Skip to content
Language/
Lê Huy Hòa – Khối hình suy tưởng và "Chất thép" nghệ thuật (Kỳ 1)

Lê Huy Hòa – Khối hình suy tưởng và "Chất thép" nghệ thuật (Kỳ 1)

Nền mỹ thuật Việt Nam chưa bao giờ thiếu các “bộ tứ” cùng nhau định hình nên bức tranh nghệ thuật của cả thời kỳ: từ “Phổ - Thứ - Lựu - Đàm” từ kiệt trời Âu cho tới “Trí - Vân - Lân - Cẩn” và “Nghiêm - Liên - Sáng - Phái” lừng danh cõi Việt. Trong những năm chống Pháp khốc liệt, một nhóm tứ quái khác lại ra đời từ chính cái nôi của Cách mạng: bộ tứ “Nhân - Hòa - Hậu - Kiệm”. Trong đó, nếu Lưu Công Nhân hào hoa, Trần Lưu Hậu phóng khoáng, Nguyễn Trọng Kiệm bảng lảng, thì Lê Huy Hòa là người của cấu trúc, sự suy tưởng và những nhịp điệu hình khối đầy duy lý.

Chân dung họa sĩ Lê Huy Hòa. Nguồn: Viet Art View.

Từ cái nôi của những thế hệ vàng

Lê Huy Hòa sinh năm 1932 tại vùng đất “địa linh nhân kiệt” Hà Tĩnh, trong một gia đình giàu truyền thống nghệ thuật ở Yên Nhiên, Thạch Hà. Từ tháng 8 năm 1945, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước dần vào hồi khốc liệt, ông cũng trở thành liên lạc viên cho bộ đội, gia nhập Đội Nhi đồng cứu quốc thành Vinh. 

Ít lâu sau, ông về học văn hóa tại trường Thiếu sinh quân và nhập ngũ, tham gia Đoàn kịch Liên khu 4.Năm 1948, ông đi lên Việt Bắc, dự định theo học lớp phóng viên chiến trường. Thế nhưng, tại cái nôi của Cách mạng, số phận lại có một sắp xếp khác cho ông…

Đến “hạt giống” nảy mầm trong kháng chiến (giai đoạn 1950 - 1954)

Khi Trường Mỹ thuật Đông Dương đóng cửa vào năm 1945, nhiều học trò xuất sắc của trường đã chọn ở lại Việt Nam thay vì di cư sang Pháp. Nhiều người ở lại cũng đã đi theo tiếng gọi của Cách mạng, trong số đó có họa sĩ Tô Ngọc Vân, người vào năm 1950 bắt đầu phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc và trở thành thầy của Lê Huy Hòa.

Lê Huy Hòa, Bài ca về Ngã ba Đồng Lộc III, sơn dầu. Nguồn: Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh.

Thế hệ của Lê Huy Hòa tại Trường Mỹ thuật Việt Bắc được gọi là “Khóa Kháng chiến” – những nghệ sĩ trưởng thành giữa khói lửa kháng chiến và mang trong mình khát khao xây dựng đất nước, tạo nên một tâm thế nghệ sĩ - chiến sĩ đầy trách nhiệm. Tại đây, ông không chỉ học kỹ thuật hình họa phương Tây từ danh họa Tô Ngọc Vân mà còn thấm nhuần tư tưởng văn hóa dân tộc và tinh thần dấn thân. Khác với vẻ lãng mạn thuần túy của mỹ thuật Đông Dương trước đó, việc học tập giữa rừng núi đã rèn luyện cho ông một nhãn quan thực tế, vững chãi.

Trong thời gian theo học tại trường, ông đạt giải nhất về trình bày sách cho cuốn “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (1953) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông còn từng đi phục vụ trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Cũng trong khóa học “vàng” này mà Lê Huy Hòa đã gặp gỡ những đồng môn sau này cùng ông trở thành bộ tứ “Nhân - Hòa - Hậu - Kiệm”.

Những năm tháng của Hiện thực (giai đoạn 1954 - cuối thập niên 1960)

Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc sau thành công của chiến dịch Điện Biên Phủ và cuộc Kháng chiến chống Pháp, năm 1959 ông về làm việc tại Xưởng phim hoạt hình Việt Nam với vai trò họa sĩ chính. Ông cũng đã trở thành hội viên Hội mỹ thuật Việt Nam từ năm 1957. Ngoài ra, ông còn mưu sinh bằng việc vẽ minh họa bìa sách trong giai đoạn này.

