Skip to content
Language/
Trần Văn Cẩn – Người thầy lặng lẽ vẽ nên hồn dân tộc

Trần Văn Cẩn – Người thầy lặng lẽ vẽ nên hồn dân tộc

Trong bầu trời rực rỡ của "tứ kiệt" hội họa Việt Nam - Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn - Trần Văn Cẩn (1910-1994) hiện lên như cái bóng khiêm nhường mà sâu sắc nhất. Hành trình sáng tạo của ông là sự hòa quyện giữa chất liệu dân gian mộc mạc và kỹ thuật hiện đại tinh xảo, thống nhất bởi triết lý xuyên suốt: “Nghệ thuật phải bắt rễ từ đời sống nhân dân.”

Từ Làng Quê Kiến An Đến Căn Gác Nhỏ Nguyễn Thượng Hiền  

Hành trình của Trần Văn Cẩn khởi nguồn từ miền ký ức tuổi thơ ở làng quê Kiến An, Hải Phòng, nơi nghệ thuật dân gian thấm đẫm vào tâm hồn cậu bé qua bàn tay tần tảo của người mẹ làm nghề nặn tò he, đèn giấy nan tre và người cậu vẽ đèn lồng. Mười lăm tuổi, ông thi vào Trường Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội, nơi những giờ học vẽ mẫu đăng ten, thiết kế đồ gỗ rèn luyện kỹ thuật và nuôi dưỡng tình yêu cái đẹp. Bước ngoặt đến vào thời điểm ông đang làm việc tại Viện Hải dương học Nha Trang, nơi công việc tỉ mỉ vẽ các loài cá lạ dạy ông bài học giải phẫu hình thể và cuộc gặp gỡ với họa sĩ người Pháp đã mở ra thế giới màu nước, sơn dầu phương Tây. Năm 1931, khát vọng trở thành họa sĩ chuyên nghiệp đưa ông đến Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa VI. Lòng yêu nước dẫn ông theo cách mạng từ sớm, tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc năm 1945, vẽ tranh cổ động sắc bén. Suốt kháng chiến chống Pháp, ông cùng bộ đội lên Việt Bắc, ghi lại đời sống chiến khu bằng ký họa chân thực. Ông sống giản dị, không vợ con, dành trọn tình cảm cho học trò và nghệ thuật, những năm cuối đời trong căn gác nhỏ đầy tranh ở phố Nguyễn Thượng Hiền như một ẩn sĩ giữa lòng Hà Nội.

Từ Triển Lãm Paris Đến Chiến Khu Việt Bắc  

Hành trình nghệ thuật của Trần Văn Cẩn là một dòng chảy liền mạch, đan xen giữa tìm tòi cá nhân và vận mệnh dân tộc, khởi đầu từ những thành công rực rỡ thời sinh viên tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1934, bức sơn dầu "Mẹ tôi" – chân dung đầy xúc động về người mẹ nông dân đã vượt đại dương góp mặt tại triển lãm Paris, đưa hình ảnh chân thực của con người Việt Nam ra thế giới. Chỉ một năm sau, ông tiếp tục gây chấn động giới mỹ thuật khi cùng lúc 4 tác phẩm "Em gái tôi" - sơn dầu, "Cha con" - lụa, "Chợ quê" và "Gội đầu" - khắc gỗ giành giải Ngoại hạng tại triển lãm SADEALI 1935, khẳng định tài năng toàn diện làm chủ đa chất liệu. Tốt nghiệp năm 1936 với tác phẩm "Lều chõng" phản ánh thân phận sĩ tử nghèo, ông kiên quyết từ chối vị trí quan chức thuộc địa để chọn con đường nghệ sĩ tự do, sống thanh bần. Giai đoạn này, ông cùng Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, Trần Quang Trân thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật đưa sơn ta từ nghề thủ công lên thành chất liệu hội họa cao cấp. Họ nghiên cứu pha chế sơn son thếp vàng/bạc tạo độ sâu ánh sáng, sáng tạo kỹ thuật đắp vỏ trứng, ốc xà cừ, và phát triển kỹ thuật mài lớp tạo hiệu ứng chuyển sắc tinh tế và chiều sâu không gian. Song song với Nguyễn Gia Trí khai thác đề tài truyền thuyết hoành tráng, Trần Văn Cẩn bắt đầu hướng cây cọ về đời sống lao động bình dị qua các tác phẩm như "Gánh lúa", "Ngư dân", nhen nhóm tinh thần "nghệ thuật vị nhân dân".

