Trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, Lê Thy là một trong những bậc thầy sơn mài tiêu biểu của miền Nam. Dù hành trình nghệ thuật của ông không kéo dài và về sau chuyển hướng sang hoạt động báo chí, những gì Lê Thy để lại vẫn đủ để khẳng định vị thế đặc biệt trong lịch sử hội họa Việt Nam. Các tác phẩm của ông được giới chuyên môn đánh giá là những sáng tạo mang tinh thần “sơn mài đích thực” – nơi giá trị tạo hình, kỹ thuật và tư duy nghệ thuật đạt đến độ tinh luyện cao, vượt xa khuôn khổ của một sản phẩm thủ công mỹ nghệ thông thường để vươn tới địa hạt của nghệ thuật hàn lâm.

Chân dung hoạ sĩ Lê Thy. Nguồn: Đông Đương Gia Định Gallery.
Điểm tựa giáo dục nghệ thuật
Hoạ sĩ Lê Thy, tên thật là Trần Minh Thi, sinh năm 1919 tại Chợ Lớn, Sài Gòn (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) và mất năm 1961. Lớn lên trong môi trường đô thị sôi động, nơi diễn ra sự giao thoa mạnh mẽ giữa nhiều luồng văn hóa của vùng Đông Nam Bộ đầu thế kỷ XX, ông sớm hình thành một nhãn quan nghệ thuật nhạy bén và cởi mở.
Giai đoạn 1944 - 1945 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời sáng tác của Lê Thy khi ông ra Hà Nội theo học các lớp luyện thi của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Không chỉ là một cột mốc trên hành trình học tập, quãng thời gian này còn phản ánh sự kết nối và giao lưu giữa hai trung tâm nghệ thuật Bắc - Nam trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam đang từng bước hiện đại hóa.

Lê Thy, Bức tranh cá, tranh sơn mài, 120 x 120 cm. Nguồn: Đông Đương Gia Định Gallery.
Tại đây, Lê Thy được trực tiếp chỉ dẫn bởi họa sĩ Nam Sơn – người đồng sáng lập trường Đông Dương. Sự dìu dắt của bậc thầy hội họa đã giúp ông tiếp cận nền tảng tạo hình hàn lâm phương Tây một cách bài bản, đồng thời nuôi dưỡng tư duy nghệ thuật độc lập. Sau khi tốt nghiệp, Lê Thy từng bước định hình phong cách riêng và lựa chọn con đường sáng tác chuyên nghiệp. Năm 1947, ông quyết định dành trọn tâm huyết cho nghệ thuật sơn mài, mở đầu hành trình khẳng định tên tuổi như một trong những nghệ sĩ sơn mài xuất sắc nhất của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX.
Kỹ nghệ độc bản và Phong cách nghệ thuật "Sơn mài trũng"
Giới yêu nghệ thuật trong và ngoài nước luôn dành cho Lê Thy sự ngưỡng mộ đặc biệt bởi con đường sáng tạo riêng biệt mà ông theo đuổi. Trong khi nhiều nghệ sĩ đương thời lựa chọn sơn mài bóng (laque uni) hoặc sơn khắc nổi (laque sculpté), Lê Thy lại kiên trì khám phá và nâng tầm kỹ thuật sơn mài trũng (laque de Coromandel) – một hướng đi đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao cùng sự kiên nhẫn gần như tuyệt đối.
Quy trình sáng tác của ông nổi tiếng bởi sự công phu và tỉ mỉ. Theo nghiên cứu của GS. Nguyễn Thành Hiệp, về cơ bản, các công đoạn thực hiện tranh sơn mài của Lê Thy không khác nhiều so với quy trình truyền thống. Tuy nhiên, ở mỗi bước, ông đều tạo ra những cải tiến riêng, góp phần hình thành dấu ấn cá nhân không thể nhầm lẫn.

Lê Thy, Vịnh Hạ Long, sơn mài, 30 x 40 cm. Nguồn: Đông Đương Gia Định Gallery.
Ngay từ công đoạn làm vóc, Lê Thy đã đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe. Ông phủ vải mịn lên tấm gỗ, sử dụng hỗn hợp sơn pha đá bụi (ardoise pilée), sau đó mài giũa liên tục cho đến khi đạt được độ phẳng gần như tuyệt đối. Trên nền vóc ấy, hơn hai mươi lớp sơn được phủ chồng lên nhau một cách cẩn trọng, tạo nên chiều sâu và độ phong phú đặc trưng cho bề mặt tác phẩm. Sự kỳ công ấy đã gây ấn tượng mạnh với Guido Perocco – giám tuyển danh tiếng của Ý. Trong phần giới thiệu các nghệ sĩ Việt Nam tại Venice Biennale lần thứ 27, ông từng ví quá trình sáng tác tranh sơn mài của Lê Thy như một nghi lễ thiêng liêng, nơi mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tập trung và tận hiến tuyệt đối.
