Cứ thầm lặng đeo găng tay để hàn mối sắt, rồi dùng lực vặn sát từng sợi kẽm hay khi làm khối thì đắp thẳng đất sét, đất sáp, đó là những thao tác quen thuộc mà điêu khắc gia Hoàng Tường Minh ưu tiên. Để rồi hình khối dần thành hình, mang theo dấu vân tay ịn lõm vào đá, vào kim loại, và những biến dạng được uốn nắn đầy chủ ý.

Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh cùng tác phẩm điêu khắc đá được bảo dưỡng tại kho. Nguồn: Artonis.
Khởi đi từ cái “phôi” của tâm lý
Ở Hoàng Tường Minh, ý tưởng hiếm khi đến trước vật liệu. Ông thường bắt đầu bằng những trạng thái mâu thuẫn của sự kéo lên, trì xuống, hay một thôi thúc phải chạm tay vào đất, vào sắt để xem chúng phản ứng ra sao. Từ “phôi” tâm lý ấy, hình khối dần xuất hiện, mang theo hai mạch quan tâm song hành: sinh thành, nguồn cội, cổ sử, tín ngưỡng; và những áp lực âm ỉ của đời sống cùng chính quá trình làm nghề.
Những năm tháng học tập dưới sự dẫn dắt của cố điêu khắc gia Phan Gia Hương đã để lại cho ông ý thức rõ ràng về sự “thực thụ” của nghề. Đó là quá trình lao động nghiêm túc, không phải “ai kêu sao làm vậy”. Từ tinh thần về tính nữ và cổ sử mà cô giáo gợi mở, Hoàng Tường Minh không tiếp nhận nguyên vẹn mà chuyển hóa lặng lẽ. Nếu ở cô giáo, tính nữ gắn với hình thể mềm mại và sức bền cảm xúc, thì trong sáng tác của ông, tinh thần ấy trở nên trầm hơn, không còn là hình ảnh mà là cảm giác bao bọc, sinh nở và cội nguồn.

Hoàng Tường Minh, Một số tác phẩm trong loạt Áp Lực và Nguồn tại xưởng. Nguồn: Artonis.
Sang loạt Áp lực, Hoàng Tường Minh rời xa cách tạo khối ổn định quen thuộc. Ông tập trung vào thao tác can thiệp: uốn, nén, làm trũng bề mặt đá, gạch hay kim loại. Những vật liệu vốn được xem là cứng và bền trở nên như mềm ra, mong manh hơn. Chính sự “chịu đựng” ấy mở ra những câu hỏi giản dị nhưng dai dẳng: cái gì là cứng, cái gì là mềm; điều tưởng như không thể, liệu có thể không.
“Song song với yếu tố phồn thực, tôi nhìn thấy một áp lực âm ỉ trong đời sống, sinh hoạt và cả nghề nghiệp của mình. Tác phẩm vì thế phản ánh sức nặng của đời sống đè lên con người và tư duy nghệ thuật.”
Những câu hỏi này không được áp đặt bằng diễn giải, mà nảy sinh từ cảm giác thị giác, buộc người xem phải tự điều chỉnh cách nhìn quen thuộc. Nhà nghiên cứu Vũ Huy Thông từng nhận xét rằng loạt Áp lực trong sáng tác của ông không chỉ nằm trong khối, mà tạo ra một lực đẩy hai chiều giữa người làm và người xem.
Cùng khai thác cảm giác nén, nhưng cách ông xử lý hình khối khác với nhiều nghệ sĩ cùng thế hệ. Nếu ở Khổng Đỗ Tuyền, sự nén tạo ra trạng thái năng lượng chờ bùng phát như một bất an nội sinh, thì ở Hoàng Tường Minh, việc vặn nén không nhằm đẩy cảm xúc lên cao trào, mà làm lệch cảm nhận quen thuộc về bản chất vật chất, tạo ra sự giằng co lặng lẽ giữa tác phẩm và người xem.

Một số tác phẩm phác thảo mẫu tại xưởng của nghệ sĩ Hoàng Tường Minh. Nguồn: Artonis.
