Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại, có những tên tuổi xuất hiện như những vì sao sáng rực giữa thời đại, nhưng cũng có những nghệ sĩ chọn cách tỏa sáng trong im lặng. Phạm Tăng thuộc về trường hợp thứ hai. Ông sống xa quê hương gần trọn đời, ẩn mình giữa châu Âu, hiếm khi xuất hiện trước công chúng, song di sản nghệ thuật để lại lại mang tầm vóc của một cuộc đối thoại lớn giữa Đông và Tây, giữa con người và vũ trụ.
Từ một sinh viên thế hệ cuối của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đến hoạ sĩ đỉnh cao trời Tây, hành trình của Phạm Tăng không chỉ là câu chuyện thành danh của một họa sĩ Việt nơi đất khách, mà còn là cuộc kiếm tìm căn tính nghệ thuật trong thế giới đầy biến động. Ba kỳ bài viết này sẽ lần theo dấu chân ấy: từ cuộc đời phiêu bạt, quá trình biến đổi phong cách, cho đến tư tưởng thẩm mỹ đã đưa ông trở thành một trong những gương mặt độc đáo nhất của hội họa Việt Nam thế kỷ XX.
Từ bến sông Đáy đến "Kinh đô vĩnh cửu"
Sinh ra và lớn lên tại Yên Mô, một huyện đồng bằng nằm ở phía nam tỉnh Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình khoảng 17km. Khu vực này nổi tiếng với lịch sử lâu đời và các làng nghề truyền thống. Được hình thành từ thời nhà Trần với tên gọi cũ là Mô Độ, Yên Mô là nơi giàu truyền thống nghệ thuật và văn hoá, nổi bật với hát xẩm và hát chèo. Chính vùng đất cổ kính này, cùng không gian văn hóa Bắc Bộ đã định hình nhân sinh quan của Phạm Tăng trước khi ông có chuyến du hành vĩ đại suốt cuộc đời ở nơi đất khách.

Hoạ sĩ Phạm Tăng (1924 - 2017). Nguồn: Nhiếp ảnh gia Phạm Hải Nam.
Trước khi xuất ngoại, ông theo học ngành kiến trúc tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (khóa XV, 1941–1946). Ông là thế hệ cuối cùng của trường, đánh dấu khép lại chương cuối của nghệ thuật Việt Nam thời Pháp thuộc. Sau đó, nhờ cơ hội được nhận được học bổng, Phạm Tăng sang Ý tu nghiệp. Tại đây, Phạm Tăng đã phát huy tối đa tài năng hội hoạ thiên bẩm, tốt nghiệp xuất sắc Viện Hàn lâm Mỹ thuật Rome. Sự chuyển dịch từ không gian Á Đông sang cái nôi nghệ thuật Phục hưng tại Ý, tạo nên một "khoảng cách" đủ xa để ông nhìn lại và tái định nghĩa bản sắc Việt.
Sự cô độc trong lòng Châu Âu
Sau năm 1954, Phạm Tăng di cư vào Nam và trở thành một họa sĩ hý họa (biếm họa) nổi tiếng tại Sài Gòn. Ông cộng tác với các tờ báo lớn như Tự Do, Văn Nghệ Tự Do, và Bách Khoa. Những bức hý họa châm biếm sắc sảo của ông trên báo Tự Do từng khiến ông bị bắt giam tại khám Catinat một thời gian. Sau này, khi ông đã định cư ở hải ngoại một thời gian dài, lúc được hỏi về sự kiện chính trị này, ông vẫn tuyên bố chắc nịch rằng bức tranh biếm hoạ đó không phải do ông vẽ.

Tác phẩm “Thời gian” của Phạm Tăng. Nguồn: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Có lẽ, chính những va chạm với thực tại chính trị ngột ngạt và nỗi đau riêng (sự ra đi của người vợ đầu tiên năm 1954) đã thôi thúc ông tìm một lối thoát. Năm 1959, ở tuổi 34, ông nhận được học bổng sang Ý – đây mới chính là thời điểm ông thực sự đặt chân lên hành trình Rome. Một số tư liệu nhầm lẫn mốc 1954 là lúc ông sang Ý, nhưng thực tế 1954 là mốc ông di cư vào Sài Gòn trước khi đi Âu châu 5 năm sau đó.
“Chúng ta lớn lên với tranh Tết Đông Hồ, với Đám Cưới Chuột, với Hái Dừa, Đánh Ghen, với Cá, với Gà, với Lợn... Người Pháp đưa đến cho chúng ta kỷ hà học, sơn dầu, thuốc nước. Tôi rất muốn đến tận nơi đã sản sinh ra những bậc thầy của hội hoạ Tây phương, ngoài hội hoạ Pháp mà mình đã biết, để xem từ xa xưa những bậc thầy hội hoạ ở đấy đã đưa lên khung vải cái nhìn thấy bằng đường nét, bằng màu sắc theo những cách nào… Lại đúng vào lúc có một học bổng đại học hội hoạ do Ý cấp. Thế là đi.” – Danh họa Phạm Tăng chia sẻ.
Sống xa quê hương trong giai đoạn biến động, Phạm Tăng chọn lối sống ẩn dật để giữ cho tâm trí thanh sạch cho nghệ thuật. Đối với công chúng và cả những người ái mộ nghệ thuật của Phạm Tăng, ông dường như đã “bốc hơi”. Người ta vẫn thường truyền tai nhau rằng:
“Người họa sĩ lớn lao đó vẫn sống ẩn dạng, âm thầm ở Roma, nhiều chục năm, sau khi ông được ghi nhận là đã đoạt vị trí khôi nguyên khi tốt nghiệp một trường cao đẳng hội họa danh tiếng ở Roma.