Ở công đoạn tạo hình, Lê Thy trực tiếp phác thảo rồi khắc chìm các đường nét xuống nhiều lớp sơn đã được phủ trước đó. Điểm đặc sắc trong kỹ thuật của ông nằm ở khả năng tạo những đường khắc đủ sâu để giữ màu sắc bền chắc, nhưng vẫn không làm tổn hại đến phần gỗ bên dưới. Nhờ vậy, các mảng màu trong lòng nét khắc luôn giữ được độ tươi sáng và chiều sâu thị giác đặc biệt.

Lê Thy, Đàn hươu giữa rừng, sơn mài trên vóc gỗ, 99 x 199 cm. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation.
Bên cạnh kỹ thuật chế tác điêu luyện, Lê Thy còn cho thấy tư duy chất liệu hết sức linh hoạt. Ông thường sử dụng sơn ta kết hợp với vàng và bạc dát mỏng như những yếu tố chủ đạo, tạo nên hiệu quả thị giác sang trọng và giàu sức biểu cảm. Trên nền tảng ấy, người nghệ sĩ tiếp tục bổ sung các vật liệu như đá bụi, vỏ trứng, xà cừ, màu son cùng nhiều chất liệu khác, qua đó xây dựng nên những bề mặt đa tầng, giàu xúc cảm và giá trị tạo hình. Chính sự kết hợp hài hòa giữa kỹ nghệ truyền thống và tinh thần tìm tòi sáng tạo đã góp phần đưa sơn mài Lê Thy trở thành một chuẩn mực đặc biệt trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.

Chữ ký của họa sĩ Lê Thy trên bức Đàn hươu giữa rừng. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation.
Tiếng vang trên đấu trường quốc tế
Trong số những nghệ sĩ Việt Nam sớm đưa tác phẩm ra thế giới, Lê Thy là một gương mặt nổi bật với hành trình bền bỉ khẳng định vị thế của hội họa Việt trên các diễn đàn quốc tế. Tên tuổi của ông xuất hiện tại nhiều triển lãm lớn ở Karachi, Milan, Rome, Paris, Manila, Genève và Lausanne – những không gian nghệ thuật quy tụ đông đảo nghệ sĩ đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Sự hiện diện liên tục ấy không chỉ cho thấy sức sáng tạo dồi dào của Lê Thy mà còn phản ánh khát vọng đưa sơn mài Việt Nam bước ra khỏi phạm vi bản địa để đối thoại với thế giới. Trong hành trình đó, hai dấu mốc nổi bật nhất chính là Triển lãm Genève (Thụy Sĩ) và Venice Biennale lần thứ 27 năm 1954.

Danh sách các triển lãm quốc tế có sự tham gia của họa sĩ Lê Thy.
Tại Genève, tranh của Lê Thy nhanh chóng thu hút sự chú ý của công chúng và giới phê bình quốc tế bởi chiều sâu chất liệu cùng hiệu quả thị giác đặc biệt được tạo nên từ nhiều lớp sơn chồng phủ, kết hợp với kỹ thuật khảm vàng, bạc và vỏ trứng tinh xảo. Các tác phẩm trưng bày cho thấy khả năng làm chủ chất liệu bậc thầy của ông, đồng thời khẳng định tiềm năng biểu đạt phong phú của nghệ thuật sơn mài Việt Nam.

Lê Thy, Phong cảnh Bến Tre, sơn mài, 60 x 90 cm. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation.
Nổi bật trong số đó là tác phẩm lịch sử Lê Lợi, nơi Lê Thy dung hòa thành công lối tổ chức mảng hình mang hơi hướng phương Tây với bảng màu cổ kính đậm tinh thần phương Đông. Bên cạnh đó, Biển lặng gây ấn tượng bởi hiệu ứng ánh sáng lung linh được tạo nên từ chất liệu xà cừ, gợi cảm giác mặt nước chuyển động dưới ánh sáng tự nhiên. Các tác phẩm khác như Hai Bà Trưng, Bến Tre, Nỗ lực, Chùa Hương, Hòa bình hay Gót sắt tiếp tục cho thấy sự công phu trong xử lý bề mặt, khả năng tổ chức hình ảnh chặt chẽ cùng sức biểu đạt giàu cảm xúc của người nghệ sĩ.
Tuy nhiên, dấu ấn vang dội nhất trong sự nghiệp của Lê Thy phải kể đến Venice Biennale lần thứ 27 năm 1954. Được ví như “Olympic của thế giới hội họa”, kỳ Biennale năm ấy quy tụ 31 quốc gia tham dự và là một trong những sự kiện mỹ thuật có quy mô lớn nhất thời bấy giờ. Việt Nam vinh dự có gian trưng bày riêng với hai đại diện là Lê Thy và Trần Thọ – một dấu mốc quan trọng đối với mỹ thuật Việt Nam trên trường quốc tế.

Lê Thy, Trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng, sơn mài trũng, 1948. Nguồn: hình ảnh gốc chụp cho triển lãm của ASAC.
