Được nhắc đến như một trong những “Ông Trời mỹ thuật” của thế hệ đầu, nhưng con đường Thang Trần Phềnh lựa chọn lại không nằm ở tranh giá vẽ hay giảng đường hàn lâm. Ông gắn bó trọn đời với sân khấu, với công việc vẽ phông, dựng cảnh, làm màn cho kịch hát. Từ ảnh hưởng của Tuồng, cách ông bước vào hội họa rồi chủ động rẽ sang kịch nghệ, một lựa chọn tưởng như bên lề ấy rốt cuộc trở thành nơi ông để lại dấu ấn sâu đậm nhất.

Một trong những tác phẩm được lưu trữ lại. Nguồn: Saigoneer.
Kịch nghệ muôn màu
Niềm say mê sân khấu Tuồng với Thang Trần Phềnh không phải là một sự tình cờ. Từ khi còn là một cậu thanh niên hiếu kỳ, những sắc màu rực rỡ, cách hóa trang, tính ước lệ và nhịp điệu đặc thù của sân khấu đã sớm in sâu vào cảm quan thẩm mỹ của ông, trước cả khi ông được tiếp cận với kỹ thuật vẽ phương Tây một cách bài bản. Với Thang Trần Phềnh, mỹ thuật không tồn tại như một đối tượng tách rời để chiêm ngưỡng, mà là một thành tố sống trong đời sống văn hóa. Cách nhìn này chi phối toàn bộ lựa chọn nghệ thuật của ông về sau, đặc biệt là quyết định gắn bó lâu dài với sân khấu.
Dù tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông không chọn hướng trở thành một họa sĩ sáng tác hay giảng dạy mỹ thuật như bao người, mà dồn phần lớn tâm lực cho sân khấu. Với ông, sân khấu là một không gian nghệ thuật tổng hòa, nơi hình ảnh, âm nhạc, chuyển động và cảm xúc cộng hưởng để tạo nên trải nghiệm chung cho cộng đồng.
Tư liệu của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cho thấy vai trò của Thang Trần Phềnh trong sân khấu không chỉ dừng ở việc vẽ phông. Ông còn tham gia dịch nhạc kịch, dạy múa, dạy đàn và thiết kế phục trang. Sự tận hiến đa năng ấy phản ánh một tư duy liên ngành hiếm có, nơi hội họa không bị giới hạn trong khung tranh, mà hòa tan vào đời sống trình diễn như một phương thức tư duy kiên định. Lựa chọn lặng lẽ ấy phần nào lý giải nhận xét của Phan Cẩm Thượng khi gọi ông là “người ai cũng biết nhưng ít ai biết nhất”.

Tác phẩm Trang phục Quan văn quan võ, tranh màu nước, 20 cm x 30 cm. Nguồn: Thể thao Văn hóa.
Thang Trần Phềnh chấp nhận đứng sau ánh đèn sân khấu tại các rạp như Sán Nhiên Đài, Quảng Lạc, để dựng nên không gian cho kịch nghệ thăng hoa, thay vì đứng ở vị trí trung tâm của sự ghi nhận cá nhân. Cũng theo nhà nghiên cứu Đoàn Thị Tình, tập Ký họa sân khấu (1947 - 1954) hiện lưu giữ tại Viện Sân khấu - Điện ảnh là minh chứng cho thấy hội họa chưa từng rời bỏ ông. Trong những năm tháng kháng chiến, ông vẫn quan sát, ghi chép và suy tư về sân khấu bằng đôi mắt của một họa sĩ. Hội họa không mất đi, nó chỉ hòa tan vào sân khấu, tạo nên một Thang Trần Phềnh rõ nét nhất với nghệ thuật.
Theo tài liệu ghi chép, mãi sau ba, bốn mươi năm, ông vẫn nhớ rõ từng rạp như Sán Nhiên Đài, Quảng Lạc, Năm Chăn, Thông Sáng, cùng tên các nghệ sĩ và cả những em nhỏ trong Ban hát Mỹ thuật Đồng Ấu Trần Phềnh. Vậy là, hiểu ra được sự nặng tình của ông đối với sự hình thành của các rạp hát Hà Nội đầu thế kỷ XX.
Trong một xã hội giao thời, khi Tuồng là nơi bảo lưu đạo lý dân tộc, ông chọn sân khấu làm "xưởng họa" để hiện thực hóa tham vọng đưa cái đẹp vào đời sống. Từ năm 1916, ông đã hiện diện tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hải Phòng, khách sạn Metropole cùng nhiều rạp chiếu bóng lớn như Cinéma Tonkinois qua những bức phông "tứ cố" sống động. Ông không chỉ tạo cái đẹp cho cảnh, mà còn đồng kiến tạo nên diện mạo văn hóa cho cả một thời đại.
Lấy cái ta làm trọng
Trong thực hành nghệ thuật của mình, Thang Trần Phềnh luôn đặt văn hóa bản địa làm trung tâm sáng tạo. Việc ông vẽ tích sử hay khai thác các yếu tố văn hóa truyền thống không nhằm minh họa lịch sử một cách trực tiếp, mà để xây dựng một ngôn ngữ tạo hình xuất phát từ tinh thần Việt. Đây là một lựa chọn mang tính nguyên tắc, đặt nền cho con đường phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại.
Hai bức tranh sơn dầu được đánh giá cao tại cuộc Đấu xảo năm 1923 là một minh chứng rõ nét cho tinh thần ấy. Thay vì ca ngợi chiến công bằng sự tráng lệ, Thang Trần Phềnh chọn những khoảnh khắc đời thường: cảnh dân làng đón Hai Bà Trưng, hay hình ảnh Phạm Ngũ Lão lặng lẽ đan rổ bên đường. Qua đó, tinh thần gắn bó giữa dân và quân, cùng ý thức tự tôn dân tộc, được thể hiện một cách kín đáo nhưng sâu sắc.