“Giật gân” hơn, có người ngậm ngùi, ái ngại mà cho rằng, ông mất đã lâu!!! Nhưng tôn trọng di nguyện của người quá cố, thân nhân gia đình ông đã im lặng, tựa góp thêm một dòng sông thinh lặng, vào biển thinh lặng vốn có từ hơn nửa thế kỷ trước, kể từ khi ông rời khỏi Sài Gòn, với một học bổng 5 năm về Hội Họa ở La Mã.” – trích bài viết của Du Tử Lê trên nhật báo Người Việt.
Ít ai biết, dù không thường xuyên xuất hiện trước công chúng, Phạm Tăng vẫn sáng tác nghệ thuật một cách bền bỉ, với tâm hồn rộng mở. Cho đến tận cuối đời, ông vẫn là một nghệ sĩ tràn đầy sức sống, giàu nội lực tiềm ẩn và vẫn luôn khát khao mãnh liệt đi tìm những cái mới.

Bức tranh “Vũ trụ” được trưng bày riêng tại nhà của Phạm Tăng. Đây là bức tranh hiếm hoi ông còn giữ lại mặc dù được rất nhiều người hỏi mua với giá cao. Nguồn: Bài viết trên blog cá nhân của nhà thơ Du Tử Lê.
Khác với nhiều họa sĩ chỉ học chuyên sâu một môn, Phạm Tăng tại Rome là một trường hợp "khủng" về sức học. Ông không hài lòng với việc chỉ biết vẽ. Ông đã lấy bằng tốt nghiệp của hầu hết các khoa tại Viện: Hội họa, Trang trí, Điêu khắc và Thiết kế sân khấu. Những năm đầu tại Rome, ông sống cực kỳ gian khổ, "thân cô thế cô" nơi đất khách. Có thời gian ông phải vừa học vừa làm, ngủ trên chiếc xe hơi cũ kỹ và rong ruổi khắp các thành phố lớn ở Ý để triển lãm tranh, tiện đâu ngủ đó để tiết kiệm chi phí.
“Mình không tiếc đã bỏ Sài Gòn để đi tới vùng đất mới. Ở Sài Gòn mình sống sung túc, có thể gọi là thừa mứa. Đến Roma mình phải ở nhờ một tu viện nghèo của một dòng tu khổ hạnh. Tiền học bổng chỉ đủ để ăn mì với cà chua hoặc pizza chay. Không, không phải mình đến với hội hoạ phương Tây để học cách vẽ của họ đâu. Mình đến để tìm hiểu cái nhìn của họ bằng con mắt hội hoạ trong chiều dài nhiều thế kỷ, tại sao họ vẽ, vẽ cái gì, vẽ thế nào? Cứ thế sống dặt dẹo mấy năm cho đến khi hiểu ra rằng con đường tìm kiếm còn dài, mình còn cần đến một thứ vô duyên là tiền. Đành phải bán vài bức tranh vẽ theo phong cách Á đông bán cho khách chuộng lạ. Những bức tranh ấy sẽ chẳng ai biết đó là của Phạm Tăng – dưới mỗi bức mình ký một cái tên, toàn là tên bịa đặt.” – Chia sẻ của Phạm Tăng trong cuộc phỏng vấn tại nhà riêng.
"Vẽ là để thấy cái không nhìn thấy"
Quan điểm của Phạm Tăng trong hội hoạ cũng như cuộc sống là đề cao sự hòa hợp giữa Con người và Vũ trụ (Thiên - Địa - Nhân). Và để đạt đến cảnh giới đó, ông xây dựng nghệ thuật từ những “tế bào” nhỏ bé. Công trình này công phu đến nỗi, nó như thể ông đang tự xây dựng lại chính con người của mình.
“Nguyên liệu đầu tiên để xây dựng họa phẩm của tôi là tế-bào. Ai cũng biết tế-bào là nguyên ủy của sự sống kết tinh từ thuở khai thiên lập địa. Trong cảnh hỗn mang của trời đất tế-bào sinh sôi nẩy nở kết tụ, thành mọi sinh vật sống từ côn trùng, cây cỏ, cầm thú cho đến con người. Trời đất hỗn mang khi xưa có khác chi cái xã hội hiện tại mà chúng ta đang sống? Tro bụi, điêu tàn, băng hoại, đổ vỡ. Gieo tế-bào như gieo mầm sống mới, trong một thế giới mới, với một tổ chức, một trật tự mới đặng thế vì cho những cái tàn rụi, nát rữa, trong hội họa, ngoài xã hội và ngay cả chính ta nữa…” – Bức thư hoạ sĩ Phạm Tăng trả lời báo Bách Khoa cuối năm 1973.
Từ tế bào đầu tiên, ông đi dần tới sự tập hợp của hàng triệu tế bào. Ngắm nhìn những hình ảnh trong tranh của Phạm Tăng, công chúng có thể lờ mờ thấy phảng phất hình ảnh của chính tác giả. Có lẽ, với ông mỗi bức tranh không chỉ là những nét cọ trên toan, mà còn là một cuộc hành hương vào nội tâm sâu thẳm.
Rời quê hương để bước vào “kinh đô vĩnh cửu”, Phạm Tăng không chỉ mang theo ký ức của một người Việt tha hương, mà còn mang theo những day dứt về lịch sử, thân phận và giá trị dân tộc. Chính sự cô độc nơi xứ người đã hun đúc nên nội lực phi thường, để từ những năm tháng gian khó nhất, ông từng bước xây dựng thế giới hội họa riêng biệt của mình. Nhưng để hiểu vì sao một họa sĩ từng khởi đầu bằng ký họa đời thường lại có thể đi đến những tầng sâu siêu hình của vũ trụ luận, cần nhìn lại hành trình chuyển hóa phong cách của ông qua từng chặng đường sáng tác. Đó sẽ là câu chuyện của kỳ tiếp theo, hãy cùng đón xem nhé!
