cục rõ ràng và chiều sâu hợp lý, tạo cảm giác không gian sống, khiến nền cảnh như chuyển động cùng diễn biến trên sân khấu. Sự “như thực” ấy khiến ông liên tục được mời cộng tác với các nhà hát lớn ở Hà Nội, Hải Phòng như Nhà hát Lớn, Metropole, Cinéma Tonkinois hay rạp Palace, cho thấy thực hành hội họa của ông gắn chặt với đời sống đô thị và sân khấu đương thời.

Một trong số minh họa Truyện Kiều trên bản in của Les Pages Indochinoises. Nguồn: Tuấn Nguyenanh.
Song song với các đơn đặt hàng, Thang Trần Phềnh vẫn đều đặn tham gia các cuộc đấu xảo và triển lãm. Tại cuộc Đấu xảo năm 1923, hai bức sơn dầu vẽ về Trưng Nữ Vương và Trần Hưng Đạo của ông gây nhiều tranh cãi. Người ta chê trang phục và hình dáng chưa chuẩn, nhưng học giả Phạm Quỳnh khi ấy đã nhìn nhận điều quan trọng hơn nằm ở ý thức kết cấu và tinh thần dân tộc. Việc chọn đề tài lịch sử cùng khả năng bố cục đám đông của Thang Trần Phềnh được xem là một nỗ lực đáng trân trọng, có sức tác động mạnh đến công chúng.
Ngoài tranh triển lãm, ông còn là họa sĩ minh họa sách báo. Theo nghiên cứu của tài khoản Nguyen Balan năm 2018, ông từng minh họa cho La Lecture Française Expliquée xuất bản năm 1932, và vẽ minh họa Truyện Kiều cho René Crayssac. Dù tên ký có sai khác, nghiên cứu của họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn khẳng định phong cách và chữ ký đều mang dấu ấn đặc trưng của ông.
Khi Trường Mỹ thuật Đông Dương đi vào hoạt động, cả Thang Trần Phềnh và họa công Ngô Đăng Đĩnh đều dự thi khóa đầu nhưng không trúng tuyển. Ông tiếp tục tự rèn luyện và đến năm 1926 trở thành sinh viên khóa II, học cùng Tô Ngọc Vân, Vũ Cao Đàm. Giai đoạn 1931–1933, nhiều tác phẩm của ông được gửi sang Pháp và Italy tham gia các triển lãm thuộc địa tại Paris và Rome.

Một trong những minh họa cho La Lecture Française Expliquée xuất bản năm 1932. Nguồn: Nguyen Balan.
Theo thống kê của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, các tác phẩm như Chơi bài Tam Cúc, Xem bói, Thiếu nữ dệt vải, Xuống ngựa hay Lý trưởng hỏi thăm đường được xem là những tranh lụa tiêu biểu của giai đoạn đầu mỹ thuật Đông Dương. Ở đó, kỹ thuật phương Tây được tiết chế để hòa vào nhịp sống và tinh thần văn hóa Việt Nam, phản ánh cái nhìn giản dị, khiêm nhường của ông về con người.
Sau khi tốt nghiệp năm 1931, Thang Trần Phềnh dần chuyên tâm cho nghệ thuật sân khấu, tổ chức gánh hát và lập “Ban hát mỹ thuật Đồng Ấu” lưu diễn đến năm 1943. Cuối năm 1946, ông tham gia kháng chiến, làm việc tại Sở Thông tin Tuyên truyền Liên khu 10. Sau năm 1954, ông trở về Hà Nội, cộng tác với rạp hát Chuông Vàng (Kim Phụng) đến năm 1963. Dù hoàn cảnh đổi thay, ông chưa bao giờ rời bỏ hội họa và sân khấu.