Trong bối cảnh nghệ thuật Đông Dương vẫn còn là một nền mỹ thuật non trẻ đối với thế giới, sự hiện diện của hai nghệ sĩ Việt Nam tại Venice đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ giới chuyên môn. Trong cuốn catalogue chính thức của Biennale, giám tuyển người Ý Guido Perocco dành nhiều lời đánh giá tích cực cho tài năng và giá trị nghệ thuật trong sáng tác của họ. Đối với riêng Lê Thy, đây còn là sự ghi nhận quốc tế dành cho kỹ thuật sơn mài trũng Coromandel mà ông đã dành nhiều năm nghiên cứu, hoàn thiện và nâng lên thành một ngôn ngữ tạo hình đặc sắc.
Những tác phẩm được lựa chọn trưng bày tại Venice gồm Làng tôi (1948, sơn mài), Trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng (1948, sơn mài Coromandel), Hành hương (1952, sơn mài), Tết Trung Thu (1953, sơn mài) và Miền Thượng Việt Nam (1954, sơn mài). Bộ tác phẩm không chỉ phản ánh kỹ thuật điêu luyện và tư duy tạo hình riêng biệt của Lê Thy, mà còn góp phần giới thiệu vẻ đẹp của văn hóa, lịch sử và đời sống Việt Nam đến với công chúng quốc tế thông qua ngôn ngữ sơn mài đặc sắc.
Sự giao thoa thẩm mỹ Đông - Tây
Dù sự nghiệp sáng tác không kéo dài, Lê Thy vẫn để lại một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Cuộc đời nghệ thuật của ông giống như một vệt sao băng ngắn ngủi nhưng rực rỡ, đủ để khẳng định một quan niệm sáng tác nhất quán: sơn mài không đơn thuần là một nghề thủ công mỹ nghệ phục vụ trang trí, mà là một ngôn ngữ hội họa độc lập với khả năng biểu đạt nghệ thuật ở cấp độ cao nhất. Quan niệm ấy được thể hiện qua sự chuyên tâm với nghề, tinh thần lao động nghiêm cẩn và khát vọng không ngừng tìm tòi, đổi mới trong tạo hình.

Lê Thy, Khoảnh khắc thư giãn trong rừng, sơn mài, 60.5 x 92.5 cm. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation.
Ngôn ngữ nghệ thuật của Lê Thy mang tinh thần “hòa trộn nhưng không hòa tan”, nơi các giá trị thẩm mỹ Đông và Tây gặp gỡ một cách tự nhiên, hài hòa. Ông tiếp thu những thành tựu của mỹ thuật hiện đại phương Tây nhưng không đánh mất căn tính văn hóa và cảm quan nghệ thuật phương Đông vốn là nền tảng trong sáng tác của mình.
Những năm tháng học tập dưới mái Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng quá trình tiếp xúc với nghệ thuật châu Âu đã giúp Lê Thy hình thành tư duy tạo hình hàn lâm và cái nhìn giàu tính cấu trúc. Trong các tác phẩm của ông, người xem dễ dàng nhận thấy bố cục chặt chẽ, cách tổ chức không gian mạch lạc và đôi khi là sự xuất hiện của lối ghép mảng (mosaïque) mang hơi hướng nghệ thuật phương Tây. Tuy nhiên, đằng sau những ảnh hưởng ấy vẫn là một tâm hồn nghệ sĩ gắn bó sâu sắc với truyền thống dân tộc. Lê Thy trung thành với kỹ thuật phủ, mài nhiều lớp của sơn ta Việt Nam, đồng thời khai thác triệt để vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc và chiều sâu uẩn tịch của chất liệu truyền thống. Chính sự dung hòa giữa tư duy hiện đại và tinh thần truyền thống đã tạo nên bản sắc riêng cho nghệ thuật Lê Thy, giúp ông trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của hội họa sơn mài Việt Nam thế kỷ XX.

Lê Thy, Du xuân, sơn mài, 122 x 166 cm. Nguồn: Đông Đương Gia Định Gallery.
Vì vậy, Lê Thy đóng vai trò là chiếc cầu nối quan trọng đưa sơn mài Việt Nam (đặc biệt là dòng sơn mài phát triển tại miền Nam) thoát ra khỏi tư duy bản địa để hội nhập, đối thoại sòng phẳng với các xu hướng tạo hình phương Tây trên các diễn đàn nghệ thuật uy tín nhất thế giới. Ông chứng minh cho các thế hệ sau thấy rằng di sản truyền thống (sơn ta, kỹ thuật mài) nếu kết hợp với một tinh thần tìm tòi không mệt mỏi và tư duy hàn lâm hoàn toàn có thể tạo nên những kiệt tác nghệ thuật bất hủ.
Lời kết
Mặc dù sự nghiệp nghệ thuật của Lê Thy không quá dài, nhưng những nỗ lực của ông trong việc cách tân sơn mài và tận dụng những tinh túy dân tộc đã đủ sức tạo nên dấu ấn bền vững trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Những lớp sơn mài được ông dày công phủ, khắc và mài giũa không chỉ kết tinh kỹ nghệ bậc thầy, mà còn chứa đựng khát vọng đưa nghệ thuật Việt Nam đối thoại với thế giới bằng chính bản sắc riêng của mình. Từ những triển lãm quốc tế danh giá đến các tác phẩm hiếm hoi còn lưu dấu hôm nay, Lê Thy đã chứng minh rằng sơn mài không chỉ là chất liệu truyền thống, mà còn là một ngôn ngữ nghệ thuật độc lập, đủ sức khẳng định vị thế Việt Nam trên bản đồ mỹ thuật thế giới.
