Khi nhắc đến Tát nước đồng Chiêm của danh họa Trần Văn Cẩn hay Vườn xuân Trung Nam Bắc của danh họa Nguyễn Gia Trí, có lẽ ít người biết rằng những bảo vật sơn mài Việt Nam này sẽ không tồn tại nếu không vì sự tìm tòi và công khai phá của một nhà giáo phương Tây. Ông ấy, bên cạnh Victor Tardieu, cũng là một trong những linh hồn của Trường Mỹ thuật Đông Dương thời đó. Ông là người thầy của những danh họa Việt Nam, người biến sơn ta thành một chất liệu hội họa thực sự và người đã góp phần khai sinh ra nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Đó chính là Joseph Inguimberty.

Chân dung họa sĩ Joseph Inguimberty. Nguồn: LUXUO.
Có một chàng trai Marseille…
Joseph Marie Inguimberty là một họa sĩ với chất liệu chính là sơn dầu. Ông sinh vào 18/01/1896 tại Marseille, một thành phố cảng Địa Trung Hải ở Pháp.

Joseph Inguimberty, Bassins de la joliette (Bể cảng tại Joliette), sơn dầu trên canvas, 1963. Nguồn: MutualArt.
Marseille vào cuối thế kỷ 19 không phải Paris, nhưng vẫn là một đô thị có nền tảng văn hóa vững vàng với bảo tàng Musée des Beaux-Arts de Marseille – Bảo tàng Mỹ thuật Marseille gần trăm tuổi (thành lập 1801) và đặc biệt là trường École supérieure des beaux-arts in Marseille – Trường Cao đẳng Mỹ thuật Marseille (thành lập 1752) với truyền thống mở lớp vẽ rộng rãi cho công chúng ở nhiều lứa tuổi và trình độ, kể cả người vừa làm vừa học nghề.
Trong khí quyển của một thành phố xem hội họa vừa là văn hóa, vừa là thực hành được coi trọng, việc Joseph Inguimberty sớm tiếp xúc với hội họa là một lẽ tự nhiên.
Hành trình học tập và làm nghệ thuật tại châu Âu
Năm 1910, khoảng 14 tuổi, Joseph Inguimberty vào học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Marseille. Ban đầu, ông phân vân giữa hai ngành kiến trúc và hội họa nhưng cuối cùng đã chọn đi theo cọ, màu và giá vẽ.

Alphonse Moutte, Unloading a Brig at Marseille Harbor (Hạ thủy tàu buồm tại cảng Marseille), sơn dầu trên canvas, 1900. Nguồn: Wikipedia.
Giai đoạn này, trường đang được dẫn dắt bởi họa sĩ theo chủ nghĩa tự nhiên (naturalist) Alphonse Moutte. Rất có thể điều này đã gián tiếp ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật của Joseph về sau, bởi những tác phẩm của Alphonse Moutte thường xoay quanh khung cảnh đời thường và vùng Marseille – là những đề tài có thể bắt gặp trong chuỗi tác phẩm của Joseph từ 1922 đến 1924 khi ông vẽ thế giới lao động ở cảng Marseille, lẫn trong tranh vẽ làng quê và con người sau khi ông đến Đông Dương.
Năm 1913, ông được nhận vào học trường École nationale supérieure des Arts Décoratifs – Trường Nghệ thuật Trang trí Quốc gia tại Paris. Tuy nhiên, việc học của ông bị gián đoạn bởi Thế Chiến thứ Nhất; ông bị điều động nhập ngũ và tham gia lực lượng bộ binh. Năm 1917, ông bị thương khi đang tham chiến tại thành phố Reims.

Trường École nationale supérieure des Arts Décoratifs ngày nay tại Paris. Nguồn: ENSAD.
Sau Hiệp định đình chiến năm 1918, ông quay lại Trường Nghệ thuật Trang trí Quốc gia và tiếp tục học tập dưới sự dẫn dắt của họa sĩ Eugène Édouard Morand. Đây cũng là giai đoạn ông được gặp gỡ Maurice Brianchon, Raymond Legueult và Roland Oudot, ba họa sĩ mà về sau trở thành những cái tên tiên phong trong nhóm Peintres de la Réalité Poétique – Họa sĩ của Hiện thực Thơ mộng, những họa sĩ cũng chú trọng đến gìn giữ các khung cảnh của đời thường nhưng trong một khí quyển thơ mộng hơn thay vì gai góc.