Related articles
Phạm Tăng – Họa sĩ Việt đi tìm linh hồn của vũ trụ (Kỳ 3)
Giữa thế kỷ XX – thời đại mà nghệ thuật thế giới chứng kiến vô số trào lưu mới nổi lên rồi nhanh chóng lụi tàn – Phạm Tăng vẫn lặng lẽ đi con đường riêng của mình. Ông không chọn đứng hẳn về phương Đông hay phương Tây, cũng không tự trói buộc trong bất kỳ học thuyết mỹ thuật nào. Điều ông theo đuổi là một thứ hội họa vượt khỏi biên giới địa lý: nơi tinh thần Á Đông gặp gỡ kỹ thuật châu Âu, nơi cá nhân hòa vào nhịp thở của vũ trụ bao la. Chính ở điểm giao thoa ấy, Phạm Tăng trở thành một hiện tượng đặc biệt của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Sự kết tinh của Viễn Đông và Phương Tây Trên hành trình nghệ thuật, mặc dù sống và làm việc chủ yếu tại châu Âu, nhưng Phạm Tăng đã nỗ lực không ngừng để sáng tạo một nét họa độc lập riêng mình, không chịu ảnh hưởng và chi phối bởi các nền hội họa phương Tây hay Trung Quốc. Ông nhuần nhuyễn kết hợp giữa kỹ thuật sơn dầu phương Tây với cảm quan không gian rỗng của thủy mặc. Khi trả lời phỏng vấn của Tạp chí Bách khoa Việt Nam, họa sĩ Phạm Tăng đã nêu rõ quan niệm của mình về hội họa: “Hội họa Việt Nam phải bộc lộ được bản sắc riêng, góp một tiếng nói với hội họa thế giới, dù là một tiếng nói nhỏ bé, nhưng là tiếng nói của riêng mình, không lai căng Tây hay Tàu. Tôi vô cùng hãnh diện là mình không mất gốc, không va chạm trực tiếp với phương Tây, tôi nhờ sức phản ứng mà phá vỡ được mọi xiềng xích nô lệ do sự phụ thuộc vào lối nhìn nhật sự vật, ảnh hưởng của hội họa phương Tây và Trung Quốc thời kỳ bị đô hộ. Chính là nhờ ở lòng ham muốn tự do và ở chí hùng cường của dân tộc, tôi mới tìm được một đường lối giải thoát cho nghệ thuật riêng mình.” – hoạ sĩ Phạm Tăng. Một tác phẩm của hoạ sĩ Phạm Tăng. Nguồn: Bài viết trên blog cá nhân của nhà thơ Du Tử Lê. Cấu trúc tranh của Phạm Tăng càng về những giai đoạn chín muồi, càng có xu hướng hướng tâm hoặc ly tâm, tạo cảm giác về một vụ nổ của sắc màu. Ông thường sử dụng các mảng màu loang, chuyển tiếp mượt mà và đầy năng lượng. Sự chuyển dịch của Phạm Tăng từ bút pháp hiện thực sang trừu tượng biểu hiện không đơn thuần là thay đổi kỹ thuật, mà là một cuộc hành trình đi sâu vào bản chất của sự sống và tâm thức. Với ông, hội họa không còn là việc chụp lại thực tại hữu hình, mà là nỗ lực hiện thực hóa những biến động không ngừng của nội tâm – nơi mà máy ảnh tinh vi nhất cũng phải chào thua. Phạm Tăng xây dựng tác phẩm từ những "tế bào" nguyên tử. Ông quan niệm mỗi hạt màu đồng tâm li ti là một tế bào sống, thoi thóp nhưng tự tại, mang trong mình ánh sáng phát quang từ bên trong. Hàng triệu tế bào ấy kết tụ, nảy nở và lan tỏa như một vết mực loang, tạo nên một thực thể sống động mà ông gọi là "Cái tôi cuối cùng". Ở đó, không có hình thể nào cố định, tất cả đều ẩn hiện, lúc tỏ lúc mờ, phản ánh sự biến dịch không ngừng của "Tâm viên, Ý mã". Khác với sự tĩnh lặng tuyệt đối của Thiền, trừu tượng của Phạm Tăng là một trạng thái "Động" ngay cả trong cái tĩnh nhất. Ông nhìn thấy những mạch chuyển động của không khí hay những đường vân ốc biển đều đồng nhất với những cảm xúc uyển chuyển trong lòng mình. Ông dùng những đường nét trùng điệp để mô phỏng "nhịp sống" này, khiến bức tranh không còn là một vật thể chết mà là một sinh mệnh có nhịp thở riêng. Vầng hào quang tại Rome Năm 1967, giữa lòng thủ đô Rome cổ kính, cái tên Phạm Tăng đã khiến giới mộ điệu quốc tế phải ngả mũ khi ông giành Giải Nhất cuộc thi hội họa do UNESCO tổ chức với bức tranh mang tên “Vũ trụ”. Đây không chỉ là một giải thưởng nghệ thuật đơn thuần, mà là một dấu mốc chói lọi, đưa vị thế của nghệ sĩ Việt Nam sánh ngang với các bậc thầy thế giới. Với Phạm Tăng, vinh quang này còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn: nó xoa dịu "vết thương" của một nghệ sĩ sinh ra từ một dân tộc từng chịu cảnh lầm than. Ông