Trần Văn Cẩn, Gội đầu, khắc gỗ. Nguồn: Tạp chí Mỹ thuật.

Bước ngoặt Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã định hình lại toàn bộ sự nghiệp và tư tưởng sáng tác của ông. Ông đoạn tuyệt hoàn toàn với đề tài tiểu tư sản, lãng mạn trước đó, tâm nguyện "vẽ cho đồng bào tôi xem" trở thành kim chỉ nam. Ông tích cực tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc, sáng tác những bức tranh cổ động sắc bén như "Bảo vệ Tổ quốc", "Diệt giặc đói, giặc dốt" để phục vụ cách mạng. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông theo bộ đội lên chiến khu Việt Bắc, trở thành "người ghi chép lịch sử bằng hình ảnh" trong điều kiện vô cùng gian khổ. Hàng trăm ký họa chiến trường chân thực và sống động ra đời từ trải nghiệm này: "Tát nước đồng chiêm" (1948) ghi lại khí thế lao động sản xuất phục vụ tiền tuyến, "Lớp học bình dân làng Bền" (1950) tái hiện cảnh xóa nạn mù chữ giữa rừng núi, hay "Ở hang" (1951), "Bộ đội nấu cơm" khắc họa chân thực đời sống sinh hoạt đầy thiếu thốn mà kiên cường của bộ đội. Ngay giữa bão lửa chiến tranh, tài năng của ông vẫn tỏa sáng khi tranh lụa "Xuống đồng" (1946) miêu tả cảnh nông dân hối hả ra đồng buổi sớm đã đoạt giải Nhất tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc đầu tiên, khẳng định giá trị của con đường nghệ thuật mới gắn bó với nhân dân và hiện thực đất nước. 

Phong cách nghệ thuật: Sự Dung Hợp Giữa Tinh Tế và Hiện Thực 

Phong cách Trần Văn Cẩn nhất quán dù ông làm chủ đa chất liệu, thể hiện sự dung hòa nhuần nhị giữa kỹ thuật hiện đại phương Tây tinh xảo và tâm hồn Việt Nam sâu lắng, luôn đặt con người lao động làm trung tâm

Với sơn dầu, ông tạo dấu ấn bằng phong cách hiện thực lãng mạn tinh tế: màu sắc nhẹ nhàng, bút pháp giản dị mà sâu lắng, tập trung khai thác nội tâm nhân vật. Kiệt tác "Em Thúy" (1943) là một minh chứng rõ nét cho sự khác biệt căn bản với "Thiếu nữ bên hoa huệ" của Tô Ngọc Vân. Nếu Vân tập trung tôn vinh vẻ đẹp hình thể và kỹ thuật ánh sáng điêu luyện ("gạt sơn" tạo hiệu ứng hồng má), Cẩn đi thẳng vào tâm hồn qua đôi mắt trong veo đầy tâm trạng của em bé. Tranh ông không lộng lẫy mà như câu chuyện thầm thì, kết hợp ánh sáng phương Tây với hồn Á Đông. 

Trần Văn Cẩn, Em Thúy, sơn dầu, 1944

Trần Văn Cẩn, Em Thúy, sơn dầu, 1944. Nguồn: Báo Dân trí.