Nếu Nguyễn Ngọc Lâm lựa chọn điêu khắc như một dạng tự sự nội tâm thông qua cấu trúc hai lớp mang tính ẩn dụ thì Hoàng Tường Minh chủ động rút gọn câu chuyện. Ông không kể hành trình cá nhân, mà dùng thao tác trực tiếp lên vật liệu để tạo “áp lực ngược”, buộc tri giác người xem phải điều chỉnh lại niềm tin thị giác về cứng - mềm, đặc - rỗng.
Dù các loạt Nguồn và Áp lực cho thấy một tư duy điêu khắc nhất quán, hành trình nghề nghiệp của ông lại được hình thành từ sự song hành lâu dài giữa sáng tác cá nhân và điêu khắc ứng dụng, một nền tảng âm thầm nhưng quyết định độ nén của ngôn ngữ tạo hình.
Những vết khắc, dấu uốn một hành trang
Sinh năm 1962 tại Tuyên Quang, quê gốc Lập Thạch (Vĩnh Phúc), Hoàng Tường Minh trưởng thành từ một vùng đất không xa lạ với điêu khắc. Tuy vậy, con đường của ông không khởi đi từ lựa chọn sớm hay điều kiện thuận lợi, mà hình thành dần qua dịch chuyển địa lý, đổi hướng học tập và lao động kéo dài trong nhiều vai trò khác nhau.
Cuối thập niên 1970, khi vào miền Nam và theo học hệ trung cấp mỹ thuật, ông bắt đầu với hội họa trước khi rẽ sang điêu khắc. Sau khi tốt nghiệp và đi làm một thời gian, ông tiếp tục thi đại học, theo học điêu khắc từ năm 1985 đến 1990, rồi ở lại TP. Hồ Chí Minh sáng tác cho đến nay. Ông tốt nghiệp đúng giai đoạn đầu thập niên 1990, khi mỹ thuật Việt Nam vừa rời cơ chế bao cấp nhưng chưa có thị trường đúng nghĩa. Với thế hệ điêu khắc gia lúc đó, làm nghề đồng nghĩa với việc phải xoay xở nhiều dạng công việc cùng lúc.

Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh cùng phần kho lưu trữ các tác phẩm. Nguồn: Artonis.
Ngay từ khi còn học và những năm đầu ra trường, ông làm song song điêu khắc ứng dụng, trang trí, phù điêu, sân vườn và cộng tác trong các công trình lớn. Tuy vậy, ông chưa bao giờ xem đó là sự thỏa hiệp. Ngược lại, chính quá trình ấy giúp ông tích lũy kinh nghiệm xử lý vật liệu, không gian, tỷ lệ và sức nặng thực sự của hình khối. Khi tham gia các công trình tượng đài hay tôn giáo, ông luôn đặt mình vào vai trò người cộng tác, làm trọn phần việc được giao mà không tìm cách chiếm vị trí trung tâm.
“Những công trình tượng đài hay tôn giáo thì tôi chỉ là người làm cùng, làm theo bản vẽ của tác giả. Việc chuyển từ một bản vẽ 2D sang hình khối 3D là phần việc của người điêu khắc. Mình cứ làm hết sức trong phần việc của mình thôi.”
Việc bị chi phối bởi các công trình ứng dụng khiến nhịp sáng tác cá nhân của ông không đều, nhưng sự gián đoạn ấy lại tạo ra độ nén cần thiết. Những trải nghiệm tích lũy trong thời gian dài, khi trở về xưởng lại trở thành nền cho các loạt sáng tác có chiều sâu về sau.
Trong quá trình làm việc, ông ưu tiên trực giác vật lý, nơi ý niệm không nằm trên giấy mà nảy sinh khi ông chạm tay vào đất sét hay kẽm, uốn, vặn, làm nhỏ rồi mới làm lớn. Khi tác phẩm phát triển lên kích thước lớn, hình khối không bị ràng buộc cứng nhắc bởi phác thảo ban đầu, mà tiếp tục biến đổi theo đặc tính chất liệu và nhịp cảm xúc.
Sau nhiều năm làm việc với đá, gỗ và kim loại, ông nhận ra sắt là chất liệu phù hợp nhất với cảm quan cá nhân. Không chỉ vì đặc tính vật lý, mà vì khả năng xoay trở chủ động. So với đá nặng nề cần máy móc và thợ phụ, sắt cho phép ông làm việc một mình, nhấc lên, đặt xuống, điều chỉnh liên tục theo cảm giác tay.