Một đời cống hiến bền bỉ và được nể trọng, Thang Trần Phềnh rốt cuộc vẫn gắn bó sâu sắc với sân khấu. Chính từ lựa chọn ấy, ông được xem là người đặt nền móng cho mỹ thuật sân khấu hiện đại Việt Nam, câu chuyện sẽ được tiếp tục ở Kỳ 2. (Còn tiếp)
Related articles
Thang Trần Phềnh – Duyên cọ cầm tay, vẽ phông nên nghiệp (Kỳ 2)
Được nhắc đến như một trong những “Ông Trời mỹ thuật” của thế hệ đầu, nhưng con đường Thang Trần Phềnh lựa chọn lại không nằm ở tranh giá vẽ hay giảng đường hàn lâm. Ông gắn bó trọn đời với sân khấu, với công việc vẽ phông, dựng cảnh, làm màn cho kịch hát. Từ ảnh hưởng của Tuồng, cách ông bước vào hội họa rồi chủ động rẽ sang kịch nghệ, một lựa chọn tưởng như bên lề ấy rốt cuộc trở thành nơi ông để lại dấu ấn sâu đậm nhất. Một trong những tác phẩm được lưu trữ lại. Nguồn: Saigoneer. Kịch nghệ muôn màu Niềm say mê sân khấu Tuồng với Thang Trần Phềnh không phải là một sự tình cờ. Từ khi còn là một cậu thanh niên hiếu kỳ, những sắc màu rực rỡ, cách hóa trang, tính ước lệ và nhịp điệu đặc thù của sân khấu đã sớm in sâu vào cảm quan thẩm mỹ của ông, trước cả khi ông được tiếp cận với kỹ thuật vẽ phương Tây một cách bài bản. Với Thang Trần Phềnh, mỹ thuật không tồn tại như một đối tượng tách rời để chiêm ngưỡng, mà là một thành tố sống trong đời sống văn hóa. Cách nhìn này chi phối toàn bộ lựa chọn nghệ thuật của ông về sau, đặc biệt là quyết định gắn bó lâu dài với sân khấu. Dù tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông không chọn hướng trở thành một họa sĩ sáng tác hay giảng dạy mỹ thuật như bao người, mà dồn phần lớn tâm lực cho sân khấu. Với ông, sân khấu là một không gian nghệ thuật tổng hòa, nơi hình ảnh, âm nhạc, chuyển động và cảm xúc cộng hưởng để tạo nên trải nghiệm chung cho cộng đồng. Tư liệu của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cho thấy vai trò của Thang Trần Phềnh trong sân khấu không chỉ dừng ở việc vẽ phông. Ông còn tham gia dịch nhạc kịch, dạy múa, dạy đàn và thiết kế phục trang. Sự tận hiến đa năng ấy phản ánh một tư duy liên ngành hiếm có, nơi hội họa không bị giới hạn trong khung tranh, mà hòa tan vào đời sống trình diễn như một phương thức tư duy kiên định. Lựa chọn lặng lẽ ấy phần nào lý giải nhận xét của Phan Cẩm Thượng khi gọi ông là “người ai cũng biết nhưng ít ai biết nhất”. Tác phẩm Trang phục Quan văn quan võ, tranh màu nước, 20 cm x 30 cm. Nguồn: Thể thao Văn hóa. Thang Trần Phềnh chấp nhận đứng sau ánh đèn sân khấu tại các rạp như Sán Nhiên Đài, Quảng Lạc, để dựng nên không gian cho kịch nghệ thăng hoa, thay vì đứng ở vị trí trung tâm của sự ghi nhận cá nhân. Cũng theo nhà nghiên cứu Đoàn Thị Tình, tập Ký họa sân khấu (1947 - 1954) hiện lưu giữ tại Viện Sân khấu - Điện ảnh là minh chứng cho thấy hội họa chưa từng rời bỏ ông. Trong những năm tháng kháng chiến, ông vẫn quan sát, ghi chép và suy tư về sân khấu bằng đôi mắt của một họa sĩ. Hội họa không mất đi, nó chỉ hòa tan vào sân khấu, tạo nên một Thang Trần Phềnh rõ nét nhất với nghệ thuật. Theo tài liệu ghi chép, mãi sau ba, bốn mươi năm, ông vẫn nhớ rõ từng rạp như Sán Nhiên Đài, Quảng Lạc, Năm Chăn, Thông Sáng, cùng tên các nghệ sĩ và cả những em nhỏ trong Ban hát Mỹ thuật Đồng Ấu Trần Phềnh. Vậy là, hiểu ra được sự nặng tình của ông đối với sự hình thành của các rạp hát Hà Nội đầu thế kỷ XX. Trong một xã hội giao thời, khi Tuồng là nơi bảo lưu đạo lý dân tộc, ông chọn sân khấu làm "xưởng họa" để hiện thực