Bài viết có sử dụng tư liệu trích từ luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Xin cảm ơn tác giả Phạm Thị Điệp Giang đã cho phép trích dẫn tư liệu vào bài viết!
Related articles
Venice Biennale 1954 – Khi nghệ thuật Việt Nam bước vào “đấu trường Olympic hội họa”
Nếu thể thao có thế vận hội Olympic, khoa học có giải Nobel thì ở mảng nghệ thuật, Venice Biennale chính là định chế danh giá bậc nhất thế giới. Được tham gia Venice Biennale và triển lãm tác phẩm của mình trong không gian trưng bày quốc gia (National Pavilion) là sự chứng nhận tối cao nhất về vị thế chuyên môn tầm quốc tế mà một nghệ sĩ có thể mơ đạt tới. Và vào năm 1954, lần đầu tiên có hai nghệ sĩ Việt Nam được trưng bày tác phẩm tại Venice Biennale… Venice Biennale – “Thế vận hội” của nghệ thuật thị giác Ra đời vào năm 1895, Venice Biennale là một trong những sự kiện văn hóa và nghệ thuật đương đại danh giá lẫn lâu đời nhất thế giới, nơi những quốc gia tham dự sẽ mang đến các tác phẩm tiêu biểu nhất của nghệ sĩ đại diện. Sự kiện xoay quanh hai mảng nghệ thuật chính: Art Biennale – Triển lãm nghệ thuật, được tổ chức vào các năm chẵn và Architecture Biennale – Triển lãm kiến trúc vào các năm lẻ. Trong tiếng Ý, “biennale” có nghĩa là “hai năm một lần”, tương ứng với cách tổ chức xen kẽ này. Một vài catalogue và tờ rơi các triển lãm của hai nghệ sĩ Tran Tho và Le Thy tại các gallery của Ý trong những năm 1950 (Milan, Turin, Rome,…). Nguồn: Zanga Arts Space | Tư liệu trong luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Được tham gia Venice Biennale không chỉ là dấu mốc lịch sử đối với nền nghệ thuật của một quốc gia mà còn là đỉnh cao sự nghiệp của nghệ sĩ đại diện. Năm 1954, lần đầu tiên Việt Nam xuất hiện chính thức với tư cách một quốc gia độc lập có gian trưng bày riêng tại Venice Biennale lần 27. Giữa bối cảnh lịch sử đầy biến động của năm 1954, việc văn hóa và nghệ thuật Việt Nam cất tiếng nói sòng phẳng, tự tin bên cạnh 30 cường quốc mỹ thuật khác tại một kỳ biennale có quy mô lớn kỷ lục tính đến thời điểm bấy giờ mang ý nghĩa ngoại giao văn hóa vô cùng lớn lao. Hành trình "Mang chuông đi đánh xứ người" của Lê Thy và Trần Thọ Năm 1954 – Tiếng vang đầu tiên Năm 1954, giữa vô vàn biến động trong nước lẫn trên bàn cờ chính trị quốc tế, gian trưng bày riêng của Việt Nam tại Venice lại như một tuyên ngôn văn hóa mạnh mẽ về một quốc gia độc lập có nền mỹ thuật rực rỡ. Hai nghệ sĩ đại diện Việt Nam lúc đó là họa sĩ Trần Thọ và họa sĩ Lê Thy. Họ không chỉ đại diện cho nền nghệ thuật Việt Nam nói chung và thế hệ nghệ sĩ Nam Bộ đầy tài năng, sục sôi tinh thần tìm tòi nói riêng. Quan trọng hơn, họ mang đến Venice thứ ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng, độc bản nhất của Việt Nam để đối thoại với thế giới. Lê Thy, Une panthère noire sur un rocher en surplomb, auprès d’une cascade traversant une végétation luxuriante, l’animal guettant en contrebas un daim avançant sur un chemin longeant des rizière (Báo đen bên thác nước chờ săn nai), sơn mài, khoảng 1948. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation. Trần Thọ tham gia Venice Biennale với 9 tác phẩm đồ sộ, chia đều cho hai chất liệu lẫn hai thái cực: sơn mài nặng tính truyền thống, triết lý và tranh lụa thiên tính cảm xúc, hiện đại. Trong khi đó, bậc thầy sơn mài Lê Thy mang đến 5 tác phẩm sơn mài với các kỹ thuật đặc biệt của ông. Các tác phẩm của hai họa sĩ được vận chuyển vượt đại dương sang Ý. Tại đó, chúng phải vượt qua nhãn quan khắt khe của Guido Perocco – một trong những nhà phê bình, giám tuyển nghệ thuật quyền lực và có sức ảnh hưởng