Những năm đầu thập niên 1920, ông thực hiện nhiều chuyến đi - vẽ khắp châu Âu. Các sáng tác của ông trong giai đoạn này dành nhiều sự quan tâm cho đời sống người công nhân. Một tác phẩm tiêu biểu của ông giữa những chuyến đi đó là bộ ba tranh khắc họa thế giới lao động tại cảng Marseille: le débarquement des arachides (bốc dỡ đậu phộng - 1922), le débarquement du plâtre (bốc dỡ thạch cao - 1923) và Marseille (1924).

Joseph Inguimberty, Le débarquement du plâtre (Bốc dỡ thạch cao), sơn dầu trên canvas, 1923. Nguồn: Paris-Côte d’Azur.
Ngoài ra, ông cũng thực hiện những triển lãm đầu tiên của mình và thông qua chúng giành được nhiều giải thưởng, phải kể đến là Prix Blumenthal – Giải thưởng Blumenthal năm 1922 và Prix National – Giải thưởng Quốc gia Pháp năm 1924.
Giảng dạy và sáng tác tại Đông Dương
Tiếng tăm của Joseph Inguimberty sớm lọt đến tai Victor Tardieu, nhà sáng lập của École des Beaux-Arts de l’Indochine – Trường Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1925, Victor Tardieu gửi lời mời và được Joseph Inguimberty đồng ý trở thành giảng viên bộ môn trang trí (art décoratif) và nặn tượng (modelage).

Tập thể giảng viên và học viên Trường Mỹ Thuật Đông Dương. Nguồn: LUXUO.
Ngay khi đặt chân đến Đông Dương, hơi thở hiện thực của Joseph Inguimberty lập tức bắt nhịp với những gì tại đó: những đồng lúa trĩu vàng, bản làng trầm nâu, lối sống dung dị và nếp lao động cần mẫn của người dân An Nam. Song song với giảng dạy, tại Đông Dương, ông miệt mài sáng tác, chuyển tải sự say mê của mình dành cho vùng đất này vào tranh. Sự yêu mến ông dành cho đồng quê Việt Nam mạnh mẽ đến mức nhà phê bình Nguyễn Quang Phòng từng nhận xét rằng “Inguimberty giống hệt như một họa sĩ Việt Nam, người am hiểu và yêu mến quê hương mình”.
Ông dành hơn 20 năm giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Đông Dương, trở thành người thầy thân thương và gắn bó của nhiều danh họa Việt Nam sau này như Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh, Mai Trung Thứ, Tô Ngọc Vân, Vũ Cao Đàm – do đó, góp phần khai sinh nền nghệ thuật hiện đại ở Việt Nam.

Joseph Inguimberty, Red river delta (châu thổ sông Hồng), sơn dầu trên canvas, 1930. Nguồn: witnesscollection.com và sách “JOSEPH INGUIMBERTY 1896-1971”, Giulia Pentcheff xuất bản tháng 6 năm 2012.
Một trong những đóng góp lớn khác của ông cho nghệ thuật Việt Nam là đưa sơn mài từ địa phận thủ công, trang trí trở thành một chất liệu hội họa hiện đại. Ấn tượng trước các kỹ nghệ trang trí bằng sơn ta ở đền chùa, miếu mạo, Joseph Inguimberty bắt đầu nghiên cứu, giảng dạy và khuyến khích các sinh viên của mình thử nghiệm với sơn mài trong một tinh thần cách tân. Đến năm 1938, dưới thời hiệu trưởng Évariste Jonchère, bộ môn sơn mài chính thức được đưa vào giảng dạy với nghệ nhân Đinh Văn Thành và nữ họa sĩ người Pháp Alix Aymé. Nhắc đến đóng góp đó của Joseph Inguimberty, danh họa Nguyễn Gia Trí đã chia sẻ: “Nếu không có ‘cụ I’ và bác phó Thành thì cũng không có sơn mài của tôi. Công đức của cụ I lớn lắm”.
Từ năm 1940 trở đi, tình hình chiến tranh ngày càng leo thang tại Đông Dương dẫn đến những gián đoạn trong hoạt động của Trường Mỹ thuật Đông Dương. Đến năm 1946, Joseph Inguimberty buộc phải chia tay vùng đất phương Đông ông đã hết lòng dành cho để vĩnh viễn quay về Pháp.
Sau khi trở về Pháp
Sau khi về Pháp, ông chuyển đến sống tại Menton, quê nhà của vợ ông. Sự say mê của ông bắt đầu hướng về cảnh quan vùng Provence: những hàng ô-liu ngút mắt, những cánh đồng oải hương mơ màng dưới bóng rặng núi Alpilles, những ngôi làng vùi êm đềm trong lòng thung lũng Roya.