hóa tham vọng đưa cái đẹp vào đời sống. Từ năm 1916, ông đã hiện diện tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hải Phòng, khách sạn Metropole cùng nhiều rạp chiếu bóng lớn như Cinéma Tonkinois qua những bức phông "tứ cố" sống động. Ông không chỉ tạo cái đẹp cho cảnh, mà còn đồng kiến tạo nên diện mạo văn hóa cho cả một thời đại. Lấy cái ta làm trọng Trong thực hành nghệ thuật của mình, Thang Trần Phềnh luôn đặt văn hóa bản địa làm trung tâm sáng tạo. Việc ông vẽ tích sử hay khai thác các yếu tố văn hóa truyền thống không nhằm minh họa lịch sử một cách trực tiếp, mà để xây dựng một ngôn ngữ tạo hình xuất phát từ tinh thần Việt. Đây là một lựa chọn mang tính nguyên tắc, đặt nền cho con đường phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Hai bức tranh sơn dầu được đánh giá cao tại cuộc Đấu xảo năm 1923 là một minh chứng rõ nét cho tinh thần ấy. Thay vì ca ngợi chiến công bằng sự tráng lệ, Thang Trần Phềnh chọn những khoảnh khắc đời thường: cảnh dân làng đón Hai Bà Trưng, hay hình ảnh Phạm Ngũ Lão lặng lẽ đan rổ bên đường. Qua đó, tinh thần gắn bó giữa dân và quân, cùng ý thức tự tôn dân tộc, được thể hiện một cách kín đáo nhưng sâu sắc. Tác phẩm Chơi bài (1931 - 1932). Nguồn: Báo Người lao động. “Lấy cái ta làm trọng” với Thang Trần Phềnh không phải là khẩu hiệu, mà là một nguyên tắc tổ chức hình ảnh và không gian. Tư duy này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ sân khấu truyền thống, nơi tính ước lệ, biểu tượng và cộng đồng luôn song hành. Hội họa, trong cách nhìn ấy, không tách khỏi đời sống, mà phản ánh và bồi đắp đời sống tinh thần chung. Tư duy này có thể được nhận ra trong sáng tác của Nguyễn Tư Nghiêm sau này. Nguyễn Tư Nghiêm cũng khai thác các nhân vật lịch sử và huyền thoại như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Kiều Nguyệt Nga hay hệ thống 12 con giáp dân gian. Dù được đào tạo theo mô hình hàn lâm phương Tây, ông vẫn sử dụng hội họa như một phương tiện để diễn đạt thế giới tinh thần Việt Nam. Giữa Thang Trần Phềnh và Nguyễn Tư Nghiêm tồn tại một sự tương đồng căn bản về tư duy, dù khác biệt về hình thức thể hiện. Nếu Thang Trần Phềnh đưa mỹ thuật hòa vào sân khấu và đời sống trình diễn, thì Nguyễn Tư Nghiêm đưa tinh thần ấy vào không gian tranh giá vẽ. Có thể xem Thang Trần Phềnh là người mở đường về tư duy, còn Nguyễn Tư Nghiêm là người phát triển con đường đó bằng ngôn ngữ hội họa thuần túy, đặc biệt là sơn mài. Cùng chia sẻ niềm đam mê với sân khấu kịch hát truyền thống phương Đông, Thang Trần Phềnh và Bùi Suối Hoa, dù thuộc hai thế hệ và loại hình khác nhau, vẫn gặp nhau ở một điểm chung: cái ám ảnh dai dẳng về câu hát, điệu múa và màu sắc. Sự khác biệt của Tân kịch và Chèo không làm lu mờ điểm chung cốt lõi của họ. Cả hai đều nhìn nghệ thuật như một dòng chảy văn hóa liên tục, nơi cá nhân không tách rời cộng đồng. Chính tinh thần ấy tạo nên chiều sâu cho sáng tác và cho cách họ tồn tại trong lịch sử mỹ thuật, tự tạo lối riêng cho mình. Ngày nay, các tác phẩm còn lại của Thang Trần Phềnh khá khan hiếm và thất lạc nhiều. Nhờ những công trình nghiên cứu từ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, nhà nghiên cứu Ngô Kim Khôi, cùng nhà sưu tập Lê Quang Tuyến, vị trí và di sản của ông dần được làm rõ hơn. Những đánh giá này cho thấy ảnh hưởng của Thang Trần Phềnh không nằm ở số lượng tác phẩm còn lại, mà ở tư duy nghệ thuật và con đường ông đã khai mở. Sẽ không