Hoàng Tường Minh, Không giới hạn, tại khuôn viên Flamingo Art Museum. Nguồn: Flamingo Art Museum.
Điêu khắc sắt của ông tạo ra một nghịch lý giàu sức gợi: dùng kỹ thuật hàn rỗng để diễn tả cảm giác nặng nề, bí bách. Chính cách làm này đã “chuyển dịch cảm quan về khối từ vật liệu xây dựng sang hình thức điêu khắc”, như nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng từng nhận xét. Bề mặt tác phẩm không được làm nhẵn để che giấu quá trình, mà giữ lại vết hàn, vết uốn, như cách ịn dấu vân tay lên khối đá, cục gạch. Với ông, sáng tác là một hành trình cảm xúc dài, nơi có thể quên ăn quên ngủ để được tự do trong tìm kiếm.
Hơn ba thập kỷ lao động, ông đóng góp cho điêu khắc đương đại qua các loạt sáng tác cá nhân và những công trình văn hóa, tôn giáo. Tuy vậy, ông luôn giữ thái độ từ tốn, không tự nhận mình thành công. Nếu không có những chia sẻ của nhà văn Dư Thị Hoàn như một nhân chứng sống tại làng Ankroet, có lẽ ít ai biết đến một góc khác trong sự thầm lặng ấy: việc ông trực tiếp xây dựng cầu sắt nối làng qua suối dữ, tự tay chạm khắc bảng gỗ chỉ dẫn hiến tặng cộng đồng. Tất cả diễn ra âm thầm, hệt như cách ông đồng hành cùng nghệ thuật bằng sự bền bỉ, điềm tĩnh và đầy lòng trắc ẩn.
Đôi lời kết
Hoàng Tường Minh là một trường hợp điêu khắc bền bỉ và độc lập, hình thành ngôn ngữ riêng qua nhiều năm lao động âm thầm. Ông không chạy theo trào lưu, mà kiên trì làm việc với lịch sử, tín ngưỡng và những áp lực khó gọi tên của đời sống, bằng cách chạm trực tiếp vào vật chất. Ở đó, điêu khắc không chỉ để nhìn, mà để tri giác người xem chậm lại, nghi ngờ và tự điều chỉnh.
Việc đặt nền nghệ thuật trên bàn tay và lao động khiến Hoàng Tường Minh chọn kim loại như một người bạn làm việc. Qua sắt, ông thử thách cảm nhận quen thuộc về cứng - mềm, nặng - nhẹ, ổn định - biến dạng, không nhằm đưa ra kết luận, mà mở rộng cách nhìn về khả năng của điêu khắc Việt Nam hôm nay.
Related articles
Hoàng Tường Minh – Ịn vân tay lên sắt đá, uốn những nghĩ suy thành hình
Cứ thầm lặng đeo găng tay để hàn mối sắt, rồi dùng lực vặn sát từng sợi kẽm hay khi làm khối thì đắp thẳng đất sét, đất sáp, đó là những thao tác quen thuộc mà điêu khắc gia Hoàng Tường Minh ưu tiên. Để rồi hình khối dần thành hình, mang theo dấu vân tay ịn lõm vào đá, vào kim loại, và những biến dạng được uốn nắn đầy chủ ý. Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh cùng tác phẩm điêu khắc đá được bảo dưỡng tại kho. Nguồn: Artonis. Khởi đi từ cái “phôi” của tâm lý Ở Hoàng Tường Minh, ý tưởng hiếm khi đến trước vật liệu. Ông thường bắt đầu bằng những trạng thái mâu thuẫn của sự kéo lên, trì xuống, hay một thôi thúc phải chạm tay vào đất, vào sắt để xem chúng phản ứng ra sao. Từ “phôi” tâm lý ấy, hình khối dần xuất hiện, mang theo hai mạch quan tâm song hành: sinh thành, nguồn cội, cổ sử, tín ngưỡng; và những áp lực âm ỉ của đời sống cùng chính quá trình làm nghề. Những năm tháng học tập dưới sự dẫn dắt của cố điêu khắc gia Phan Gia Hương đã để lại cho ông ý thức rõ ràng về sự “thực thụ” của nghề. Đó là quá trình lao động nghiêm túc, không phải “ai kêu sao làm vậy”. Từ tinh thần về tính nữ và cổ sử mà cô giáo gợi mở, Hoàng Tường Minh không tiếp nhận nguyên vẹn mà chuyển hóa lặng lẽ. Nếu ở cô giáo, tính nữ gắn với hình thể mềm mại và sức bền cảm xúc, thì trong sáng tác của ông, tinh thần ấy trở nên trầm hơn, không