Thế nhưng, quãng đời ở Đông Dương cũng đã mãi mãi thay đổi cách vẽ của Joseph Inguimberty. Ông vẽ cảnh quang Provence bằng thứ cảm thức đã dành cho những đồng lúa bạt ngàn ở Đông Dương, bằng những gam màu tương phản như ông đã chứng kiến trong nếp sống Đông Kinh thế kỷ 20. Một “Hiện thực của Joseph Inguimberty” đã nên hình hài trong giai đoạn này.

Joseph Inguimberty, Vallon en Provence (Thung lũng ở Provence), sơn dầu trên canvas. Nguồn: Galerie Pentcheff.
Ông tiếp tục sáng tác suốt phần đời còn lại, trở nên một họa sĩ thành danh, thường được các phòng tranh nổi tiếng tại Paris bấy giờ – như Charpentier et Romanet – trưng bày tác phẩm. Những ngày tháng đi - ngắm - vẽ cứ thế trôi qua. Joseph Inguimberty vẫn lặng lẽ ghi giữ lại thiên nhiên, đời sống theo lăng kính của riêng mình. Năm 1971, ngày 08 tháng 10, cõi hiện thực của ông ngừng mở rộng thêm những biên độ mới. Ông khép lại hành trình của mình ngay tại Menton.
Ngày nay, những sáng tác của ông vẫn đang được gìn giữ và trưng bày tại nhiều nơi, bao gồm cả các bảo tàng nghệ thuật lớn ở quê hương Marseille. Những tác phẩm của ông được yêu thích và nghiên cứu không chỉ vì chúng đã ghi lại một giai đoạn lịch sử mà còn bởi khi đứng trước một bức tranh từ Joseph Inguimberty, ta sẽ phải kinh ngạc, ngỡ ngàng rồi thắc mắc và thậm chí hoài nghi về khả năng bắt giữ hiện thực của ông. Một họa sĩ có thể vẽ quê hương của mình rất đẹp là chuyện không có gì để nói. Nhưng một người phương Tây mà có thể vẽ Việt Nam sống động hơn cả người Việt… có bí ẩn gì đằng sau bút pháp của ông? Có một thủ thuật nào ông đã vận dụng tốt hơn các họa sĩ nước mình? Hay đó là một vấn đề vượt ngoài kỹ năng và chỉ có thể tìm lờ mờ được đáp án khi bóc tách vào chiều sâu của một con người?
Mời các bạn cùng khám phá tiếp trong Joseph Inguimberty – Giữa hiện thực, người nhìn thấy kỳ quan (Kỳ 2) nhé!
Related articles
Joseph Inguimberty – Giữa hiện thực, người nhìn thấy kỳ quan (Kỳ 2)
Một họa sĩ có thể vẽ quê hương của mình rất đẹp là chuyện không có gì để nói. Nhưng một người phương Tây mà có thể vẽ Việt Nam sống động hơn cả người Việt… có bí ẩn gì đằng sau bút pháp của Joseph Inguimberty? Những “triệu chứng” của một người say mê hiện thực Suốt giai đoạn theo học tại trường École nationale supérieure des Arts Décoratifs – Trường Nghệ thuật Trang trí Quốc gia tại Paris, Joseph Inguimberty đã bộc lộ nhiều “triệu chứng” của một họa sĩ say mê với hiện thực, với cái đời thường của cuộc sống quanh mình. Ông thực hiện rất nhiều chuyến đi - vẽ tại các nước châu Âu như Hà Lan, Bỉ, Ý, Tây Ban Nha. Năm 1920, ông thậm chí còn được trao một bourse de voyage – một khoản tài trợ để du hành và sáng tác. Tại quê nhà Marseille lẫn những nơi ông đến, chủ đề sáng tác chính vẫn xoay quanh cảnh quang, đời sống thường ngày, con người trong công cuộc lao động. Hiếm thấy, thậm chí là không có, những yếu tố dữ dội, phê phán, tôn giáo, kịch tính hóa hay phản ánh một thái độ gay gắt nào đó với xã hội. Joseph Inguimberty, Le débarquement du plâtre (Bốc dỡ thạch cao), sơn dầu trên canvas, 1923. Nguồn: Paris-Côte d’Azur. Khi xem các tác phẩm của ông ở giai đoạn này trong những bộ sưu tập được công khai đến đại chúng, có thể thấy tranh ông thường được cấu trúc từ những mảng lớn, chắc, nặng nhưng khi đứng cạnh nhau, chúng giao thoa vào nhau nhẹ nhàng và vẫn mang lại cảm giác thanh lịch. Đối tượng trong tranh của ông thường là các toàn cảnh: toàn cảnh cảng, toàn cảnh tòa thị chính, toàn cảnh ngoại ô. Khi