là nói quá, khi dành thời gian nhìn lại hành trình của Thang Trần Phềnh, người xem có thể hiểu vì sao cố danh họa Tô Ngọc Vân từng trân trọng gọi ông là “Ông Trời của hội họa”, bởi “ông là họa sĩ mà trước kia chúng tôi rất phục tài, coi như cái đích tuyệt cao khó tới”. Một tác phẩm tranh màu nước của họa sĩ Thang Trần Phềnh sáng tác trong thời kỳ đi tản cư (1948). Nguồn: Công an Nhân dân. Di sản ông để lại không chỉ dừng ở giá trị vật chất của những bức tranh, mà sâu xa hơn là tinh thần “căn cốt chất Việt” mà mỹ thuật hôm nay vẫn cần ghi nhớ và học hỏi, để hội họa Việt Nam giữ được tinh thần “lấy ta làm trọng”, luôn mang theo căn nguyên dân tộc khi đối thoại với thế giới. Chắc hẳn ở Việt Nam, sẽ còn có nhiều cái tên đã từng được công nhận, nhưng lại phai dần theo thời gian. Mong sao sau này, sẽ có nhiều nghiên cứu và những bức tranh trở lại, để trả lại cái ân tình, mà những họa sĩ đất Việt, đã rất cống hiến, tận tụy cho nước nhà, một sự công nhận ai cũng xứng đáng được có. Đôi lời kết Từ hội họa, Thang Trần Phềnh đi vào sân khấu; từ sân khấu, ông đặt lại câu hỏi về vai trò của nghệ thuật trong cộng đồng. Nhờ đó, ông góp phần định hình một cách hiểu mỹ thuật gắn liền với đời sống, nghi lễ và lịch sử dân tộc. Tinh thần “lấy cái của ta làm trọng” mà ông kiên định theo đuổi đã mở đường cho những nghệ sĩ như Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Suối Hoa và nhiều thế hệ sau, trong hành trình đối thoại Đông - Tây mà không đánh mất gốc rễ văn hóa. Thang Trần Phềnh không chỉ là một họa sĩ hay một nghệ sĩ sân khấu, mà là một lựa chọn sống. Ông chọn đứng trong đời sống nghệ thuật, hòa mình vào sân khấu và văn hóa bản địa, thay vì đứng tách ra như một cá nhân sáng tác thuần túy. Chính lựa chọn ấy định hình toàn bộ con đường và vị thế của ông trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.
Thang Trần Phềnh – Duyên cọ cầm tay, vẽ phông nên nghiệp (Kỳ 1)
Nhắc đến Thang Trần Phềnh trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại, người ta thường nhớ đến ông như một trong những họa sĩ mang tư duy mở đường, xuất hiện rất sớm, trước cả khi hệ đào tạo chính quy được thiết lập. Nhưng để hiểu tương đối đầy đủ về ông, cần trở lại với những nghiên cứu đời sau và cùng quay ngược về An Nam của một thời cũ, nơi bối cảnh xã hội và mỹ thuật đã âm thầm định hình nên cá tính nghệ sĩ của ông. Họa sĩ Thang Trần Phềnh ngoài tuổi 70. Nguồn: Art Times. Cả Ta cả Trung, vệt màu đầu Trước năm 1858, khi Việt Nam chưa trở thành thuộc địa của Pháp, đời sống xã hội vận hành trong hệ tư tưởng phong kiến và mỹ thuật gắn chặt với trật tự ấy. Qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, ảnh hưởng từ mỹ thuật Trung Hoa thấm sâu vào nhiều phương diện tạo hình, từ bố cục, bút pháp cho đến quan niệm thẩm mỹ. Tuy nhiên, như các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Định chỉ ra, sự tiếp nhận này không mang tính sao chép đơn thuần. Trong không gian đình làng, chùa chiền, tranh dân gian hay sân khấu Tuồng, mỹ thuật Việt Nam dần hình thành những sắc thái riêng, mộc mạc và gần với sinh hoạt cộng đồng. Nghệ thuật thời kỳ này chủ yếu phục vụ lễ nghi, giáo hóa và biểu tượng; ngôn ngữ tạo hình mang tính ước lệ, đặt trọng tâm vào ý tứ hơn là mô tả chi li. Không gian vì thế được tổ chức linh hoạt, đủ để dẫn dắt cảm xúc và trí tưởng tượng, tạo nên một cảm quan thẩm mỹ bản địa bền bỉ qua nhiều thế hệ. Tác phẩm Bãi giữa Sông Hồng, tranh màu nước, 