còn là hình ảnh mà là cảm giác bao bọc, sinh nở và cội nguồn. Hoàng Tường Minh, Một số tác phẩm trong loạt Áp Lực và Nguồn tại xưởng. Nguồn: Artonis. Sang loạt Áp lực, Hoàng Tường Minh rời xa cách tạo khối ổn định quen thuộc. Ông tập trung vào thao tác can thiệp: uốn, nén, làm trũng bề mặt đá, gạch hay kim loại. Những vật liệu vốn được xem là cứng và bền trở nên như mềm ra, mong manh hơn. Chính sự “chịu đựng” ấy mở ra những câu hỏi giản dị nhưng dai dẳng: cái gì là cứng, cái gì là mềm; điều tưởng như không thể, liệu có thể không. “Song song với yếu tố phồn thực, tôi nhìn thấy một áp lực âm ỉ trong đời sống, sinh hoạt và cả nghề nghiệp của mình. Tác phẩm vì thế phản ánh sức nặng của đời sống đè lên con người và tư duy nghệ thuật.” Những câu hỏi này không được áp đặt bằng diễn giải, mà nảy sinh từ cảm giác thị giác, buộc người xem phải tự điều chỉnh cách nhìn quen thuộc. Nhà nghiên cứu Vũ Huy Thông từng nhận xét rằng loạt Áp lực trong sáng tác của ông không chỉ nằm trong khối, mà tạo ra một lực đẩy hai chiều giữa người làm và người xem. Cùng khai thác cảm giác nén, nhưng cách ông xử lý hình khối khác với nhiều nghệ sĩ cùng thế hệ. Nếu ở Khổng Đỗ Tuyền, sự nén tạo ra trạng thái năng lượng chờ bùng phát như một bất an nội sinh, thì ở Hoàng Tường Minh, việc vặn nén không nhằm đẩy cảm xúc lên cao trào, mà làm lệch cảm nhận quen thuộc về bản chất vật chất, tạo ra sự giằng co lặng lẽ giữa tác phẩm và người xem. Một số tác phẩm phác thảo mẫu tại xưởng của nghệ sĩ Hoàng Tường Minh. Nguồn: Artonis. Nếu Nguyễn Ngọc Lâm lựa chọn điêu khắc như một dạng tự sự nội tâm thông qua cấu trúc hai lớp mang tính ẩn dụ thì Hoàng Tường Minh chủ động rút gọn câu chuyện. Ông không kể hành trình cá nhân, mà dùng thao tác trực tiếp lên vật liệu để tạo “áp lực ngược”, buộc tri giác người xem phải điều chỉnh lại niềm tin thị giác về cứng - mềm, đặc - rỗng. Dù các loạt Nguồn và Áp lực cho thấy một tư duy điêu khắc nhất quán, hành trình nghề nghiệp của ông lại được hình thành từ sự song hành lâu dài giữa sáng tác cá nhân và điêu khắc ứng dụng, một nền tảng âm thầm nhưng quyết định độ nén của ngôn ngữ tạo hình. Những vết khắc, dấu uốn một hành trang Sinh năm 1962 tại Tuyên Quang, quê gốc Lập Thạch (Vĩnh Phúc), Hoàng Tường Minh trưởng thành từ một vùng đất không xa lạ với điêu khắc. Tuy vậy, con đường của ông không khởi đi từ lựa chọn sớm hay điều kiện thuận lợi, mà hình thành dần qua dịch chuyển địa lý, đổi hướng học tập và lao động kéo dài trong nhiều vai trò khác nhau. Cuối thập niên 1970, khi vào miền Nam và theo học hệ trung cấp mỹ thuật, ông bắt đầu với hội họa trước khi rẽ sang điêu khắc. Sau khi tốt nghiệp và đi làm một thời gian, ông tiếp tục thi đại học, theo học điêu khắc từ năm 1985 đến 1990, rồi ở lại TP. Hồ Chí Minh sáng tác cho đến nay. Ông tốt nghiệp đúng giai đoạn đầu thập niên 1990, khi mỹ thuật Việt Nam vừa rời cơ chế bao cấp nhưng chưa có thị trường đúng nghĩa. Với thế hệ điêu khắc gia lúc đó, làm nghề đồng nghĩa với việc phải xoay xở nhiều dạng công việc cùng lúc. Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh cùng phần kho lưu trữ các tác phẩm. Nguồn: Artonis. Ngay từ khi còn học và những năm đầu ra trường, ông làm song song điêu khắc ứng dụng, trang trí, phù điêu, sân vườn và cộng tác trong các công trình lớn. Tuy vậy, ông chưa bao giờ xem đó là sự thỏa hiệp. Ngược lại, chính quá trình ấy giúp ông tích lũy kinh nghiệm xử lý vật liệu, không gian, tỷ lệ và sức nặng thực sự của hình khối. Khi tham gia các công trình tượng đài hay tôn giáo, ông luôn đặt mình vào vai trò người cộng tác, làm trọn phần việc được giao mà không tìm cách chiếm vị trí trung tâm. “Những công trình tượng đài hay tôn giáo thì tôi chỉ là người làm cùng, làm theo bản vẽ của tác giả. Việc chuyển từ một bản vẽ 2D sang hình khối 3D là phần việc của người điêu khắc. Mình cứ làm hết sức trong phần việc của mình thôi.” Việc bị chi phối bởi các công trình ứng dụng khiến nhịp sáng tác cá nhân của ông không đều, nhưng sự gián đoạn ấy lại tạo ra độ nén cần thiết. Những trải nghiệm tích lũy trong thời gian dài, khi trở về xưởng lại trở thành nền cho các loạt sáng tác có chiều sâu về sau. Trong quá trình làm việc, ông ưu tiên trực giác vật lý, nơi ý niệm không nằm trên giấy mà nảy sinh khi ông chạm tay vào đất sét hay kẽm, uốn, vặn, làm nhỏ rồi mới làm lớn. Khi tác phẩm phát triển lên kích thước lớn, hình khối không bị ràng buộc cứng nhắc bởi phác thảo ban đầu, mà tiếp tục biến đổi theo đặc tính chất liệu và nhịp cảm xúc. Sau nhiều năm làm việc với đá, gỗ và kim loại, ông nhận ra sắt là chất liệu phù hợp nhất với cảm quan cá nhân. Không chỉ vì đặc tính vật lý, mà vì khả năng xoay trở chủ động. So với đá nặng nề cần máy móc và thợ phụ, sắt cho phép ông làm việc một mình, nhấc lên, đặt xuống, điều chỉnh liên tục theo cảm giác tay. Hoàng Tường Minh, Không giới hạn, tại khuôn viên Flamingo Art Museum. Nguồn: Flamingo Art Museum. Điêu khắc sắt của ông tạo ra một nghịch lý giàu sức gợi: dùng kỹ thuật hàn rỗng để diễn tả cảm giác nặng nề, bí bách. Chính cách làm này đã “chuyển dịch cảm quan về khối từ vật liệu xây dựng sang hình thức điêu khắc”, như nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng từng nhận xét. Bề mặt tác phẩm không được làm nhẵn để che giấu quá trình, mà giữ lại vết hàn, vết uốn, như cách ịn dấu vân tay lên khối đá, cục gạch. Với ông, sáng tác là một hành trình cảm xúc dài, nơi có thể quên ăn quên ngủ để được tự do trong tìm kiếm. Hơn ba thập kỷ lao động, ông đóng góp cho điêu khắc đương đại qua các loạt sáng tác cá nhân và những công trình văn hóa, tôn giáo. Tuy vậy, ông luôn giữ thái độ từ tốn, không tự nhận mình thành công. Nếu không có những chia sẻ của nhà văn Dư Thị Hoàn như một nhân chứng sống tại làng Ankroet, có lẽ ít ai biết đến một góc khác trong sự thầm lặng ấy: việc ông trực tiếp xây dựng cầu sắt nối làng qua suối dữ, tự tay chạm khắc bảng gỗ chỉ dẫn hiến tặng cộng đồng. Tất cả diễn ra âm thầm, hệt như cách ông đồng hành cùng nghệ thuật bằng sự bền bỉ, điềm tĩnh và đầy lòng trắc ẩn. Đôi lời kết Hoàng Tường Minh là một trường hợp điêu khắc bền bỉ và độc lập, hình thành ngôn ngữ riêng qua nhiều năm lao động âm thầm. Ông không chạy theo trào lưu, mà kiên trì làm việc với lịch sử, tín ngưỡng và những áp lực khó gọi tên của đời sống, bằng cách chạm trực tiếp vào vật chất. Ở đó, điêu khắc không chỉ để nhìn, mà để tri giác người xem chậm lại, nghi ngờ và tự điều chỉnh. Việc đặt nền nghệ thuật trên bàn tay và lao động khiến Hoàng Tường Minh chọn kim loại như một người bạn làm việc. Qua sắt, ông thử thách cảm nhận quen thuộc về cứng - mềm, nặng - nhẹ, ổn định - biến dạng, không nhằm đưa ra kết luận, mà mở rộng cách nhìn về khả năng của điêu khắc Việt Nam hôm nay.