con người được đưa vào tranh của ông, họ cũng xuất hiện theo nhóm, làm việc theo tập thể. Con người như một đơn vị trong toàn cảnh câu chuyện lao động mà ông muốn khắc họa chứ ít khi nào hiện lên như một câu chuyện cá nhân. Ông sử dụng chủ yếu các màu thiên về đất, nâu, xám, trắng bụi. Trong các tranh về lao động, những màu sắc này như làm người xem cảm nhận được cái nặng của kiện hàng, cái nắng chói trên quần áo người công nhân, lên đất cảng. Đặt những màu này trước thấp thoáng màu xanh của trời, của biển cũng làm dễ dàng cảm giác ra cái rộng lớn của một cảng biển sầm uất. Một điểm kỳ thú nữa là cách ông xử lý màu sắc vào giai đoạn này dường như chuyển tải được cả cái khí hậu và thời tiết của châu Âu đến người xem: độ trong, lạnh, tĩnh của không khí ở miền quê, miền biển châu Âu như có thể được cảm nhận trọn vẹn khi đứng trước tranh của ông. Đông Dương qua lăng kính trực họa Ở loạt tác phẩm ông thực hiện suốt thời gian dạy học tại Đông Dương, cách ông xử lý bố cục – bằng những mảng lớn xếp đặt vào nhau hài hòa – dường như không thay đổi. Nhưng ở phương diện màu sắc, các sáng tác của ông trong giai đoạn này khác biệt rõ rệt so với trước kia. Ông bắt đầu dùng nhiều màu có độ nóng hơn như vàng, cam – những màu sắc bản địa với địa hình, cảnh quang, thời tiết, khí hậu và con người Đông Dương. Những gam màu mới này thường được đặt trên những mảng xanh rêu của cây cối, rặng tre, bụi dừa và những dải nâu của con đường chợ, của bờ bao ruộng lúa – những mảng đặc trưng của vùng nông thôn Bắc Kỳ ngày đó. Joseph Inguimberty, Le retour du Marche (Đi chợ về), sơn dầu trên canvas, 1933. Nguồn: Viet Art View. Hình thể con người trong tranh của ông cũng ít nhiều khác hơn, hiện lên mềm, uyển chuyển, tha thướt hơn trong những tà áo dài hay những dáng đi, dáng ngồi chơi, dáng nằm nghỉ. Người lao động An Nam cũng không mang lại cảm giác như họ đang làm việc nặng nề như người dỡ hàng ở cảng Marseille: quang gánh có độ đong đưa, bước chân thăn thoắt, có tán dừa đang rũ trên đầu và con đường làng lạnh đất dưới chân. Khi đến sống và làm việc tại Đông Dương, ông vẫn duy trì thói quen trực họa như đã rong ruổi qua nhiều miền đất châu Âu. Trong khi Victor Tardieu, nhà sáng lập École des Beaux-Arts de l’Indochine – Trường Mỹ thuật Đông Dương, đề cao việc vẽ và sáng tác trong studio, Joseph Inguimberty dường như chỉ chịu vẽ ở ngoài trời, hay nói cách khác, là ở giữa hiện thực của đời thường, của cuộc sống. Ông thường hay đi - vẽ và cũng khuyến khích các học trò của mình cùng ông da du để vẽ và nghiên cứu địa hình, ánh sáng, đổ bóng của cảnh quang ở khắp nơi. Họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp, trong những câu chuyện được con trai là họa sĩ Nguyễn Đức Hòa ghi chép và chia sẻ lại, kể rằng “thầy I” – cách gọi thân tình của học trò dành cho Joseph Inguimberty – rất hay đi vẽ cảnh làng quê Việt Nam; Thầy I chọn xưởng vẽ ngay trong làng Kim Liên chứ không phải ngoài phố. Một lần chấm bài và biết người học trò vẽ làng của cậu, thầy I đã ngỏ ý muốn đến quê của họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp để vẽ. Đó là chuyến đi trực họa 4 ngày ở thôn Vân Tình bên tả ngạn sông Hồng. Thầy I còn đặt người làng dựng chòi tre để đứng ngay trên đê vẽ mà không sợ mưa nắng. Ảnh chụp họa sĩ Inguimberty và chòi vẽ dùng bên hữu ngạn sông Hồng (bên Hà Nội). Nguồn: Đức Hòa chụp lại từ sách “JOSEPH INGUIMBERTY 1896-1971”, Giulia Pentcheff xuất bản tháng 6 năm 2012 / LUXUO. Kỹ năng quan sát