25cm x 35cm (1919). Nguồn: Thể thao Văn hóa. Khi người Pháp đặt chân tới, xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn giao thời đầy chênh vênh. Hệ mỹ thuật phong kiến chưa tan rã, trong khi mỹ thuật phương Tây chưa có hệ thống đào tạo chính thức. Khoảng trống ấy mở ra cơ hội cho những cá nhân tự học và tự thực hành. Thang Trần Phềnh sinh năm 1895 trong bối cảnh đó, với tuổi thơ gắn liền mực Tàu, bột khoáng, đình chùa và phố phường An Nam. Theo ghi chép từ tài liệu Tl.35/hđ của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, năm 1911, khi mới mười lăm tuổi, bức tranh màu nước Chùa Trấn Quốc trong buổi hoàng hôn của ông đã lọt vào mắt xanh nhà sưu tập người Pháp Georges Bois tại buổi đấu xảo Hà Nội. Sự quý mến ấy mở ra những đơn đặt hàng đầu tiên, rồi tiếng vẽ tranh đẹp lan dần. Khách mua tranh phần lớn là người Pháp, người Đức làm việc tại Sở dầu Cầu Đất, hiệu Ogliastro hay một số nhà binh Pháp, giúp ông vừa mưu sinh vừa khẳng định vị trí của một người vẽ bản địa trong đời sống đô thị Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX. Một bước ngoặt khác đến vào năm 1912, khi Thang Trần Phềnh được xem đoàn nghệ sĩ Trung Quốc sang diễn tân kịch tại Quảng Đông hội quán, phố Hàng Buồm. Những bức họa trang trí sân khấu đã khơi dậy trong ông khao khát được vẽ phông cảnh. Trong hồi ký, ông kể lại quá trình mày mò tìm thầy, mượn tranh, mua sơn, ghép vải để vẽ những bức phông lớn với đường làng, nhà lá và viễn cảnh xa gần. Bức phông phong cảnh ấy được rạp Sán Nhiên Đài mượn treo năm 1914, đánh dấu lần đầu ông chính thức bén duyên với công việc vẽ phông sân khấu, song song với việc ký họa tại Sở Lục Lộ (tương tự như Sở Giao thông ngày nay). Cũng từ những năm này, theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Định, Thang Trần Phềnh tham gia các triển lãm nghệ thuật An Nam của Hội Ái hữu Mỹ thuật, mang tranh mực Tàu dự triển lãm Nghệ thuật An Nam lần thứ V năm 1914. Lối thủy họa của ông nhanh chóng tạo dấu ấn trong đời sống mỹ thuật Bắc Kỳ. Tác phẩm Phạm Ngũ Lão (1923). Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Trong nhiều tư liệu, ông xuất hiện với các tên gọi khác nhau như Trần Văn Bình, tự Đạt Siêu hay Pheng. Đến năm 1967, trong hồi ký, ông giải thích tên mình là sự kết hợp của nhiều lớp văn hóa: “Thang” là họ cha người lai Hoa, “Trần” là họ Thánh gắn với tín ngưỡng gia đình, “Phềnh” mang yếu tố Trung Hoa. Ông gọi đó là “cả Ta cả Trung”. Dù mang gốc Hoa - Việt, môi trường sống và đời sống tinh thần quanh ông lại rất Việt, tạo nên một cảm quan thẩm mỹ gần gũi với xã hội bản địa. Cách lý giải cái tên không chỉ là chuyện cá nhân mà phản ánh một nền tảng văn hóa đã thấm sâu và bền bỉ. Thang Trần Phềnh trưởng thành như một nghệ sĩ bản địa đúng nghĩa, hình thành từ truyền thống trước khi tiếp xúc với hệ mỹ thuật phương Tây. Việc ông đến với hội họa bằng con đường tự học và lao động nghề nghiệp cho thấy một tư duy tạo hình đã chín muồi từ bối cảnh xã hội - mỹ thuật cũ, chưa qua đào tạo hàn lâm mà Pháp mang đến sau này khi Trường Mỹ thuật Đông Dương hình thành vào năm 1925. Cuộc sống trong ý tứ của cọ Trong những năm 1910 - 1920, Thang Trần Phềnh đã là cái tên quen thuộc trong giới vẽ, như nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Định tìm hiểu. Tại cuộc Đấu xảo Nghệ thuật An Nam năm 1923, nhà văn Vũ Đình Long từng nhận xét rằng tài vẽ của ông là điều không cần ca tụng thêm, bởi suốt nhiều năm