tự hào về giải thưởng này không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì nó chứng minh rằng trí tuệ và tâm hồn Việt đủ sức chinh phục những tiêu chuẩn khắt khe nhất của nhân loại. Hoạ sĩ Phạm Tăng xuất hiện trong các bài báo Pháp. Nguồn: Bài viết trên blog cá nhân của nhà thơ Du Tử Lê. Đằng sau vầng hào quang là một sự lao động miệt mài về kỹ thuật và tư duy. Phạm Tăng đã tạo ra một cuộc cách mạng thị giác riêng biệt cho “Vũ trụ” của riêng mình. Mỗi hạt màu trong tranh ông là một tổ hợp của 2 đến 3 khoanh tròn cùng tâm với các màu sắc đối nghịch. Khi nhìn bằng mắt thường, đó có thể chỉ là những chấm đen nhỏ như hạt đậu giữa dải ngân hà lấp lánh. Nhưng dưới ống kính lúp, mỗi chấm ấy lại mở ra một "hố đen" thăm thẳm, lôi cuốn người xem vào một vụ nổ Big Bang của ánh sáng và màu sắc. Sức hút từ những suy tưởng về vũ trụ luận đã đưa tranh của Phạm Tăng vào những không gian nghệ thuật danh giá nhất. Ông liên tục tổ chức các triển lãm cá nhân tại các Gallery danh tiếng ở Rome, Milan và Paris, những nơi vốn được coi là "thánh địa" của hội họa thế giới. Rất nhiều tác phẩm của ông hiện đang nằm trong các bộ sưu tập tư nhân lớn và các bảo tàng uy tín tại Ý. Dù tranh được săn đón, đến cuối đời, ông vẫn giữ lại “Vũ trụ” bên mình – "người bạn thân thiết nhất" cùng ông đi qua những ngày tháng cô độc tại châu Âu, chứng nhân cho một cuộc đời nghệ thuật không bao giờ thỏa hiệp. Cây cầu nối hai nền mỹ học Phạm Tăng không chỉ là một danh họa thành danh, mà còn là biểu tượng của sự dung hợp văn hóa Đông - Tây. Ông đóng vai trò là "gạch nối" quan trọng, chứng minh rằng nghệ sĩ Việt có thể làm chủ những kỹ thuật phương Tây thượng thừa – từ tư duy siêu hình đến cấu trúc vật lý hiện đại – mà vẫn giữ trọn cốt cách của một hiền triết phương Đông. Ông đã góp phần nâng tầm vị thế nghệ thuật Việt trên bản đồ thế giới bằng ngôn ngữ vũ trụ luận đầy uyên bác. Hoạ sĩ Phạm Tăng trong một cuộc phỏng vấn tại nhà riêng ở Pháp vào năm 2016. Nguồn: Bài viết trên blog cá nhân của nhà thơ Du Tử Lê. Di sản lớn nhất Phạm Tăng để lại là bài học về sự kiên định và lòng tự trọng nghề nghiệp. Giữa những biến động của thị trường, ông chọn lối sống ẩn dật, từ chối những vinh quang hình thức để trung thành với con đường sáng tạo độc lập. Cuộc đời ông là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các thế hệ sau về việc giữ gìn bản ngã dân tộc trong hành trình vươn tới cái vô biên của nghệ thuật nhân loại. Ông cho thấy rằng: chỉ khi thực sự thấu hiểu căn tính của mình, người nghệ sĩ mới có thể tự tại "nhẹ gót vào tranh" và chạm đến sự vĩnh cửu. Lời kết Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Tăng, người ta nhận ra ông không chỉ là một họa sĩ tài năng, mà còn là biểu tượng của ý chí sáng tạo độc lập. Trong suốt hành trình dài nơi đất khách, ông đã sống lặng lẽ, làm việc bền bỉ và kiên quyết không để mình bị cuốn theo thị hiếu nhất thời hay những hào quang dễ dãi. Giữa trung tâm nghệ thuật châu Âu, ông vẫn giữ trong mình lòng tự trọng của một người Việt Nam và khát vọng chứng minh rằng nghệ thuật Việt có thể sánh vai cùng thế giới bằng chính bản sắc riêng. Di sản của Phạm Tăng không chỉ nằm ở những bức tranh đã được trưng bày tại Rome, Milan hay Paris, mà còn ở tư tưởng nghệ thuật mà ông để lại: muốn chạm đến cái phổ quát của nhân loại, trước hết phải hiểu thật sâu cội nguồn của chính mình. Ông đã làm được điều đó khi dung hòa kỹ thuật phương Tây với chiều sâu tinh thần Á Đông, biến hội họa thành nơi gặp gỡ giữa vật chất và tâm linh, giữa hạt bụi đời người và vô tận vũ trụ. Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, tên tuổi Phạm Tăng có thể không ồn ào như nhiều người khác, nhưng càng nhìn xa, ánh sáng ấy càng rõ. Ông giống như một vì sao khuất lấp sau tầng mây thời gian: lặng lẽ, bền bỉ và vẫn đang tỏa sáng cho những ai đủ kiên nhẫn ngước nhìn.