Hoàng Tường Minh: “Tôi muốn tạo dấu ấn qua sự tác động lên nguồn cội và sáng tạo”
Với Hoàng Tường Minh, điêu khắc không đơn thuần là việc tạo ra một hình hài, mà là quá trình giải tỏa những “áp lực của sự vật” và tìm về những giá trị khởi nguyên của nguồn cội. Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh trong buổi trò chuyện tại xưởng. Nguồn: Artonis. Nhân dịp ghé thăm xưởng của ông, chúng tôi được ngắm lại những tác phẩm từ triển lãm Áp lực ngược hơn ba năm trước vẫn được ông gìn giữ cẩn thận, đồng thời chứng kiến cách ông uốn nắn sắt, trét đất để định hình những ý tưởng mới. Xuyên suốt cuộc trò chuyện, hai trục tư tưởng khởi nguyên và áp lực hiện ra như nền tảng cho toàn bộ thực hành điêu khắc của ông, nơi dấu ấn cá nhân được hình thành thông qua sự tác động liên tục lên hình khối và không gian. Q: Xin chào nhà điêu khắc Hoàng Tường Minh. Để mở đầu cuộc trò chuyện, ông có thể chia sẻ đôi nét về cơ duyên đã đưa ông đến với điêu khắc? Tôi sinh năm 1962 tại Tuyên Quang, nhưng quê gốc của gia đình là ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Có một sự trùng hợp khá thú vị là vùng đất ấy cũng sản sinh ra nhiều nhà điêu khắc, nên đôi khi tôi nghĩ cái “nghiệp” này có lẽ đã nằm sẵn đâu đó trong mình từ rất sớm. Năm 1976, tôi theo gia đình chuyển vào trong Nam sinh sống. Đến năm 1978 thì bắt đầu học Mỹ thuật hệ Trung cấp. Ban đầu tôi học Hội họa, nhưng đến năm thứ ba, tôi quyết định thi chuyển sang Điêu khắc. Thật ra từ nhỏ tôi đã thích nặn đồ chơi, tự làm những thứ mình muốn mà ngoài chợ không có. Bạn bè thấy tôi khéo tay thì hay nhờ làm giúp. Cái sự “thích” rất bản năng đó khiến tôi nghĩ: mình đã biết hội họa rồi, sao không thử điêu khắc xem sao? Thời đó, một lớp điêu khắc chỉ có vài người, ít hơn rất nhiều so với hội họa. Tôi tự nhủ cứ học thêm hai năm điêu khắc xem mình đi được đến đâu, vì muốn chuyển ngành thì cũng phải thi, không đậu là không được học. Và rồi tôi gắn bó với điêu khắc từ trung cấp lên đại học, cho đến khi trở thành một nghệ sĩ sáng tác tự do như bây giờ. Hoàng Tường Minh, các tác phẩm thuộc triển lãm Áp lực ngược được lưu trữ tại kho xưởng. Nguồn: Artonis. Q: Được biết ông từng trải qua một thời gian dài làm điêu khắc ứng dụng và gặt hái khá nhiều thành công. Điều gì đã tạo nên bước ngoặt khiến ông quyết định rẽ hướng sang con đường sáng tác vốn đầy nhọc nhằn và thách thức này? Thật ra tôi không nghĩ mình là người “thành công” theo nghĩa đó. Trong quá trình học và cả khi mới ra trường, tôi phải làm đủ thứ để trang trải cuộc sống. Việc gì có thể làm ra tiền thì mình làm, từ các công trình ứng dụng, trang trí cho đến những dự án cộng tác. Nhưng song song với ứng dụng, tôi vẫn luôn sáng tác. Đặc biệt là từ khi học đại học, dưới sự hướng dẫn của nhà điêu khắc Phan Gia Hương, cô