Trong lĩnh vực sơn mài, dù cùng Nguyễn Gia Trí tiên phong cách tân kỹ thuật, ông lại lựa chọn một hướng đi riêng biệt. Nếu Nguyễn Gia Trí thiên về đề tài truyền thuyết, lịch sử hoành tráng với màu sắc vàng son lộng lẫy như trong "Thiếu nữ bên cây phù dung", thì Trần Văn Cẩn kiên định hướng về hiện thực lao động giản dị qua các tác phẩm như "Gánh lúa", "Ngư dân", tôn vinh sức mạnh và vẻ đẹp của người lao động như biểu tượng của dân tộc. So với Nguyễn Tường Lân – người dấn thân mạnh mẽ vào trừu tượng với kỹ thuật sọc màu táo bạo như trong "Hai thiếu nữ bên cửa sổ" – Trần Văn Cẩn luôn bám rễ sâu vào hiện thực xã hội. Sự đa dạng và tinh thông chất liệu là điểm mạnh vượt trội của ông: tranh lụa "Xuống đồng" (1946) kết hợp nét mềm mại phương Đông với bố cục chặt chẽ phương Tây; tác phẩm khắc gỗ "Gội đầu" (1938) đoạt giải nhất FARTA nhờ vận dụng tinh tế đường nét dân gian Đông Hồ trên nền tảng giải phẫu hình thể hiện đại; còn hàng loạt ký họa chiến trường như "Ở hang" (1951), "Thằng cu đất Mỏ" (1960) lại ghi lại chân thực, nhanh nhạy đời sống gian khổ và kiên cường của bộ đội, nông dân bằng nét vẽ giản dị mà sâu sắc. Phong cách ấy, nhất quán và đầy nhân văn, đã biến ông thành người chép sử bằng hình ảnh cho một giai đoạn bi tráng của dân tộc.

Trần Văn Cẩn, Tát nước đồng chiêm, sơn mài, 1958

Trần Văn Cẩn, Tát nước đồng chiêm, sơn mài, 1958. Nguồn: Arttimes.

Tấm Lòng Người Gác Đền Mỹ Thuật  

Di sản Trần Văn Cẩn để lại đồ sộ và đa dạng, xây dựng trong khiêm nhường. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam lưu giữ hơn 200 tác phẩm của ông - nhiều nhất trong sưu tập quốc gia. Năm 1980, khi bảo tàng đề nghị mua 200 ký họa cho triển lãm mừng thọ 70 tuổi, ông chỉ bán 100 tác phẩm vì cho rằng "không cần thiết phải nhiều thế". Ba năm sau, nhận tiền trả bằng bị cói đựng toàn tiền xu, ông vui vẻ không phàn nàn. Kiệt tác "Em Thúy" được công nhận Bảo vật Quốc gia (2013), có hành trình cảm động: năm 2000 được phục chế nhờ chiến dịch của nhạc sĩ Anh Paul Zetter. Chính vẻ đẹp thuần khiết của "Em Thúy" thôi thúc Zetter sáng tác giao hưởng "Little Thuy’s Minuet" (1998), biến hội họa thành âm nhạc. Với vai trò Hiệu trưởng Trường Mỹ thuật Việt Nam (1954-1969), ông đào tạo thế hệ họa sĩ đầu tiên nước Việt Nam độc lập, truyền bá triết lý "nghệ thuật bắt nguồn từ hiện thực nhân dân". Là Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Quốc gia (1973-1989), ông tuyển chọn tỉ mỉ hàng nghìn tác phẩm cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, xây nền tảng sưu tập quốc gia.

Trần Văn Cẩn ra đi năm 1994 trong căn gác nhỏ 10 Nguyễn Thượng Hiền, để lại khoảng trống lớn trong mỹ thuật Việt Nam. Ông không chỉ là "tứ Cẩn" trong bộ tứ lẫy lừng, mà còn là người chép sử bằng hình ảnh cho giai đoạn bi tráng dân tộc thế kỷ XX. Cuộc đời ông minh chứng: sự vĩ đại thực sự tỏa sáng từ giản dị - căn phòng nhỏ đầy tranh, đôi tay gầy không ngừng vẽ, trái tim hy sinh cái tôi vì cộng đồng. Di sản lớn nhất ông để lại là tấm gương khiêm nhường, bền bỉ và tận tụy với nghệ thuật - giáo dục. Như tổng kết của nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Yến: "Cả cuộc đời ông dành cho nghệ thuật, hy sinh cái tôi để phụng sự dân tộc. Nguyên cốt tâm hồn ông – đẹp đẽ và nhất quán – chưa một lần đổi thay."

Previous Post Next Post