Phạm Tăng – Họa sĩ Việt đi tìm linh hồn của vũ trụ (Kỳ 2)
Ở Phạm Tăng, nghệ thuật không đứng yên trong một hình thức cố định, mà luôn vận động như chính đời sống ông từng trải qua. Từ những bức ký họa đời thường, màu nước phố xá, chân dung con người Việt Nam, ông dần bước ra khỏi lối mô tả thực tại để tiến vào miền trừu tượng, nơi hình hài tan biến nhường chỗ cho ý niệm và cảm xúc. Quá trình ấy phản chiếu sự trưởng thành của một họa sĩ luôn từ chối lặp lại chính mình. Từ Cao đẳng Mỹ thuật đến hơi thở đời sống (1941 – 1954) Trong những ngày tháng đầu tiên trên con đường nghệ thuật, tư duy về hội họa của Phạm Tăng vẫn nằm trong khuôn khổ của sự quan sát và ghi chép thực tại. Điều này dễ hiểu bởi ông là sinh viên khóa XV (1941 - 1946) của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông được đào tạo bài bản về hình họa cổ điển Pháp. Tuy nhiên, ông lại sống trong không khí sục sôi của thời đại khiến nét vẽ vừa có sự chuẩn mực, vừa có sự phóng khoáng. Chính vì thế, tài năng của ông đã sớm bộc lộ sự tinh tế trong đường nét. Dù vậy, hội họa với ông lúc này chỉ mới như một công cụ để kể chuyện và mô tả thế giới hữu hình xung quanh mình. Sau khi tốt nghiệp, ông trúng tiếng sét ái tình với người vợ đầu tiên và quyết định chuyển vào Sài Gòn. Trước khi sang Ý, ông là gương mặt quen thuộc trên các tờ báo tại Hà Nội và Sài Gòn. Các tác phẩm thời kỳ này chủ yếu là tranh màu nước, ký họa về con người, phố xá và các sinh hoạt đời thường. Bức áp phích được cho là vẽ bởi Phạm Tăng (dù ông đã nhiều lần phủ nhận). Bức tranh ít màu, có nét vẽ chân phương, sống động. Nếu xoay ngược thì nó lại có hình dạng bản đồ Việt Nam bị đục khoét. Theo tài liệu ghi chép lại, bức tranh hàm ý nói về gia đình của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm. Nguồn: Báo điện tử Dân Việt. Trong khoảng thời gian này, ông từng là tâm bão của bức tranh bìa Xuân nhật báo Tự Do, xuất bản đầu năm 1960. Ông đã nhiều lần lên tiếng thanh minh rằng bức tranh 5 con chuột đục khoét trái dưa hấu đó không phải của ông. Dù vậy, cũng chính vì tác phẩm không ký tên đấy mà ông từng phải ngồi tù Catinat với tội danh “phá hoại trật tự trị an có lợi cho cộng sản” từ năm 1956 đến 1957 mới được thả ra. Đồng thời, người nghệ sĩ ấy cũng phải chịu nỗi đau mất đi người vợ hết mực thương yêu – thứ có lẽ đã gặm nhấm ông nhiều năm. Dù đây là giai đoạn nhiều sóng gió với những “scandal chính trị” và những nỗi niềm riêng, không thể phủ nhận những biến động đó đã góp thêm vào "vốn liếng cuộc sống" của người họa sĩ tài ba. Khẳng định bản sắc tại "Kinh đô vĩnh cửu" (Thập niên 1960 – 1970) Khi còn hoạt động nghệ thuật ở Việt Nam, Phạm Tăng có một sự ám ảnh mãnh liệt với thứ gọi là “Mối nhục của một người Việt Nam trước sự cai trị và khinh bỉ của thực dân Pháp!” – điều mà sau này ông vẫn luôn nhấn mạnh nhiều lần trong các cuộc phỏng vấn hiếm hoi. Ám ảnh này có lẽ bắt nguồn sâu xa từ việc nhiều anh tài thuộc dòng họ Phạm đã bị chính quyền Pháp bắt bớ, sát hại hoặc bức tử. Riêng đối với nghệ thuật, ông cũng nhấn mạnh nhiều lần rằng “Người Pháp coi khinh văn hóa của chúng ta!” Một tác phẩm của hoạ sĩ Phạm Tăng. Nguồn: Nhiếp ảnh gia Phạm Hải Nam. Ông cho rằng người Pháp không muốn mở trường đào tạo họa sĩ cho người Việt Nam. Đầu thập niên 1900, họ mới mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một. Đến năm 1903, họ mở trường Mỹ nghệ Thực hành ở Biên Hòa. Cho tới năm 1913, trường Mỹ thuật Gia Định được thành lập, sau đó đổi tên thành trường Mỹ nghệ Thực hành Gia Định vào năm 1940. “Nhưng dù trường tên gì chăng nữa thì họ cũng chỉ nhằm mục đích đào tạo những người thợ thủ công, để đáp ứng nhu cầu hàng thủ công của nước Pháp mà thôi.” – hoạ sĩ Phạm Tăng chia sẻ. Sự bức xúc trước tình cảnh đất nước mà lực bất tòng tâm, đã đưa Phạm Tăng đến bước ngoặt quan trọng nhất. Lúc này, ông đối diện với những trào lưu nghệ thuật đương đại thế giới và quyết định bứt phá khỏi sự mô phỏng thực tại. Ông nắm lấy cơ hội sang Ý du học tại Viện Hàn lâm Mỹ thuật Rome. Tại đây, ông không chọn đi theo con đường phục cổ mà dấn thân vào các thử nghiệm trừu tượng. Tại Viện Hàn lâm Mỹ thuật Rome, Phạm Tăng tiếp cận sâu với ngôn ngữ tạo hình hiện đại, đặc biệt là hội họa trừu tượng cùng những kỹ thuật xử lý chất liệu mang tính học thuật