lớn nhất nước Ý suốt nhiều thập kỷ. Trần Thọ, Vessels (Những con tàu), sơn mài. Nguồn: Escritório De Arte. Không chỉ được tuyển duyệt, Trần Thọ và Lê Thy còn được Perocco đích thân viết lời giới thiệu trang trọng trong catalogue chính thức của Biennale 27, đề cao kỹ nghệ và tư duy tạo hình của hai nghệ sĩ Việt Nam. Tranh của hai ông được sánh vai cùng tác phẩm tham dự của nhiều nghệ sĩ lừng lẫy năm châu trong cùng kỳ Biennale 27 đó như Salvador Dalí, Willem de Kooning, Francis Bacon, Henri Matisse, v.v. Những điều này là minh chứng cho thấy tác phẩm của Trần Thọ và Lê Thy đã chạm đến tiêu chuẩn nghệ thuật hàn lâm khắt khe của thế giới. Năm 1956 – Sự bảo chứng cho đẳng cấp bền vững Nếu xem năm 1954 chỉ mới là sự "tò mò" của phương Tây với nghệ thuật Viễn Đông thì việc Trần Thọ tiếp tục được mời vào Biennale 28 (1956, không có sự tham gia của Lê Thy) là lời khẳng định chắc nịch rằng nghệ thuật của ông không phải hiện tượng nhất thời mà có giá trị học thuật nội tại vững chắc. Lần này, họa sĩ Trần Thọ tham gia với 7 tác phẩm sơn mài: I contadini del mio villaggio (1954) – Những người nông dân làng tôi. Studio (1954) – Xưởng vẽ. La rete (1955) – Cái lưới. Rovine Khmère (1955) – Di tích Khmer. Raccolta dei fiori (1955) – Hái hoa. I pescatori (1956) – Những ngư dân. Barche (1956) – Thuyền. (Thông tin tham khảo từ ASACdati. Tên tiếng Việt của tác phẩm là do người viết tạm dịch) Trần Thọ, Les Buffles (Những con trâu). Nguồn: World Bank Collection. Hành trình tham gia Venice Biennale hai kỳ liên tiếp này chứng minh vị thế của Trần Thọ đã được hệ thống hàn lâm châu Âu công nhận ở cấp độ cao nhất. Nhiều nguồn tư liệu cũng ghi nhận giống nhau rằng trong cả hai lần tham gia, họa sĩ Trần Thọ đều được nhận Honorary Mention – Giải danh dự, càng khẳng định thêm tài năng và vị thế của ông. Bước ngoặt định danh toàn cầu cho nghệ thuật Việt Trước khi bước ra thế giới, sơn mài thường bị soi chiếu hay đánh giá từ góc nhìn mang tính thuộc địa, hoặc bị giới học giả phương Tây đóng khung là một dạng "nghệ thuật trang trí" hay "kỹ nghệ thủ công" (craft). Sân khấu Venice Biennale chính là bệ phóng giúp Lê Thy và Trần Thọ đập tan định kiến “thủ công mỹ nghệ” đó. Họ chứng minh rằng sơn mài Việt Nam là một chất liệu hội họa thuần khiết, có khả năng tải được những tư duy bố cục đồ sộ, hàn lâm và các cấu trúc không gian phức tạp. Trần Thọ, Duas Mulheres (Hai người phụ nữ). Nguồn: Escritório De Arte. Việc trực tiếp đứng chung khán đài với tinh hoa mỹ thuật toàn cầu tại Venice vừa giúp hai ông có cơ hội cọ xát, đối thoại sòng phẳng với các trào lưu nghệ thuật hiện đại đang bùng nổ tại châu Âu, vừa xác lập đặc trưng thẩm mỹ độc bản của Lê Thy và Trần Thọ. Từ đó, họ làm giàu thêm thế giới quan sáng tác của mình, đồng thời định vị rõ ràng hơn lối đi riêng cho mỹ thuật nước nhà: Hiện đại hóa nhưng không đánh mất bản sắc. Lê Thy, Travelling scene in Tonkin (Cảnh du hành ở Bắc Kỳ), sơn mài, khoảng 1940 - 1949. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation. Sau hai ông, nhiều nghệ sĩ Việt Nam ở những thế hệ tiếp theo cũng đã có cơ hội chạm ngõ Venice Biennale, gầy dựng tên tuổi và mở rộng thêm vùng trời nghệ thuật riêng của mình từ đó. Năm 2026 đây, Việt Nam lại tiếp tục có nghệ sĩ đại diện tham gia Venice Biennale, kéo dài tiếp sợi duyên giữa nước ta với nền nghệ thuật hàn lâm quốc tế đã được chắp lại và se nên bởi hai bậc tiền bối: Lê Thy và Trần Thọ. Bài viết có sử dụng tư liệu trích từ luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Xin cảm ơn tác giả Phạm Thị Điệp Giang đã cho phép trích dẫn tư liệu vào bài viết!