đời sống của ông dường như đạt đến một đỉnh cao chín muồi khi ở Đông Dương. Sự quan sát của ông đi sâu hơn là chỉ dáng vẻ bề ngoài. Trong bóng râm của rặng cây, sức nặng của bước chân trâu, nếp uốn của tà áo dài, bạt ngàn của đồng lúa, Joseph Inguimberty có lẽ đã nắm bắt được hơi thở sự thật ở bản chất của những điều này để chuyển tải chúng lên tranh mà làm người xem như cảm nhận rõ được từ khí hậu nhiệt đới, thời tiết nóng ẩm miền Bắc cho đến nhịp sống, nhịp đời của những người dân An Nam. Một người bạn của Joseph Inguimberty, nhà nhân chủng học người Pháp Pierre Gourou, từng nhận xét rằng: “Inguimberty không chỉ say mê với những đồng lúa, hàng cây, rặng tre, mái nhà lợp mà ông đã vẽ; ông còn hứng thú tới việc lúa được gieo ra sao, cấy thế nào và tưới bằng cách gì”. Họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp, trong cùng những câu chuyện kể với con trai, nói rằng: “Không thể ngờ thầy là Tây mà tả ra rất dễ dàng mạ non, lúa non, lúa đang thì con gái, lúa sắp chín, ruộng khoai, ruộng đã cày, ruộng đã bừa mà chưa cấy, đầm sen… thậm chí tả được cả ruộng hoang mọc lởm chởm cỏ năn, cỏ lác. [...]. Khó nhất là thầy vẽ các hàng lúa non mới cấy uốn lượn điệu đà mà lại hết sức tự nhiên, và thầy lách bút bẹt để tả bóng mạ chèn bóng nước một cách ngon ơ mà đầy hiệu quả. Sau này họa sĩ người Việt ‘dám’ tả ruộng lúa mới cấy cũng không nhiều. Dường như chỉ có vài ba tên tuổi như Trịnh Hữu Ngọc, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tiến Chung, Trần Đình Thọ – đều là các trò cũ của thầy – có thể vẽ ruộng mạ hay lúa đẹp tương tự như thầy”. Joseph Inguimberty, Famille dans la riziere (Cả nhà bên đồng lúa), sơn dầu trên toan, 29x80 cm, thuộc bộ sưu tập tư nhân. Nguồn: Đức Hòa chụp lại từ sách “JOSEPH INGUIMBERTY 1896-1971”, Giulia Pentcheff xuất bản tháng 6 năm 2012 / LUXUO. Có thể thấy Joseph Inguimberty không chỉ quan tâm đến hiện thực ở cái vẻ ngoài của nó. Ông cố gắng để nắm bắt được cái cốt tủy nhất của hiện thực ở quanh mình hòng chuyển tải được nó lên tranh. Hiện thực mới của Joseph Inguimberty Sau khi trở về Pháp, ông bắt đầu dành sự say mê cho phong cảnh vùng Provence. Thế nhưng, quãng đời ở Đông Dương đã vĩnh viễn để lại những dấu ấn của nó lên ông. Những bức tranh vẽ hàng ô-liu hay đồng hoa oải hương giai đoạn này lại thấp thoáng cái vẻ bạt ngàn của ruộng lúa, của tầm nhìn hướng ra bản làng khi từ trên đê nhìn ra. Đôi mắt ông đã trở nên lạ lẫm với những thứ bố cục và ánh sáng của châu Âu, của vùng trời miền Nam nước Pháp. Và thế là hai cuộc đời của ông hòa lại làm một, tạo ra một hiện thực mới trong những tác phẩm từ đó về sau của ông. Joseph Inguimberty, Oliveraie en Provence (Vườn ô-liu ở Provence), sơn dầu trên canvas. Nguồn: Galerie Pentcheff. Ông tạo ra những chiều không gian mới của riêng mình, vẽ Provence bằng những ký ức sâu nặng với vùng đất châu Á: sử dụng những mảng màu phẳng, tận dụng sự tương phản giữa các màu sắc để tạo ra những khối, hình đan cài duyên dáng, sự thanh bình và vẻ trang nhã cho toàn bộ bố cục tranh. Kết quả là những khung cảnh Provence truyền thống và quen thuộc, nhưng cũng đồng thời gợi lên cảm giác xa cách, vượt ngoài không gian và thời gian. Di sản và lời kết Khi nhắc tới Trường Mỹ thuật Đông Dương, người ta cũng thường nghĩ tới Victor Tardieu hơn là Joseph Inguimberty. Thế nhưng, điều đó không thể phủ nhận hay lu mờ “công đức” của ông với nền hội họa hiện đại Việt Nam. Nhờ có Joseph Inguimberty, sơn ta đã được khai sinh vào dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam như một chất liệu đầy tiềm năng và mê hoặc, vượt khỏi những khuôn khổ thủ công mỹ nghệ trước đây được gán lên nó. Trong những học trò của ông, nhiều người đã trở thành những danh họa hàng đầu của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam như là Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân. Như danh họa Nguyễn Gia Trí cũng đã nói: “Công đức của cụ I lớn lắm”. Họa sĩ Joseph Inguimberty. Nguồn: Saigoneer. Mặc dù dành hết phần đời còn lại để vẽ phong cảnh Provence, ông gần như là một cái tên vô danh với giới hội họa ở miền Nam nước Pháp; ít khi nào ông lui tới những môi trường nghệ thuật ở Provence. Có lẽ đó là tính cách của ông, một người thích lặng lẽ quan sát hơn là phô bày sự xuất hiện của mình. Tuy nhiên, ông vẫn được dành cho sự kính nể và ngưỡng mộ từ giới nghệ thuật và các gallery uy tín ở Paris. Đến ngày nay, nhiều phòng tranh và bảo tàng lớn như Galirie Pentcheff, Bảo tàng Lịch sử Marseille, Bảo tàng Mỹ thuật Marseille vẫn trưng bày, tổ chức sự kiện để giới thiệu tác phẩm và cuộc đời của ông đến công chúng. Năm 1937, ông được phong tặng Ordre national de la Légion d'honneur – Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh nhờ những đóng góp của mình cho Pháp. Joseph Inguimberty, một con người thầm lặng, nhưng đóng góp và di sản của ông mãi mãi là những đợt sóng ngầm mạnh mẽ, thúc đẩy nền mỹ thuật thế giới nói chung và hội họa Việt Nam nói riêng, tiếp tục vươn tới.
Joseph Inguimberty – Người họa sĩ giữa hai cuộc đời (Kỳ 1)
Khi nhắc đến Tát nước đồng Chiêm của danh họa Trần Văn Cẩn hay Vườn xuân Trung Nam Bắc của danh họa Nguyễn Gia Trí, có lẽ ít người biết rằng những bảo vật sơn mài Việt Nam này sẽ không tồn tại nếu không vì sự tìm tòi và công khai phá của một nhà giáo phương Tây. Ông ấy, bên cạnh Victor Tardieu, cũng là một trong những linh hồn của Trường Mỹ thuật Đông Dương thời đó. Ông là người thầy của những danh họa Việt Nam, người biến sơn ta thành một chất liệu hội họa thực sự và người đã góp phần khai sinh ra nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Đó chính là Joseph Inguimberty. Chân dung họa sĩ Joseph Inguimberty. Nguồn: LUXUO. Có một chàng trai Marseille… Joseph Marie Inguimberty là một họa sĩ với chất liệu chính là sơn dầu. Ông sinh vào 18/01/1896 tại Marseille, một thành phố cảng Địa Trung Hải ở Pháp. Joseph Inguimberty, Bassins de la joliette (Bể cảng tại Joliette), sơn dầu trên canvas, 1963. Nguồn: MutualArt. Marseille vào cuối thế kỷ 19 không phải Paris, nhưng vẫn là một đô thị có nền tảng văn hóa vững vàng với bảo tàng Musée des Beaux-Arts de Marseille – Bảo tàng Mỹ thuật Marseille gần trăm tuổi (thành lập 1801) và đặc biệt là trường École supérieure des beaux-arts in Marseille – Trường Cao đẳng Mỹ thuật Marseille (thành lập 1752) với truyền thống mở lớp vẽ rộng rãi cho công chúng ở nhiều lứa tuổi và trình độ, kể cả người vừa làm vừa học nghề. Trong khí quyển của một thành phố xem hội họa vừa là văn hóa, vừa là thực hành được coi trọng, việc Joseph Inguimberty sớm tiếp xúc với hội họa là một lẽ tự nhiên. Hành trình học tập và làm nghệ thuật tại châu Âu Năm 1910, khoảng 14 tuổi, Joseph Inguimberty vào học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Marseille. Ban đầu, ông phân vân giữa hai ngành kiến trúc và hội họa nhưng cuối cùng đã chọn đi theo cọ, màu và giá vẽ. Alphonse Moutte, Unloading a Brig at Marseille Harbor (Hạ thủy tàu buồm tại cảng