là người có ảnh hưởng rất lớn đến tôi. Cô luôn thúc đẩy mạnh mẽ lứa chúng tôi về việc coi sáng tác là cốt lõi, chứ không chỉ dừng lại ở việc làm thuê cho các công trình. Điêu khắc là một quá trình rất dài. Nó không giống hội họa, nơi cảm xúc có thể bộc phát nhanh. Điêu khắc cực nhọc, công phu và đòi hỏi thời gian; cảm xúc trong điêu khắc là cảm xúc kéo dài. Khi làm đủ nhiều, trải qua đủ những tình cờ và cả những vô thức, tôi mới dần phát hiện ra ngôn ngữ riêng của mình. Có những giai đoạn, khi tôi bị chi phối nhiều bởi các công trình đặt hàng, thời gian dành cho sáng tác cá nhân rất ít. Điều đó khiến mình trăn trở, nhưng cũng chính từ những va đập ấy mà tôi hiểu rõ hơn mình cần gì trong sáng tác. Q: Trong các tác phẩm của mình, ông thường khai thác những ngẫu tượng phồn thể như một đại tự sự về khởi nguyên vũ trụ. Làm sao ông có thể giữ được bản sắc riêng giữa một chủ đề vốn đã được rất nhiều nghệ sĩ khai thác? Chủ đề phồn thực trong tôi đến từ những ký ức rất sớm, như câu chuyện mẹ Âu Cơ, Lạc Long Quân hay nếp sinh hoạt ở làng quê. Ngay cả từ “đồng bào” cũng mang lại cho tôi những rung cảm rất mạnh về sự gần gũi và tính cội nguồn. Đó là những gì tôi mang theo một cách tự nhiên, không phải lựa chọn có chủ ý. Bên cạnh phồn thực, tôi còn theo đuổi một trục khác là “áp lực cuộc sống”, như trong loạt tác phẩm Áp lực. Đó là sự tác động của ngoại cảnh lên con người, lên cái sáng tạo. Tôi muốn ghi lại dấu ấn của mình thông qua chính sự tác động ấy qua cách mà hình khối bị ép, bị biến dạng để tạo ra một trạng thái mới. Về sự ảnh hưởng, tôi nghĩ làm nghệ thuật không nên ngại. Chúng ta đều đứng trên những nền tảng văn hóa có sẵn. Quan trọng là học hỏi để biến nó thành cái của mình, chứ không phải sao chép lại hình thức. Góc tác nghiệp các phác thảo sắt tại xưởng của nhà điêu khắc Hoàng Tường Minh. Nguồn: Artonis. Q: Khi bắt đầu một tác phẩm, ông thường ưu tiên tính thẩm mỹ tự thân hay sẽ mường tượng về một không gian đặt để cụ thể trước? Thông thường, yếu tố thẩm mỹ và mong muốn cá nhân của tôi đến trước, rồi sau đó mới nghĩ đến không gian đặt để. Nhưng ngay trong quá trình làm, tôi đã phải cân nhắc đến kích thước. Không phải tác phẩm nào cũng có thể làm to lên được. Có những tác phẩm chỉ phù hợp ở một kích thước nhất định, chứ không thể lấy một hình khối nhỏ rồi phóng lớn lên để đặt ngoài trời hay trong một không gian rộng. Vì vậy, trong lúc làm là luôn có sự cân nhắc. Còn để định hình chắc chắn ngay từ đầu rằng tác phẩm này sẽ đặt ở đâu thì thật sự rất khó. Điêu khắc và kiến trúc vốn gắn liền với nhau. Điêu khắc là chiếm lĩnh không gian, nên trong một không gian cụ thể, tác phẩm buộc phải đồng tâm với kiến trúc và cảnh quan xung quanh. Điều đó không chỉ là vấn đề thẩm mỹ, mà còn là sự hài hòa trong tổng thể. Q: Vậy