Họa sĩ Lê Thy – Người định danh "Sơn mài đích thực" trên bản đồ nghệ thuật
Trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, Lê Thy là một trong những bậc thầy sơn mài tiêu biểu của miền Nam. Dù hành trình nghệ thuật của ông không kéo dài và về sau chuyển hướng sang hoạt động báo chí, những gì Lê Thy để lại vẫn đủ để khẳng định vị thế đặc biệt trong lịch sử hội họa Việt Nam. Các tác phẩm của ông được giới chuyên môn đánh giá là những sáng tạo mang tinh thần “sơn mài đích thực” – nơi giá trị tạo hình, kỹ thuật và tư duy nghệ thuật đạt đến độ tinh luyện cao, vượt xa khuôn khổ của một sản phẩm thủ công mỹ nghệ thông thường để vươn tới địa hạt của nghệ thuật hàn lâm. Chân dung hoạ sĩ Lê Thy. Nguồn: Đông Đương Gia Định Gallery. Điểm tựa giáo dục nghệ thuật Hoạ sĩ Lê Thy, tên thật là Trần Minh Thi, sinh năm 1919 tại Chợ Lớn, Sài Gòn (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) và mất năm 1961. Lớn lên trong môi trường đô thị sôi động, nơi diễn ra sự giao thoa mạnh mẽ giữa nhiều luồng văn hóa của vùng Đông Nam Bộ đầu thế kỷ XX, ông sớm hình thành một nhãn quan nghệ thuật nhạy bén và cởi mở. Giai đoạn 1944 - 1945 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời sáng tác của Lê Thy khi ông ra Hà Nội theo học các lớp luyện thi của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Không chỉ là một cột mốc trên hành trình học tập, quãng thời gian này còn phản ánh sự kết nối và giao lưu giữa hai trung tâm nghệ thuật Bắc - Nam trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam đang từng bước hiện đại hóa. Lê Thy, Bức tranh cá, tranh sơn mài, 120 x 120 cm. Nguồn: Đông Đương Gia Định Gallery. Tại đây, Lê Thy được trực tiếp chỉ dẫn bởi họa sĩ Nam Sơn – người đồng sáng lập trường Đông Dương. Sự dìu dắt của bậc thầy hội họa đã giúp ông tiếp cận nền tảng tạo hình hàn lâm phương Tây một cách bài bản, đồng thời nuôi dưỡng tư duy nghệ thuật độc lập. Sau khi tốt nghiệp, Lê Thy từng bước định hình phong cách riêng và lựa chọn con đường sáng tác chuyên nghiệp. Năm 1947, ông quyết định dành trọn tâm huyết cho nghệ thuật sơn mài, mở đầu hành trình khẳng định tên tuổi như một trong những nghệ sĩ sơn mài xuất sắc nhất của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX. Kỹ nghệ độc bản và Phong cách nghệ thuật "Sơn mài trũng" Giới yêu nghệ thuật trong và ngoài nước luôn dành cho Lê Thy sự ngưỡng mộ đặc biệt bởi con đường sáng tạo riêng biệt mà ông theo đuổi. Trong khi nhiều nghệ sĩ đương thời lựa chọn sơn mài bóng (laque uni) hoặc sơn khắc nổi (laque sculpté), Lê Thy lại kiên trì khám phá và nâng tầm kỹ thuật sơn mài trũng (laque de Coromandel) – một hướng đi đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao cùng sự kiên nhẫn gần như tuyệt đối. Quy trình sáng tác của ông nổi tiếng bởi sự công phu và tỉ mỉ. Theo nghiên cứu của GS. Nguyễn Thành Hiệp, về cơ bản, các công đoạn thực hiện tranh sơn mài của Lê Thy không khác nhiều so với quy trình truyền thống. Tuy nhiên, ở mỗi bước, ông đều tạo ra những cải tiến riêng, góp phần hình thành dấu ấn cá nhân không thể nhầm lẫn. Lê Thy, Vịnh Hạ Long, sơn mài, 30 x 40 cm. Nguồn: Đông Đương Gia Định Gallery. Ngay từ công đoạn làm vóc, Lê Thy đã đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe. Ông phủ vải mịn lên tấm gỗ, sử dụng hỗn hợp sơn pha đá bụi (ardoise pilée), sau đó mài giũa liên tục cho đến khi đạt được độ phẳng gần như tuyệt đối. Trên nền vóc ấy, hơn hai mươi lớp sơn được phủ chồng lên nhau một cách cẩn trọng, tạo nên chiều sâu và độ phong phú đặc trưng cho bề mặt tác phẩm. Sự kỳ công ấy đã gây ấn tượng mạnh với Guido Perocco – giám tuyển danh tiếng của Ý. Trong phần giới thiệu các nghệ sĩ Việt Nam tại Venice Biennale lần thứ 27, ông từng ví quá trình sáng tác tranh sơn mài của Lê Thy như một nghi lễ thiêng liêng, nơi mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tập trung và tận hiến tuyệt đối. Ở công đoạn tạo hình, Lê Thy trực tiếp phác thảo rồi khắc chìm các đường nét xuống nhiều lớp sơn đã được phủ trước đó. Điểm đặc sắc trong kỹ thuật của ông nằm ở khả năng tạo những đường khắc đủ sâu để giữ màu sắc bền chắc, nhưng vẫn không làm tổn hại đến phần gỗ bên dưới. Nhờ vậy, các mảng màu trong lòng nét khắc luôn giữ được độ tươi sáng và chiều sâu thị giác đặc biệt. Lê Thy, Đàn hươu giữa rừng, sơn mài trên vóc gỗ, 99 x 199 cm. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation. Bên cạnh kỹ thuật chế tác điêu luyện, Lê Thy còn cho thấy tư duy chất liệu hết sức linh hoạt. Ông thường sử dụng sơn ta kết hợp với vàng và bạc dát mỏng như những yếu tố chủ đạo, tạo nên hiệu quả thị giác sang trọng và giàu sức biểu cảm. Trên nền tảng ấy, người nghệ sĩ tiếp tục bổ sung các vật liệu như đá bụi, vỏ trứng, xà cừ, màu son cùng nhiều chất liệu khác, qua đó xây dựng nên những bề mặt đa tầng, giàu xúc cảm và giá trị tạo hình. Chính sự kết hợp hài hòa giữa kỹ nghệ truyền thống và tinh thần tìm tòi sáng tạo đã góp phần đưa sơn mài Lê Thy trở thành một chuẩn mực đặc biệt trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Chữ ký của họa sĩ Lê Thy trên bức Đàn hươu giữa rừng. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation. Tiếng vang trên đấu trường quốc tế Trong số những nghệ sĩ Việt Nam sớm đưa tác phẩm ra thế giới, Lê Thy là một gương mặt nổi bật với hành trình bền bỉ khẳng định vị thế của hội họa Việt trên các diễn đàn quốc tế. Tên tuổi của ông xuất hiện tại nhiều triển lãm lớn ở Karachi, Milan, Rome, Paris, Manila, Genève và Lausanne – những không gian nghệ thuật quy tụ đông đảo nghệ sĩ đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Sự hiện diện liên tục ấy không chỉ cho thấy sức sáng tạo dồi dào của Lê Thy mà còn phản ánh khát vọng đưa sơn mài Việt Nam bước ra khỏi phạm vi bản địa để đối thoại với thế giới. Trong hành trình đó, hai dấu mốc nổi bật nhất chính là Triển lãm Genève (Thụy Sĩ) và Venice Biennale lần thứ 27 năm 1954. Danh sách các triển lãm quốc tế có sự tham gia của họa sĩ Lê Thy. Tại Genève, tranh của Lê Thy nhanh chóng thu hút sự chú ý của công chúng và giới phê bình quốc tế bởi chiều sâu chất liệu cùng hiệu quả thị giác đặc biệt được tạo nên từ nhiều lớp sơn chồng phủ, kết hợp với kỹ thuật khảm vàng, bạc và vỏ trứng tinh xảo. Các tác phẩm trưng bày cho thấy khả năng làm chủ chất liệu bậc thầy của ông, đồng thời khẳng định tiềm năng biểu đạt phong phú của nghệ thuật sơn mài Việt Nam. Lê Thy, Phong cảnh Bến Tre, sơn mài, 60 x 90 cm. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation. Nổi bật trong số đó là tác phẩm lịch sử Lê Lợi, nơi Lê Thy dung hòa thành công lối tổ chức mảng hình mang hơi hướng phương Tây với bảng màu cổ kính đậm tinh thần phương Đông. Bên cạnh đó, Biển lặng gây ấn tượng bởi hiệu ứng ánh sáng lung linh được tạo nên từ chất liệu xà cừ, gợi cảm giác mặt nước chuyển động dưới ánh sáng tự nhiên. Các tác phẩm khác như Hai Bà Trưng, Bến Tre, Nỗ lực, Chùa Hương, Hòa bình hay Gót sắt tiếp tục cho thấy sự công phu trong xử lý bề mặt, khả năng tổ chức hình ảnh chặt chẽ cùng sức biểu đạt giàu cảm xúc của người nghệ sĩ. Tuy nhiên, dấu ấn vang dội nhất trong sự nghiệp của Lê Thy phải kể đến Venice Biennale lần thứ 27 năm 1954. Được ví như “Olympic của thế giới hội họa”, kỳ Biennale năm ấy quy tụ 31 quốc gia tham dự và là một trong những sự kiện mỹ thuật có quy mô lớn nhất thời bấy giờ. Việt Nam vinh dự có gian trưng bày riêng với hai đại diện là Lê Thy và Trần Thọ – một dấu mốc quan trọng đối với mỹ thuật Việt Nam trên trường quốc tế. Lê Thy, Trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng, sơn mài trũng, 1948. Nguồn: hình ảnh gốc chụp cho triển lãm của ASAC. Trong bối cảnh nghệ thuật Đông Dương vẫn còn là một nền mỹ thuật non trẻ đối với thế giới, sự hiện diện của hai nghệ sĩ Việt Nam tại Venice đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ giới chuyên môn. Trong cuốn catalogue chính thức của Biennale, giám tuyển người Ý Guido Perocco dành nhiều lời đánh giá tích cực cho tài năng và giá trị nghệ thuật trong sáng tác của họ. Đối với riêng Lê Thy, đây còn là sự ghi nhận quốc tế dành cho kỹ thuật sơn mài trũng Coromandel mà ông đã