Marseille), sơn dầu trên canvas, 1900. Nguồn: Wikipedia. Giai đoạn này, trường đang được dẫn dắt bởi họa sĩ theo chủ nghĩa tự nhiên (naturalist) Alphonse Moutte. Rất có thể điều này đã gián tiếp ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật của Joseph về sau, bởi những tác phẩm của Alphonse Moutte thường xoay quanh khung cảnh đời thường và vùng Marseille – là những đề tài có thể bắt gặp trong chuỗi tác phẩm của Joseph từ 1922 đến 1924 khi ông vẽ thế giới lao động ở cảng Marseille, lẫn trong tranh vẽ làng quê và con người sau khi ông đến Đông Dương. Năm 1913, ông được nhận vào học trường École nationale supérieure des Arts Décoratifs – Trường Nghệ thuật Trang trí Quốc gia tại Paris. Tuy nhiên, việc học của ông bị gián đoạn bởi Thế Chiến thứ Nhất; ông bị điều động nhập ngũ và tham gia lực lượng bộ binh. Năm 1917, ông bị thương khi đang tham chiến tại thành phố Reims. Trường École nationale supérieure des Arts Décoratifs ngày nay tại Paris. Nguồn: ENSAD. Sau Hiệp định đình chiến năm 1918, ông quay lại Trường Nghệ thuật Trang trí Quốc gia và tiếp tục học tập dưới sự dẫn dắt của họa sĩ Eugène Édouard Morand. Đây cũng là giai đoạn ông được gặp gỡ Maurice Brianchon, Raymond Legueult và Roland Oudot, ba họa sĩ mà về sau trở thành những cái tên tiên phong trong nhóm Peintres de la Réalité Poétique – Họa sĩ của Hiện thực Thơ mộng, những họa sĩ cũng chú trọng đến gìn giữ các khung cảnh của đời thường nhưng trong một khí quyển thơ mộng hơn thay vì gai góc. Những năm đầu thập niên 1920, ông thực hiện nhiều chuyến đi - vẽ khắp châu Âu. Các sáng tác của ông trong giai đoạn này dành nhiều sự quan tâm cho đời sống người công nhân. Một tác phẩm tiêu biểu của ông giữa những chuyến đi đó là bộ ba tranh khắc họa thế giới lao động tại cảng Marseille: le débarquement des arachides (bốc dỡ đậu phộng - 1922), le débarquement du plâtre (bốc dỡ thạch cao - 1923) và Marseille (1924). Joseph Inguimberty, Le débarquement du plâtre (Bốc dỡ thạch cao), sơn dầu trên canvas, 1923. Nguồn: Paris-Côte d’Azur. Ngoài ra, ông cũng thực hiện những triển lãm đầu tiên của mình và thông qua chúng giành được nhiều giải thưởng, phải kể đến là Prix Blumenthal – Giải thưởng Blumenthal năm 1922 và Prix National – Giải thưởng Quốc gia Pháp năm 1924. Giảng dạy và sáng tác tại Đông Dương Tiếng tăm của Joseph Inguimberty sớm lọt đến tai Victor Tardieu, nhà sáng lập của École des Beaux-Arts de l’Indochine – Trường Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1925, Victor Tardieu gửi lời mời và được Joseph Inguimberty đồng ý trở thành giảng viên bộ môn trang trí (art décoratif) và nặn tượng (modelage). Tập thể giảng viên và học viên Trường Mỹ Thuật Đông Dương. Nguồn: LUXUO. Ngay khi đặt chân đến Đông Dương, hơi thở hiện thực của Joseph Inguimberty lập tức bắt nhịp với những gì tại đó: những đồng lúa trĩu vàng, bản làng trầm nâu, lối sống dung dị và nếp lao động cần mẫn của người dân An Nam. Song song với giảng dạy, tại Đông Dương, ông miệt mài sáng tác, chuyển tải sự say mê của mình dành cho vùng đất này vào tranh. Sự yêu mến ông dành cho đồng quê Việt Nam mạnh mẽ đến mức nhà phê bình Nguyễn Quang Phòng từng nhận xét rằng “Inguimberty giống hệt như một họa sĩ Việt Nam, người am hiểu và yêu mến quê hương mình”. Ông dành hơn 20 năm giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Đông Dương, trở thành người thầy thân thương và gắn bó của nhiều danh họa Việt Nam sau này như Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh, Mai