Với hội họa, ông bắt đầu chuyển sự tập trung vào các mảng đề tài về người lính, công nhân và sinh hoạt nông thôn – những hình ảnh chủ đạo và dễ bắt gặp của thời kỳ tái xây dựng đất nước. Các tác phẩm giai đoạn này mang tính chân thực, bút pháp khỏe khoắn nhưng đã bắt đầu bộc lộ xu hướng khối hóa. Ông không sa đà vào chi tiết vụn vặt mà tìm cách khái quát hóa hình thể để tạo sự mạnh mẽ.

Định hình "Cấu trúc Duy lý" (giai đoạn thập niên 1970 - 1980)

Khi cuộc Kháng chiến chống Mỹ dần đi đến những hồi cuối, họa sĩ Lê Huy Hòa cũng bước vào cuộc chuyển hóa của riêng mình. Đây là thời kỳ ông tách mình khỏi lối vẽ tả thực đơn thuần để tìm kiếm một ngôn ngữ hiện đại hơn. Hình thể trong tranh bắt đầu được lược giản thành những mảng miếng hình học.

Lê Huy Hòa, Khát vọng, sơn mài. Nguồn: Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh.

Khi so sánh với các đồng môn “Khóa Kháng chiến”, nếu Trần Lưu Hậu đi vào biểu cảm của vệt màu, Lưu Công Nhân đi vào sự mượt mà của đường nét, thì Lê Huy Hòa lại đi sâu vào sự đối lập giữa các khối. Những bức chân dung thiếu nữ thời kỳ này không còn là sự sao chép nguyên mẫu mà là một sự sắp đặt các hình khối chắc chắn, tạo nên vẻ đẹp lạnh lùng, sang trọng và đầy suy tư.

Chiều sâu Triết lý và Tâm linh (giai đoạn 1990 cho đến khi qua đời)

Khi đất nước bước vào thời kỳ Đổi Mới, nghệ sĩ bắt đầu được cho phép tự do thể hiện thế giới quan cá nhân. Chiều sâu triết lý và tâm linh trong tư tưởng Lê Huy Hòa cũng được dịp nên hình trong những tác phẩm.

Tranh của ông trở nên cô đọng, kiệm màu nhưng cực kỳ giàu sức nặng. Các mảng màu tối, thâm trầm xuất hiện nhiều hơn, tạo ra một không gian tĩnh lặng, mang tính chiêm nghiệm và đôi khi thấm đẫm màu sắc tâm linh, như trong các tác phẩm mang chủ đề cầu nguyện, tiễn biệt.

Lê Huy Hòa, một bức tranh về chủ đề giao hoan, 1969. Nguồn: ARTAUCTION.VN.

Suốt những giai đoạn sáng tác cuối cùng trước khi qua đời, ông đạt đến sự tự do trong việc "bẻ gãy" cấu trúc giải phẫu để phục vụ cho cấu trúc hội họa, tạo nên những nhịp điệu riêng biệt, độc lập. Năm 1994, ở tuổi 62, ông vẫn còn miệt mài sáng tác. Ông mất vào tháng Chạp năm Bính Tý (10/01/1997) tại Hà Nội.

Ở Lê Huy Hòa có sự thừa hưởng những giá trị từ Trường Mỹ thuật Đông Dương do thầy Tô Ngọc Vân truyền lại, nhưng cũng có quá trình trưởng thành riêng biệt của một cái tôi nghệ thuật được lớn lên giữa núi rừng Cách mạng và được trui rèn qua khói lửa kháng chiến. Phong cách của Lê Huy Hòa qua từng thời kỳ như song hành sự thay đổi và lớn mạnh, cởi mở dần của đất nước. Những khối hình ngày một mạnh mẽ để rồi dịu lại trong chiều sâu triết lý. Những nét màu đanh thép theo tháng ngày rồi cũng trầm mặc theo những suy tưởng tâm linh. Từng chuyển biến của Lê Huy Hòa đều có thể thấy trong các tác phẩm của ông. Mời các bạn đón đọc tiếp trong bài viết kỳ 2 nhé!

Previous Post Next Post