liền, ông liên tục đoạt giải cao ở hạng mục thủy họa. Sự công nhận ấy cho thấy vị thế của ông trong đời sống mỹ thuật đương thời. Không dừng lại ở màu nước, theo tư liệu từ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Thang Trần Phềnh sớm thử sức với sơn dầu dù điều kiện còn hạn chế. Chính quá trình tự học và thực hành vẽ phông cảnh giúp ông hình thành lối tổ chức không gian “tứ cố”, cho phép quan sát từ nhiều hướng nhìn. Những bức phông như chùa Cầu Đông, được vẽ tại chỗ với bố cục rõ ràng và chiều sâu hợp lý, tạo cảm giác không gian sống, khiến nền cảnh như chuyển động cùng diễn biến trên sân khấu. Sự “như thực” ấy khiến ông liên tục được mời cộng tác với các nhà hát lớn ở Hà Nội, Hải Phòng như Nhà hát Lớn, Metropole, Cinéma Tonkinois hay rạp Palace, cho thấy thực hành hội họa của ông gắn chặt với đời sống đô thị và sân khấu đương thời. Một trong số minh họa Truyện Kiều trên bản in của Les Pages Indochinoises. Nguồn: Tuấn Nguyenanh. Song song với các đơn đặt hàng, Thang Trần Phềnh vẫn đều đặn tham gia các cuộc đấu xảo và triển lãm. Tại cuộc Đấu xảo năm 1923, hai bức sơn dầu vẽ về Trưng Nữ Vương và Trần Hưng Đạo của ông gây nhiều tranh cãi. Người ta chê trang phục và hình dáng chưa chuẩn, nhưng học giả Phạm Quỳnh khi ấy đã nhìn nhận điều quan trọng hơn nằm ở ý thức kết cấu và tinh thần dân tộc. Việc chọn đề tài lịch sử cùng khả năng bố cục đám đông của Thang Trần Phềnh được xem là một nỗ lực đáng trân trọng, có sức tác động mạnh đến công chúng. Ngoài tranh triển lãm, ông còn là họa sĩ minh họa sách báo. Theo nghiên cứu của tài khoản Nguyen Balan năm 2018, ông từng minh họa cho La Lecture Française Expliquée xuất bản năm 1932, và vẽ minh họa Truyện Kiều cho René Crayssac. Dù tên ký có sai khác, nghiên cứu của họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn khẳng định phong cách và chữ ký đều mang dấu ấn đặc trưng của ông. Khi Trường Mỹ thuật Đông Dương đi vào hoạt động, cả Thang Trần Phềnh và họa công Ngô Đăng Đĩnh đều dự thi khóa đầu nhưng không trúng tuyển. Ông tiếp tục tự rèn luyện và đến năm 1926 trở thành sinh viên khóa II, học cùng Tô Ngọc Vân, Vũ Cao Đàm. Giai đoạn 1931–1933, nhiều tác phẩm của ông được gửi sang Pháp và Italy tham gia các triển lãm thuộc địa tại Paris và Rome. Một trong những minh họa cho La Lecture Française Expliquée xuất bản năm 1932. Nguồn: Nguyen Balan. Theo thống kê của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, các tác phẩm như Chơi bài Tam Cúc, Xem bói, Thiếu nữ dệt vải, Xuống ngựa hay Lý trưởng hỏi thăm đường được xem là những tranh lụa tiêu biểu của giai đoạn đầu mỹ thuật Đông Dương. Ở đó, kỹ thuật phương Tây được tiết chế để hòa vào nhịp sống và tinh thần văn hóa Việt Nam, phản ánh cái nhìn giản dị, khiêm nhường của ông về con người. Sau khi tốt nghiệp năm 1931, Thang Trần Phềnh dần chuyên tâm cho nghệ thuật sân khấu, tổ chức gánh hát và lập “Ban hát mỹ thuật Đồng Ấu” lưu diễn đến năm 1943. Cuối năm 1946, ông tham gia kháng chiến, làm việc tại Sở Thông tin Tuyên truyền Liên khu 10. Sau năm 1954, ông trở về Hà Nội, cộng tác với rạp hát Chuông Vàng (Kim Phụng) đến năm 1963. Dù hoàn cảnh đổi thay, ông chưa bao giờ rời bỏ hội họa và sân khấu. Một đời cống hiến bền bỉ và được nể trọng, Thang Trần Phềnh rốt cuộc vẫn gắn bó sâu sắc với sân khấu. Chính từ lựa chọn ấy, ông được xem là người đặt nền móng cho mỹ thuật sân khấu hiện đại Việt Nam, câu chuyện sẽ được tiếp tục ở Kỳ 2. (Còn tiếp)