thì một quá trình của ông khi tạo ra một tác phẩm sẽ là gì và liệu điều này có liên quan đến việc ông chọn Sắt làm chất liệu biểu đạt chính thay vì Đá hay Đồng trong những năm gần đây? Tôi ít vẽ tay. Thay vào đó, tôi phác thảo trực tiếp bằng chất liệu. Tôi uốn kẽm, nặn đất sét để tạo ra những bản nhỏ khoảng 20 - 30cm, “vặn vẹo” cho đến khi thấy ổn rồi mới bắt đầu làm lớn. Quá trình làm lớn không phải là sao chép y nguyên bản nhỏ, mà luôn có những thay đổi về cảm xúc và chất liệu. Có những ý tưởng chỉ phù hợp với đá, gỗ hay sắt. Nhưng sắt cho tôi sự chủ động nhiều nhất. Nếu làm đá thì quá nặng, cần nhiều người và máy móc, khiến tính cá nhân bị loãng. Nếu làm đồng, tôi phải phụ thuộc vào khâu đúc, nơi cảm xúc dễ bị rơi rớt. Với sắt, tôi có thể tự tay uốn nắn, gia công, nhấc lên đặt xuống một mình. Nó nhẹ hơn về mặt vật lý, nhưng lại giúp tôi đạt được cảm xúc mạnh mẽ nhất vì tôi được trực tiếp chạm vào mọi công đoạn của tác phẩm. Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh bên các tác phẩm cũ được bao bọc cẩn thận. Nguồn: Artonis. Q: Với một quá trình hơn 30 năm gắn bó về nghề thì theo ông, đâu là sự khác biệt lớn nhất giữa “điêu khắc” và “làm tượng”? Phải chăng đây là một sự nhầm lẫn thường thấy trong giới theo nghề hiện nay? Khi nói đến “làm tượng”, tôi nghĩ ngay đến tượng đài hay các công trình đặt hàng. Ở đó, chủ đề thường đã được xác định sẵn bởi chủ đầu tư, và tác phẩm phải qua rất nhiều vòng hội đồng xét duyệt, chỉnh sửa theo những ý đồ có trước. Còn điêu khắc, với tôi, là sáng tác mang tính cá nhân. Tôi làm tác phẩm trước hết cho chính mình, để thỏa mãn những suy nghĩ và trăn trở nội tâm. Khi được tự do sáng tác, bất kể chất liệu gì, tôi đều thấy rất thú vị, thậm chí có thể quên ăn quên nghỉ. Đó là cảm giác tự do mà “làm tượng” không có. Về việc người khác nhìn nhận thế nào, tôi không thể nói thay. Mỗi người có một lựa chọn riêng. Riêng tôi, dù từng tham gia làm thuê cho các công trình tượng đài, nhưng tôi chưa bao giờ coi đó là đích đến cuối cùng của một nhà điêu khắc. Q: Nhìn lại hành trình đã qua, điều gì khiến ông gắn bó với điêu khắc cho đến hôm nay? Và nếu muốn công chúng nhớ đến mình và các tác phẩm, ông mong họ nhớ đến điều gì? Từ nhỏ tôi đã thích thay đổi hình khối. Điêu khắc cho phép tôi làm điều đó một cách trực tiếp, điều mà hội họa không mang lại theo cách ấy. Còn về phần để nhớ thì chắc vẫn quanh hai trục mà chúng ta đã nói đến là phồn thực và áp lực thôi. Một mặt là khởi nguyên, sinh sôi, bắt nguồn từ tâm lý sáng tạo dựa trên bản sắc dân tộc; mặt khác là những tác động, những áp lực từ tâm lý thị giác mà tôi đưa vào hình khối. Tôi muốn người xem cảm thấy được cái cách tôi tác động và làm thay đổi vật chất để để lại dấu ấn cá nhân của mình. Vâng! Xin cảm ơn những chia sẻ của ông.