cao. Quãng thời gian ấy mở ra cho ông một chân trời sáng tạo mới. Từ nền tảng hội họa hiện thực đã được đào luyện trước đó, ông từng bước rời bỏ cách mô tả thế giới hữu hình để bước vào miền biểu đạt tự do hơn, nơi đường nét, màu sắc và cấu trúc được dẫn dắt bởi trực giác, tư tưởng và cảm xúc nội tâm. Khoảng thời gian này là lúc ông sáng tác nhiều nhất. Phạm Tăng mang tác phẩm đi triển lãm tại nhiều quốc gia như Ý, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ, rồi xa hơn đến Brazil và Los Angeles. Tuy được giới chuyên môn đánh giá cao, nhưng 15 năm sống tại Ý lại là một chặng đời nhiều cô quạnh. Ông gần như đơn độc thực hiện những bức tranh khổ lớn, tự tay chất tranh lên xe và rong ruổi qua nhiều thành phố để tổ chức triển lãm, bất chấp mưa gió và giá lạnh của châu Âu. Trong bối cảnh ấy, tài năng của một nghệ sĩ châu Á không dễ được nhìn nhận công bằng. Trong khi đó, cộng đồng người Việt xa xứ phần lớn còn bận mưu sinh, ít có điều kiện quan tâm đến mỹ thuật hay đồng hành cùng các cuộc trưng bày của ông. Nhiều người chỉ biết đến Phạm Tăng khi ông giành giải thưởng quốc tế, xem đó như niềm tự hào chung, nhưng chưa thực sự bước vào thế giới nghệ thuật mà ông dày công kiến tạo. Tác phẩm "Vũ trụ" của Phạm Tăng. Nguồn: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Năm 1967 đánh dấu "đỉnh cao" sự nghiệp, tên tuổi ông vang danh quốc tế. Ông giành giải Nhất trong cuộc thi hội họa do UNESCO tổ chức tại Rome. Tác phẩm của ông gây kinh ngạc bởi sự kết hợp giữa kỹ thuật diễn tả ánh sáng điêu luyện của phương Tây và chiều sâu tâm linh tĩnh lặng của phương Đông. Tiếng vang này đã khiến nghệ thuật phương Tây phải ngã ngũ trước con người da vàng nhỏ bé. Năm 1968, Michel Lemoine – một nhà phê bình hội họa của uy tín – đã có những nhận định đầy tâm huyết và khẳng định tính khám phá trong từng tác phẩm hội họa của Phạm Tăng như sau: “Nghệ thuật của Phạm Tăng là một chuỗi liên tiếp những khám phá choáng ngợp, bởi vì người ta không bao giờ biết được tác phẩm khởi đầu từ đâu và chấm dứt ở đâu; mỗi bức tranh là hằng hà sa số vũ trụ mà mắt ta lướt qua trên đó chẳng khác gì một phi thuyền không gian đi tìm kiếm các thế giới khác.” Từ thành tích vẻ vang đáng nể kể trên, ông từ bỏ hẳn "hình" để đi tìm "ý". Các sáng tác không còn tập trung vào nhân vật cụ thể mà bắt đầu xuất hiện những cấu trúc hình học chuyển động, những mảng màu tương phản mạnh mẽ thể hiện sự xung đột và hòa hợp. Hội họa siêu hình và Vũ trụ luận (Thập niên 1980 – 2017) Ở giai đoạn cuối đời, họa sĩ Phạm Tăng thực hiện một cuộc hành trình "hướng nội" sâu sắc. Hội họa lúc này không còn là nghệ thuật thuần túy mà là một hệ thống triết học. Tranh của ông xuất hiện những vòng xoáy cảm quan vũ trụ (Cosmos). Những điểm sáng trong tranh rực rỡ một cách kỳ ảo giữa khoảng không vô tận. Sau khi trải qua một đời gian truân, đứng trước sự vô biên của vũ trụ, có lẽ Phạm Tăng đã thấy vị trí của con người nhỏ bé trong đó. Một tác phẩm của hoạ sĩ Phạm Tăng. Nguồn: Bài viết trên blog cá nhân của nhà thơ Du Tử Lê. Các tác phẩm của ông ở giai đoạn này thường được sử dụng chất liệu sơn dầu nhưng xử lý loang màu nhẹ nhàng như mực nho, tạo ra những không gian rỗng (khoảng trắng) đầy ẩn ý của Thiền học. Các tác phẩm như những "bản đồ tâm linh" bởi ông không vẽ cái ta thấy, mà vẽ cái ta cảm thấy về sự luân hồi, về năng lượng và sự vĩnh cửu. Nghệ thuật của ông giai đoạn này đạt đến độ giản lược nhưng hàm súc, bỏ qua mọi chi tiết thừa thãi để chạm đến cốt lõi của sự vật. Càng về già, ông càng sống kín tiếng tại Pháp, dành toàn bộ thời gian để suy tưởng, vẽ và nhớ về cội nguồn. Sự chín muồi trong tư duy khiến mỗi nhát cọ của ông đều mang sức nặng của một lời chiêm nghiệm về nhân thế. Qua từng giai đoạn, có thể thấy Phạm Tăng không chỉ thay đổi bút pháp mà còn liên tục đào sâu tư tưởng. Từ hiện thực đến trừu tượng, từ cái nhìn đời sống đến suy tưởng siêu hình, ông đã mở rộng hội họa thành một không gian triết học. Nhưng giá trị lớn nhất của Phạm Tăng không dừng ở kỹ thuật hay giải thưởng, mà nằm ở cách ông dung hợp mỹ học Đông phương với tinh thần sáng tạo hiện đại của phương Tây để tạo nên tiếng nói riêng không thể trộn lẫn. Chính cây cầu thẩm mỹ ấy sẽ được nhìn rõ hơn ở kỳ cuối cùng trong loạt bài viết về hoạ sĩ Phạm Tăng.