dành nhiều năm nghiên cứu, hoàn thiện và nâng lên thành một ngôn ngữ tạo hình đặc sắc. Những tác phẩm được lựa chọn trưng bày tại Venice gồm Làng tôi (1948, sơn mài), Trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng (1948, sơn mài Coromandel), Hành hương (1952, sơn mài), Tết Trung Thu (1953, sơn mài) và Miền Thượng Việt Nam (1954, sơn mài). Bộ tác phẩm không chỉ phản ánh kỹ thuật điêu luyện và tư duy tạo hình riêng biệt của Lê Thy, mà còn góp phần giới thiệu vẻ đẹp của văn hóa, lịch sử và đời sống Việt Nam đến với công chúng quốc tế thông qua ngôn ngữ sơn mài đặc sắc. Sự giao thoa thẩm mỹ Đông - Tây Dù sự nghiệp sáng tác không kéo dài, Lê Thy vẫn để lại một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Cuộc đời nghệ thuật của ông giống như một vệt sao băng ngắn ngủi nhưng rực rỡ, đủ để khẳng định một quan niệm sáng tác nhất quán: sơn mài không đơn thuần là một nghề thủ công mỹ nghệ phục vụ trang trí, mà là một ngôn ngữ hội họa độc lập với khả năng biểu đạt nghệ thuật ở cấp độ cao nhất. Quan niệm ấy được thể hiện qua sự chuyên tâm với nghề, tinh thần lao động nghiêm cẩn và khát vọng không ngừng tìm tòi, đổi mới trong tạo hình. Lê Thy, Khoảnh khắc thư giãn trong rừng, sơn mài, 60.5 x 92.5 cm. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation. Ngôn ngữ nghệ thuật của Lê Thy mang tinh thần “hòa trộn nhưng không hòa tan”, nơi các giá trị thẩm mỹ Đông và Tây gặp gỡ một cách tự nhiên, hài hòa. Ông tiếp thu những thành tựu của mỹ thuật hiện đại phương Tây nhưng không đánh mất căn tính văn hóa và cảm quan nghệ thuật phương Đông vốn là nền tảng trong sáng tác của mình. Những năm tháng học tập dưới mái Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng quá trình tiếp xúc với nghệ thuật châu Âu đã giúp Lê Thy hình thành tư duy tạo hình hàn lâm và cái nhìn giàu tính cấu trúc. Trong các tác phẩm của ông, người xem dễ dàng nhận thấy bố cục chặt chẽ, cách tổ chức không gian mạch lạc và đôi khi là sự xuất hiện của lối ghép mảng (mosaïque) mang hơi hướng nghệ thuật phương Tây. Tuy nhiên, đằng sau những ảnh hưởng ấy vẫn là một tâm hồn nghệ sĩ gắn bó sâu sắc với truyền thống dân tộc. Lê Thy trung thành với kỹ thuật phủ, mài nhiều lớp của sơn ta Việt Nam, đồng thời khai thác triệt để vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc và chiều sâu uẩn tịch của chất liệu truyền thống. Chính sự dung hòa giữa tư duy hiện đại và tinh thần truyền thống đã tạo nên bản sắc riêng cho nghệ thuật Lê Thy, giúp ông trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của hội họa sơn mài Việt Nam thế kỷ XX. Lê Thy, Du xuân, sơn mài, 122 x 166 cm. Nguồn: Đông Đương Gia Định Gallery. Vì vậy, Lê Thy đóng vai trò là chiếc cầu nối quan trọng đưa sơn mài Việt Nam (đặc biệt là dòng sơn mài phát triển tại miền Nam) thoát ra khỏi tư duy bản địa để hội nhập, đối thoại sòng phẳng với các xu hướng tạo hình phương Tây trên các diễn đàn nghệ thuật uy tín nhất thế giới. Ông chứng minh cho các thế hệ sau thấy rằng di sản truyền thống (sơn ta, kỹ thuật mài) nếu kết hợp với một tinh thần tìm tòi không mệt mỏi và tư duy hàn lâm hoàn toàn có thể tạo nên những kiệt tác nghệ thuật bất hủ. Lời kết Mặc dù sự nghiệp nghệ thuật của Lê Thy không quá dài, nhưng những nỗ lực của ông trong việc cách tân sơn mài và tận dụng những tinh túy dân tộc đã đủ sức tạo nên dấu ấn bền vững trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Những lớp sơn mài được ông dày công phủ, khắc và mài giũa không chỉ kết tinh kỹ nghệ bậc thầy, mà còn chứa đựng khát vọng đưa nghệ thuật Việt Nam đối thoại với thế giới bằng chính bản sắc riêng của mình. Từ những triển lãm quốc tế danh giá đến các tác phẩm hiếm hoi còn lưu dấu hôm nay, Lê Thy đã chứng minh rằng sơn mài không chỉ là chất liệu truyền thống, mà còn là một ngôn ngữ nghệ thuật độc lập, đủ sức khẳng định vị thế Việt Nam trên bản đồ mỹ thuật thế giới. Bài viết có sử dụng tư liệu trích từ luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Xin cảm ơn tác giả Phạm Thị Điệp Giang đã cho phép trích dẫn tư liệu vào bài viết!