Tác phẩm Chơi bài (1931 - 1932). Nguồn: Báo Người lao động.
“Lấy cái ta làm trọng” với Thang Trần Phềnh không phải là khẩu hiệu, mà là một nguyên tắc tổ chức hình ảnh và không gian. Tư duy này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ sân khấu truyền thống, nơi tính ước lệ, biểu tượng và cộng đồng luôn song hành. Hội họa, trong cách nhìn ấy, không tách khỏi đời sống, mà phản ánh và bồi đắp đời sống tinh thần chung.
Tư duy này có thể được nhận ra trong sáng tác của Nguyễn Tư Nghiêm sau này. Nguyễn Tư Nghiêm cũng khai thác các nhân vật lịch sử và huyền thoại như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Kiều Nguyệt Nga hay hệ thống 12 con giáp dân gian. Dù được đào tạo theo mô hình hàn lâm phương Tây, ông vẫn sử dụng hội họa như một phương tiện để diễn đạt thế giới tinh thần Việt Nam.
Giữa Thang Trần Phềnh và Nguyễn Tư Nghiêm tồn tại một sự tương đồng căn bản về tư duy, dù khác biệt về hình thức thể hiện. Nếu Thang Trần Phềnh đưa mỹ thuật hòa vào sân khấu và đời sống trình diễn, thì Nguyễn Tư Nghiêm đưa tinh thần ấy vào không gian tranh giá vẽ. Có thể xem Thang Trần Phềnh là người mở đường về tư duy, còn Nguyễn Tư Nghiêm là người phát triển con đường đó bằng ngôn ngữ hội họa thuần túy, đặc biệt là sơn mài.
Cùng chia sẻ niềm đam mê với sân khấu kịch hát truyền thống phương Đông, Thang Trần Phềnh và Bùi Suối Hoa, dù thuộc hai thế hệ và loại hình khác nhau, vẫn gặp nhau ở một điểm chung: cái ám ảnh dai dẳng về câu hát, điệu múa và màu sắc. Sự khác biệt của Tân kịch và Chèo không làm lu mờ điểm chung cốt lõi của họ. Cả hai đều nhìn nghệ thuật như một dòng chảy văn hóa liên tục, nơi cá nhân không tách rời cộng đồng. Chính tinh thần ấy tạo nên chiều sâu cho sáng tác và cho cách họ tồn tại trong lịch sử mỹ thuật, tự tạo lối riêng cho mình.
Ngày nay, các tác phẩm còn lại của Thang Trần Phềnh khá khan hiếm và thất lạc nhiều. Nhờ những công trình nghiên cứu từ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, nhà nghiên cứu Ngô Kim Khôi, cùng nhà sưu tập Lê Quang Tuyến, vị trí và di sản của ông dần được làm rõ hơn. Những đánh giá này cho thấy ảnh hưởng của Thang Trần Phềnh không nằm ở số lượng tác phẩm còn lại, mà ở tư duy nghệ thuật và con đường ông đã khai mở.
Sẽ không là nói quá, khi dành thời gian nhìn lại hành trình của Thang Trần Phềnh, người xem có thể hiểu vì sao cố danh họa Tô Ngọc Vân từng trân trọng gọi ông là “Ông Trời của hội họa”, bởi “ông là họa sĩ mà trước kia chúng tôi rất phục tài, coi như cái đích tuyệt cao khó tới”.

Một tác phẩm tranh màu nước của họa sĩ Thang Trần Phềnh sáng tác trong thời kỳ đi tản cư (1948). Nguồn: Công an Nhân dân.
Di sản ông để lại không chỉ dừng ở giá trị vật chất của những bức tranh, mà sâu xa hơn là tinh thần “căn cốt chất Việt” mà mỹ thuật hôm nay vẫn cần ghi nhớ và học hỏi, để hội họa Việt Nam giữ được tinh thần “lấy ta làm trọng”, luôn mang theo căn nguyên dân tộc khi đối thoại với thế giới. Chắc hẳn ở Việt Nam, sẽ còn có nhiều cái tên đã từng được công nhận, nhưng lại phai dần theo thời gian.
Mong sao sau này, sẽ có nhiều nghiên cứu và những bức tranh trở lại, để trả lại cái ân tình, mà những họa sĩ đất Việt, đã rất cống hiến, tận tụy cho nước nhà, một sự công nhận ai cũng xứng đáng được có.
Đôi lời kết
Từ hội họa, Thang Trần Phềnh đi vào sân khấu; từ sân khấu, ông đặt lại câu hỏi về vai trò của nghệ thuật trong cộng đồng. Nhờ đó, ông góp phần định hình một cách hiểu mỹ thuật gắn liền với đời sống, nghi lễ và lịch sử dân tộc.
Tinh thần “lấy cái của ta làm trọng” mà ông kiên định theo đuổi đã mở đường cho những nghệ sĩ như Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Suối Hoa và nhiều thế hệ sau, trong hành trình đối thoại Đông - Tây mà không đánh mất gốc rễ văn hóa.
Thang Trần Phềnh không chỉ là một họa sĩ hay một nghệ sĩ sân khấu, mà là một lựa chọn sống. Ông chọn đứng trong đời sống nghệ thuật, hòa mình vào sân khấu và văn hóa bản địa, thay vì đứng tách ra như một cá nhân sáng tác thuần túy. Chính lựa chọn ấy định hình toàn bộ con đường và vị thế của ông trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.