Phạm Tăng – Họa sĩ Việt đi tìm linh hồn của vũ trụ (Kỳ 1)
Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại, có những tên tuổi xuất hiện như những vì sao sáng rực giữa thời đại, nhưng cũng có những nghệ sĩ chọn cách tỏa sáng trong im lặng. Phạm Tăng thuộc về trường hợp thứ hai. Ông sống xa quê hương gần trọn đời, ẩn mình giữa châu Âu, hiếm khi xuất hiện trước công chúng, song di sản nghệ thuật để lại lại mang tầm vóc của một cuộc đối thoại lớn giữa Đông và Tây, giữa con người và vũ trụ. Từ một sinh viên thế hệ cuối của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đến hoạ sĩ đỉnh cao trời Tây, hành trình của Phạm Tăng không chỉ là câu chuyện thành danh của một họa sĩ Việt nơi đất khách, mà còn là cuộc kiếm tìm căn tính nghệ thuật trong thế giới đầy biến động. Ba kỳ bài viết này sẽ lần theo dấu chân ấy: từ cuộc đời phiêu bạt, quá trình biến đổi phong cách, cho đến tư tưởng thẩm mỹ đã đưa ông trở thành một trong những gương mặt độc đáo nhất của hội họa Việt Nam thế kỷ XX. Từ bến sông Đáy đến "Kinh đô vĩnh cửu" Sinh ra và lớn lên tại Yên Mô, một huyện đồng bằng nằm ở phía nam tỉnh Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình khoảng 17km. Khu vực này nổi tiếng với lịch sử lâu đời và các làng nghề truyền thống. Được hình thành từ thời nhà Trần với tên gọi cũ là Mô Độ, Yên Mô là nơi giàu truyền thống nghệ thuật và văn hoá, nổi bật với hát xẩm và hát chèo. Chính vùng đất cổ kính này, cùng không gian văn hóa Bắc Bộ đã định hình nhân sinh quan của Phạm Tăng trước khi ông có chuyến du hành vĩ đại suốt cuộc đời ở nơi đất khách. Hoạ sĩ Phạm Tăng (1924 - 2017). Nguồn: Nhiếp ảnh gia Phạm Hải Nam. Trước khi xuất ngoại, ông theo học ngành kiến trúc tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (khóa XV, 1941–1946). Ông là thế hệ cuối cùng của trường, đánh dấu khép lại chương cuối của nghệ thuật Việt Nam thời Pháp thuộc. Sau đó, nhờ cơ hội được nhận được học bổng, Phạm Tăng sang Ý tu nghiệp. Tại đây, Phạm Tăng đã phát huy tối đa tài năng hội hoạ thiên bẩm, tốt nghiệp xuất sắc Viện Hàn lâm Mỹ thuật Rome. Sự chuyển dịch từ không gian Á Đông sang cái nôi nghệ thuật Phục hưng tại Ý, tạo nên một "khoảng cách" đủ xa để ông nhìn lại và tái định nghĩa bản sắc Việt. Sự cô độc trong lòng Châu Âu Sau năm 1954, Phạm Tăng di cư vào Nam và trở thành một họa sĩ hý họa (biếm họa) nổi tiếng tại Sài Gòn. Ông cộng tác với các tờ báo lớn như Tự Do, Văn Nghệ Tự Do, và Bách Khoa. Những bức hý họa châm biếm sắc sảo của ông trên báo Tự Do từng khiến ông bị bắt giam tại khám Catinat một thời gian. Sau này, khi ông đã định cư ở hải ngoại một thời gian dài, lúc được hỏi về sự kiện chính trị này, ông vẫn tuyên bố chắc nịch rằng bức tranh biếm hoạ đó không phải do ông vẽ. Tác phẩm “Thời gian” của Phạm Tăng. Nguồn: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Có lẽ, chính những va chạm với thực tại chính trị ngột ngạt và nỗi đau riêng (sự ra đi của người vợ đầu tiên năm 1954) đã thôi thúc ông tìm một lối thoát. Năm 1959, ở tuổi 34, ông nhận được học bổng sang Ý – đây mới chính là thời điểm ông thực sự đặt chân lên hành trình Rome. Một số tư liệu nhầm lẫn mốc 1954 là lúc ông sang Ý, nhưng thực tế 1954 là mốc ông di cư vào Sài Gòn trước khi đi Âu châu 5 năm sau đó. “Chúng ta lớn lên với tranh Tết Đông Hồ, với Đám Cưới Chuột, với Hái Dừa, Đánh Ghen, với Cá, với Gà, với Lợn... Người Pháp đưa đến cho chúng ta kỷ hà học, sơn dầu, thuốc nước. Tôi rất muốn đến tận nơi đã sản sinh ra những bậc thầy của hội hoạ Tây phương, ngoài hội hoạ Pháp mà mình đã biết, để xem từ xa xưa những bậc thầy hội hoạ ở đấy đã đưa lên khung vải cái nhìn thấy bằng đường nét, bằng màu sắc theo những cách nào… Lại đúng vào lúc có một học bổng đại học hội hoạ do Ý cấp. Thế là đi.” – Danh họa Phạm Tăng chia sẻ. Sống xa quê hương trong giai đoạn biến động, Phạm Tăng chọn lối sống ẩn dật để giữ cho tâm trí thanh sạch cho nghệ thuật. Đối với công chúng và cả những người ái mộ nghệ thuật của Phạm Tăng, ông dường như đã “bốc hơi”. Người ta vẫn thường truyền tai nhau rằng: “Người họa sĩ lớn lao đó vẫn sống ẩn dạng, âm thầm ở Roma, nhiều chục năm, sau khi ông được ghi nhận là đã đoạt vị trí khôi nguyên khi tốt nghiệp