Trung Thứ, Tô Ngọc Vân, Vũ Cao Đàm – do đó, góp phần khai sinh nền nghệ thuật hiện đại ở Việt Nam. Joseph Inguimberty, Red river delta (châu thổ sông Hồng), sơn dầu trên canvas, 1930. Nguồn: witnesscollection.com và sách “JOSEPH INGUIMBERTY 1896-1971”, Giulia Pentcheff xuất bản tháng 6 năm 2012. Một trong những đóng góp lớn khác của ông cho nghệ thuật Việt Nam là đưa sơn mài từ địa phận thủ công, trang trí trở thành một chất liệu hội họa hiện đại. Ấn tượng trước các kỹ nghệ trang trí bằng sơn ta ở đền chùa, miếu mạo, Joseph Inguimberty bắt đầu nghiên cứu, giảng dạy và khuyến khích các sinh viên của mình thử nghiệm với sơn mài trong một tinh thần cách tân. Đến năm 1938, dưới thời hiệu trưởng Évariste Jonchère, bộ môn sơn mài chính thức được đưa vào giảng dạy với nghệ nhân Đinh Văn Thành và nữ họa sĩ người Pháp Alix Aymé. Nhắc đến đóng góp đó của Joseph Inguimberty, danh họa Nguyễn Gia Trí đã chia sẻ: “Nếu không có ‘cụ I’ và bác phó Thành thì cũng không có sơn mài của tôi. Công đức của cụ I lớn lắm”. Từ năm 1940 trở đi, tình hình chiến tranh ngày càng leo thang tại Đông Dương dẫn đến những gián đoạn trong hoạt động của Trường Mỹ thuật Đông Dương. Đến năm 1946, Joseph Inguimberty buộc phải chia tay vùng đất phương Đông ông đã hết lòng dành cho để vĩnh viễn quay về Pháp. Sau khi trở về Pháp Sau khi về Pháp, ông chuyển đến sống tại Menton, quê nhà của vợ ông. Sự say mê của ông bắt đầu hướng về cảnh quan vùng Provence: những hàng ô-liu ngút mắt, những cánh đồng oải hương mơ màng dưới bóng rặng núi Alpilles, những ngôi làng vùi êm đềm trong lòng thung lũng Roya. Thế nhưng, quãng đời ở Đông Dương cũng đã mãi mãi thay đổi cách vẽ của Joseph Inguimberty. Ông vẽ cảnh quang Provence bằng thứ cảm thức đã dành cho những đồng lúa bạt ngàn ở Đông Dương, bằng những gam màu tương phản như ông đã chứng kiến trong nếp sống Đông Kinh thế kỷ 20. Một “Hiện thực của Joseph Inguimberty” đã nên hình hài trong giai đoạn này. Joseph Inguimberty, Vallon en Provence (Thung lũng ở Provence), sơn dầu trên canvas. Nguồn: Galerie Pentcheff. Ông tiếp tục sáng tác suốt phần đời còn lại, trở nên một họa sĩ thành danh, thường được các phòng tranh nổi tiếng tại Paris bấy giờ – như Charpentier et Romanet – trưng bày tác phẩm. Những ngày tháng đi - ngắm - vẽ cứ thế trôi qua. Joseph Inguimberty vẫn lặng lẽ ghi giữ lại thiên nhiên, đời sống theo lăng kính của riêng mình. Năm 1971, ngày 08 tháng 10, cõi hiện thực của ông ngừng mở rộng thêm những biên độ mới. Ông khép lại hành trình của mình ngay tại Menton. Ngày nay, những sáng tác của ông vẫn đang được gìn giữ và trưng bày tại nhiều nơi, bao gồm cả các bảo tàng nghệ thuật lớn ở quê hương Marseille. Những tác phẩm của ông được yêu thích và nghiên cứu không chỉ vì chúng đã ghi lại một giai đoạn lịch sử mà còn bởi khi đứng trước một bức tranh từ Joseph Inguimberty, ta sẽ phải kinh ngạc, ngỡ ngàng rồi thắc mắc và thậm chí hoài nghi về khả năng bắt giữ hiện thực của ông. Một họa sĩ có thể vẽ quê hương của mình rất đẹp là chuyện không có gì để nói. Nhưng một người phương Tây mà có thể vẽ Việt Nam sống động hơn cả người Việt… có bí ẩn gì đằng sau bút pháp của ông? Có một thủ thuật nào ông đã vận dụng tốt hơn các họa sĩ nước mình? Hay đó là một vấn đề vượt ngoài kỹ năng và chỉ có thể tìm lờ mờ được đáp án khi bóc tách vào chiều sâu của một con người? Mời các bạn cùng khám phá tiếp trong Joseph Inguimberty – Giữa hiện thực, người nhìn thấy kỳ quan (Kỳ 2) nhé!
