Skip to content
Language/
Lê Thành Nhơn – Hành Trình Định Hình Sắc Diện Điêu Khắc Việt (Kỳ 1)

Lê Thành Nhơn – Hành Trình Định Hình Sắc Diện Điêu Khắc Việt (Kỳ 1)

Trong dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, Lê Thành Nhơn là một trong số rất ít nhà điêu khắc vừa để lại dấu ấn sâu đậm trong nước, vừa khẳng định được vị thế tại môi trường nghệ thuật quốc tế. Ông không chỉ sáng tạo những tượng đài mang tầm vóc lịch sử, mà còn góp phần mở rộng ngôn ngữ điêu khắc Việt Nam bằng sự dung hòa giữa truyền thống, hiện đại và tinh thần đa văn hóa. Hành trình sáng tác của Lê Thành Nhơn là câu chuyện về một nghệ sĩ không ngừng tìm kiếm bản sắc – từ vùng đất gốm Bình Dương đến nước Úc xa xôi, để rồi ở bất cứ nơi đâu, dấu ấn Việt Nam vẫn luôn hiện hữu trong từng mảng khối, từng đường nét tạo hình.

Chân dung họa sĩ - điêu khắc gia Lê Thành Nhơn. Nguồn: Phan Nguyen Artist Blogspot.

Sinh ra từ vùng đất gốm…

Lê Thành Nhơn sinh ngày 17/11/1940 tại vùng đất gốm Thủ Dầu Một. Mang trong mình dòng máu Chăm – Hoa từ người mẹ, ông sớm tiếp nhận những ảnh hưởng thẩm mỹ đặc biệt, góp phần hình thành nên tư duy tạo hình giàu chất bay bổng và phóng khoáng. Trong nhiều tác phẩm của ông, người xem dễ dàng bắt gặp những khối hình chóp đặc trưng hay dáng dấp của các vũ nữ Apsaras thấp thoáng trên tượng Quan Thế Âm – một sự giao thoa văn hóa tinh tế giữa mỹ thuật Chăm và tinh thần điêu khắc hiện đại.

Cuộc đời Lê Thành Nhơn chỉ kéo dài hơn sáu mươi năm nhưng đủ để ông để lại những dấu ấn quan trọng đối với nền mỹ thuật Việt Nam và đưa nghệ thuật Việt hiện diện trên bản đồ điêu khắc thế giới. Sự ra đi đột ngột của ông vào ngày 4/11/2002 để lại nhiều tiếc nuối khi những dự định trở về quê hương vẫn còn dang dở, cùng nhiều dự án nghệ thuật quốc tế chưa kịp hoàn thành.

Ngay từ thuở nhỏ, ông đã gắn liền với việc móc đất sét dẻo dưới rạch để nắn tượng cùng bạn bè. Những trải nghiệm tưởng chừng hồn nhiên ấy lại trở thành nền tảng giúp ông hình thành trực giác đặc biệt với chất liệu và khối hình. Sau khi học xong trung học, ông thi đậu vào Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, nơi ông tốt nghiệp thủ khoa. Đồng khóa với ông là họa sĩ Đỗ Quang Em. Tài năng của Lê Thành Nhơn được chính Hiệu trưởng Lê Văn Đệ đánh giá là sinh viên xuất sắc nhất kể từ khi trường thành lập. Năm 1966, ông nhập ngũ Quân đội Việt Nam Cộng hòa và phục vụ bốn năm trước khi giải ngũ với cấp bậc thiếu úy sau một lần bị thương.

Hành trình nghệ thuật

Giai đoạn tại Việt Nam (Trước năm 1975) – Khát vọng Tượng đài danh nhân và Tâm thức quê hương

Quay trở về đời sống dân sự sau khi xuất ngũ, Lê Thành Nhơn giảng dạy tại trường Mỹ nghệ Thực hành Bình Dương, sau đó là trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, trường Mỹ thuật Huế và Đại học Cộng đồng Duyên Hải (Nha Trang).

Đầu thập niên 1970 đánh dấu giai đoạn thăng hoa đầu tiên trong sự nghiệp của ông với dự án xây dựng mười tượng đài danh nhân Việt Nam – một công trình mang quy mô và khát vọng hiếm có của điêu khắc Việt Nam thời bấy giờ. Cũng từ đây, Lê Thành Nhơn gắn bó sâu sắc với vùng đất cố đô Huế, nơi nhiều tác phẩm quan trọng của ông ra đời.

Trong chuỗi các tượng đài lịch sử, tiêu biểu nhất là tượng đồng Chân dung chí sĩ Phan Bội Châu cao 3,5 mét tại Huế. Thay vì trung thành với lối tả thực truyền thống, Lê Thành Nhơn mạnh dạn lược bỏ các chi tiết như tóc và tai, thay bằng những mảng đắp nổi khắc họa hình ảnh quần chúng nhân dân đồng lòng vùng lên phá tan xiềng xích. Khuôn mặt được phóng đại giàu tính biểu cảm, không chỉ khắc họa chân dung một con người mà còn chuyên chở tinh thần dân tộc và sức mạnh của cả non sông.

Lê Thành Nhơn bên bức tượng Quan Thế Âm. Nguồn: Báo điện tử Dân trí.