một trường cao đẳng hội họa danh tiếng ở Roma. “Giật gân” hơn, có người ngậm ngùi, ái ngại mà cho rằng, ông mất đã lâu!!! Nhưng tôn trọng di nguyện của người quá cố, thân nhân gia đình ông đã im lặng, tựa góp thêm một dòng sông thinh lặng, vào biển thinh lặng vốn có từ hơn nửa thế kỷ trước, kể từ khi ông rời khỏi Sài Gòn, với một học bổng 5 năm về Hội Họa ở La Mã.” – trích bài viết của Du Tử Lê trên nhật báo Người Việt. Ít ai biết, dù không thường xuyên xuất hiện trước công chúng, Phạm Tăng vẫn sáng tác nghệ thuật một cách bền bỉ, với tâm hồn rộng mở. Cho đến tận cuối đời, ông vẫn là một nghệ sĩ tràn đầy sức sống, giàu nội lực tiềm ẩn và vẫn luôn khát khao mãnh liệt đi tìm những cái mới. Bức tranh “Vũ trụ” được trưng bày riêng tại nhà của Phạm Tăng. Đây là bức tranh hiếm hoi ông còn giữ lại mặc dù được rất nhiều người hỏi mua với giá cao. Nguồn: Bài viết trên blog cá nhân của nhà thơ Du Tử Lê. Khác với nhiều họa sĩ chỉ học chuyên sâu một môn, Phạm Tăng tại Rome là một trường hợp "khủng" về sức học. Ông không hài lòng với việc chỉ biết vẽ. Ông đã lấy bằng tốt nghiệp của hầu hết các khoa tại Viện: Hội họa, Trang trí, Điêu khắc và Thiết kế sân khấu. Những năm đầu tại Rome, ông sống cực kỳ gian khổ, "thân cô thế cô" nơi đất khách. Có thời gian ông phải vừa học vừa làm, ngủ trên chiếc xe hơi cũ kỹ và rong ruổi khắp các thành phố lớn ở Ý để triển lãm tranh, tiện đâu ngủ đó để tiết kiệm chi phí. “Mình không tiếc đã bỏ Sài Gòn để đi tới vùng đất mới. Ở Sài Gòn mình sống sung túc, có thể gọi là thừa mứa. Đến Roma mình phải ở nhờ một tu viện nghèo của một dòng tu khổ hạnh. Tiền học bổng chỉ đủ để ăn mì với cà chua hoặc pizza chay. Không, không phải mình đến với hội hoạ phương Tây để học cách vẽ của họ đâu. Mình đến để tìm hiểu cái nhìn của họ bằng con mắt hội hoạ trong chiều dài nhiều thế kỷ, tại sao họ vẽ, vẽ cái gì, vẽ thế nào? Cứ thế sống dặt dẹo mấy năm cho đến khi hiểu ra rằng con đường tìm kiếm còn dài, mình còn cần đến một thứ vô duyên là tiền. Đành phải bán vài bức tranh vẽ theo phong cách Á đông bán cho khách chuộng lạ. Những bức tranh ấy sẽ chẳng ai biết đó là của Phạm Tăng – dưới mỗi bức mình ký một cái tên, toàn là tên bịa đặt.” – Chia sẻ của Phạm Tăng trong cuộc phỏng vấn tại nhà riêng. "Vẽ là để thấy cái không nhìn thấy" Quan điểm của Phạm Tăng trong hội hoạ cũng như cuộc sống là đề cao sự hòa hợp giữa Con người và Vũ trụ (Thiên - Địa - Nhân). Và để đạt đến cảnh giới đó, ông xây dựng nghệ thuật từ những “tế bào” nhỏ bé. Công trình này công phu đến nỗi, nó như thể ông đang tự xây dựng lại chính con người của mình. “Nguyên liệu đầu tiên để xây dựng họa phẩm của tôi là tế-bào. Ai cũng biết tế-bào là nguyên ủy của sự sống kết tinh từ thuở khai thiên lập địa. Trong cảnh hỗn mang của trời đất tế-bào sinh sôi nẩy nở kết tụ, thành mọi sinh vật sống từ côn trùng, cây cỏ, cầm thú cho đến con người. Trời đất hỗn mang khi xưa có khác chi cái xã hội hiện tại mà chúng ta đang sống? Tro bụi, điêu tàn, băng hoại, đổ vỡ. Gieo tế-bào như gieo mầm sống mới, trong một thế giới mới, với một tổ chức, một trật tự mới đặng thế vì cho những cái tàn rụi, nát rữa, trong hội họa, ngoài xã hội và ngay cả chính ta nữa…” – Bức thư hoạ sĩ Phạm Tăng trả lời báo Bách Khoa cuối năm 1973. Từ tế bào đầu tiên, ông đi dần tới sự tập hợp của hàng triệu tế bào. Ngắm nhìn những hình ảnh trong tranh của Phạm Tăng, công chúng có thể lờ mờ thấy phảng phất hình ảnh của chính tác giả. Có lẽ, với ông mỗi bức tranh không chỉ là những nét cọ trên toan, mà còn là một cuộc hành hương vào nội tâm sâu thẳm. Rời quê hương để bước vào “kinh đô vĩnh cửu”, Phạm Tăng không chỉ mang theo ký ức của một người Việt tha hương, mà còn mang theo những day dứt về lịch sử, thân phận và giá trị dân tộc. Chính sự cô độc nơi xứ người đã hun đúc nên nội lực phi thường, để từ những năm tháng gian khó nhất, ông từng bước xây dựng thế giới hội họa riêng biệt của mình. Nhưng để hiểu vì sao một họa sĩ từng khởi đầu bằng ký họa đời thường lại có thể đi đến những tầng sâu siêu hình của vũ trụ luận, cần nhìn lại hành trình chuyển hóa phong cách của ông qua từng chặng đường sáng tác. Đó sẽ là câu chuyện của kỳ tiếp theo, hãy cùng đón xem nhé!