Bên cạnh đó, tượng Lê Văn Đệ tại sân Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn và tượng Phan Thanh Giản cao 3 mét cũng là những công trình tiêu biểu trong giai đoạn này. Đáng tiếc, sau năm 1975, tượng Phan Thanh Giản bị phá hủy, còn tượng Lê Văn Đệ cũng không còn tồn tại.

Không chỉ dừng lại ở đề tài lịch sử, Lê Thành Nhơn còn đưa vào tác phẩm những suy tư về đời sống tinh thần và tín ngưỡng. Ở tượng Quan Thế Âm (Huế), ông vẫn giữ tinh thần ước lệ của nghệ thuật Phật giáo nhưng tạo nên một hình tượng hoàn toàn mới. Khuôn mặt thanh thoát được lấy cảm hứng từ một nữ ca sĩ nổi tiếng đương thời, trong khi phần đỉnh đầu mang khối hình chóp gợi liên tưởng đến mỹ thuật Chăm và hình tượng vũ nữ Apsaras hay nữ thần Lakshmi.

Với tượng Cô gái Việt Nam (Huế), ông khắc họa vẻ đẹp mềm mại nhưng vững chãi của người phụ nữ miền Nam trong chiếc khăn trùm đầu duyên dáng. Trong khi đó, tượng Phật Thích Ca tại chùa Huệ Nghiêm (Sài Gòn) là một trong những công trình điêu khắc quy mô nhất của ông. Được thực hiện bằng xi măng cốt thép cao 4,5 mét, tác phẩm chủ động phá vỡ tỷ lệ giải phẫu thông thường nhưng vẫn giữ được sự cân đối tự nhiên. Đức Phật không ngồi trên tòa sen quen thuộc mà trên tòa kim cang, khoác áo cà sa theo kiểu Colombo, với ngôn ngữ tạo hình tập trung vào các mảng khối cô đọng, tạo nên một phong cách riêng, thoát khỏi ảnh hưởng của mẫu tượng Phật Trung Hoa phổ biến.

Giai đoạn định cư tại Úc (Từ sau năm 1975 đến 2002) – Hòa nhập Đa văn hóa và Khẳng định Bản sắc

Năm 1975, ông rời Việt Nam tỵ nạn sang Úc và định cư tại Melbourne. Tại đây, ông tiếp tục sáng tác và được mời giảng dạy khoa kiến trúc tại trường Đại học RMIT. Sau những khó khăn ban đầu của cuộc sống nơi đất khách, ông nhanh chóng khẳng định vị trí bằng một ngôn ngữ điêu khắc giàu bản sắc trong bối cảnh nghệ thuật đa văn hóa của nước Úc. Ông được xem là "anh hùng góp phần làm nên lịch sử nước Úc" nhờ những đóng góp sáng giá mang tính cầu nối văn hóa.

Ở giai đoạn này, ông tiếp tục sáng tác các tượng đề tài tôn giáo nhưng với tính phổ quát và hiện đại hơn. Tượng Đức Mẹ Việt Nam tại Trung tâm Công giáo Hoan Thiện, với tà áo dài truyền thống, đã xóa nhòa khoảng cách giữa Nazareth và hình ảnh một ngôi làng Việt Nam. Tác phẩm nhận được nhiều đánh giá tích cực từ giới phê bình Úc nhờ chiều sâu tinh thần và vẻ đẹp tĩnh mặc. Sau đó, tượng đồng Đức Mẹ Madonna giàu cá tính, dựng tại Dòng Tên năm 2004, tiếp tục khẳng định sức sáng tạo bền bỉ của ông.

Tượng chí sĩ Phan Bội Châu. Nguồn: Phan Nguyen Artist Blogspot.

Song song với những sáng tác tôn giáo, Lê Thành Nhơn không ngừng nghiên cứu và mở rộng phạm vi biểu đạt. Thành quả của quá trình lao động nghệ thuật ấy là sự ghi nhận từ nhiều tổ chức văn hóa uy tín. Pho tượng Phật ngồi (Sitting Buddha) đúc đồng của ông thực hiện tại Úc, tuy nhỏ hơn tượng Phật ở chùa Huệ Nghiêm nhưng giữ nguyên tư thế kiết già vững chãi trên tòa kim cang, đã được tuyển chọn và lưu giữ vĩnh viễn tại Viện Bảo tàng Quốc gia Úc ở thủ đô Canberra. Đây là một vinh dự hiếm có đối với một nghệ sĩ gốc Việt.

Bên cạnh đó, ông cũng phát triển mạnh mảng tượng mang tính triết lý. Tiêu biểu là bộ tượng Sinh – Lão – Bệnh – Tử, được phác thảo bằng thạch cao năm 1987, diễn giải tư tưởng "tứ khổ" của Phật giáo bằng một ngôn ngữ tạo hình cô đọng và giàu biểu cảm. Nhiều tác phẩm khác như Joy, Chân dung mùa thu hay Mẹ và Con tiếp tục cho thấy chiều sâu tư tưởng cùng khả năng kết nối giữa trải nghiệm cá nhân và những vấn đề mang tính nhân loại.

Có thể nói, cuộc đời nghệ thuật của Lê Thành Nhơn là một hành trình vượt nhiều sóng gió và liên tục khẳng định bản thân mình. Vậy rốt cuộc nó đã ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật của ông như thế nào?

Mời các bạn cùng đón đọc trong bài viết Lê Thành Nhơn – Hành Trình Định Hình Sắc Diện Điêu Khắc Việt (Kỳ 2)!

Previous Post Next Post