Skip to content
Language/
Đinh Cường – Họa sĩ của những mảng màu hoài niệm

Đinh Cường – Họa sĩ của những mảng màu hoài niệm

"Đinh Cường vẽ như một kẻ mộng du giữa đời thực…” – Trịnh Cung, người bạn tri kỷ của hoạ sĩ đã đúc kết như vậy. Ngay cả khi cách xa quê hương ngàn dặm trong những năm tháng cuối đời, dòng chảy ký ức ấy vẫn không ngừng tuôn trào lên từng nét vẽ. Từng mảng màu sáng tối đan xen nỗi niềm, những hàng cây nghiêng bóng, dòng sông lặng lẽ, và đặc biệt là hình bóng thiếu nữ áo dài đưa ánh mắt nhìn về nỗi nhớ mênh mông - tất cả như đang thầm thì câu chuyện không lời về một thời tuổi trẻ ...Những bức tranh ấy giờ đây không chỉ là tác phẩm nghệ thuật, mà đã trở thành trang nhật ký bằng hình ảnh về một thời vàng son không thể nào quên.

Suối nguồn nghệ thuật từ Thủ Dầu Một đến Huế

Chân dung hoạ sĩ Đinh Cường

Chân dung hoạ sĩ Đinh Cường. Nguồn: Báo Tuổi trẻ online.

Sinh ngày 5/7/1939 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong một gia đình lao động phổ thông gốc Huế, hoạ sĩ Đinh Cường (tên đầy đủ là Đinh Văn Cường) lớn lên giữa thiên nhiên là đồn điền cao su, văn hoá đô thị Sài Gòn và sau này là Huế cổ kính, trầm tư. Một đời sống đặc biệt với những chuyến đi dài làm giàu vốn văn hoá, đã cho ông khả năng cảm nhận và diễn đạt bằng tranh, bằng từ, ông từng nói với học trò mình :”"Các em đừng cố vẽ cho giống. Hãy vẽ những gì mình nhớ về nó, vì ký ức mới là sự thật của riêng mình." 

Sau khi học tiểu học ở Thủ Dầu Một và trung học Petrus Ký ở Sài Gòn, ông chuyển đến Huế – vùng đất “duyên nợ’ gắn bó gần suốt cuộc đời ông. Tại đây, ông học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế (tốt nghiệp năm 1963), sau đó hoàn tất chương trình giáo khoa hội hoạ tại Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định. Năm 1965, ông trở thành giảng viên tại Trường Nữ Trung học Đồng Khánh Huế, rồi giảng dạy tại Cao đẳng Mỹ thuật Huế đến năm 1979. Bửu Ý từng viết: “Tranh của anh dù vẽ dòng nào đi nữa đều có chất lãng mạn bên trong… Lãng mạn luôn ở trong từng tia nắng, bức thành quách...”. Và có lẽ Huế, với vẻ đẹp trầm mặc và u hoài, là nơi đã nuôi dưỡng chất lãng mạn ấy. Năm 1989, ông định cư tại thị trấn Burke, bang Virginia (Mỹ). Trong nỗi cô đơn nơi đất khách và những ngày vật lộn với trầm cảm, hình ảnh người thiếu nữ áo dài – như một phần quê hương – vẫn hiện diện trong tranh ông, an ủi tâm hồn nghệ sĩ. Với ông, ký ức, văn hoá, và những miền đất đã đi qua là nguồn ý tưởng vô tận – từ những năm đầu cầm cọ cho đến tận cuối đời.

Hành trình theo đuổi nghệ thuật 

Giai đoạn 1960–1975, trong bối cảnh mỹ thuật miền Nam đang chuyển mình mạnh mẽ và đa dạng, Đinh Cường nổi bật như một trong những họa sĩ tiên phong theo đuổi khuynh hướng trừu tượng và bán trừu tượng – “lạc quẻ” giữa dòng hiện thực đang chiếm ưu thế. Ông là thành viên của Nhóm Sáng Tạo, cùng với Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thanh Tâm Tuyền... Họ đề cao tự do cá nhân, phản đối việc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền.Ông từng tuyên bố: “Tôi đã tước bỏ ý niệm về sự vật, chỉ giữ lại chất liệu thuần túy của sơn dầu.” Ông và những người bạn của ông đại diện cho một thế hệ nghệ sĩ sống và sáng tác như chính con người thật của mình, không khuôn mẫu, không giáo điều. Cùng với đó, Phong cách cá nhân của Đinh Cường trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng của lập thể phương Tây, nhưng kết hợp tinh tế với đề tài Á Đông: thiếu nữ, làng quê, mái nhà cổ... Tranh ông phủ lớp màu trầm, xanh rêu, nâu đất, với đường nét mềm mại như được gạn lọc qua sương mù ký ức. Các tác phẩm tiêu biểu như "Thần thoại" (1962), "Chứng tích" (1963) – Huy chương Bạc Triển lãm Mùa Xuân Sài Gòn, và "Nhà thờ" (1962) – giải thưởng tại Triển lãm Quốc tế do Đại sứ quán Trung Hoa bảo trợ. Trong giai đoạn 1963–1968, ông tích cực tổ chức triển lãm ở Sài Gòn, Paris, Tokyo, Tunis… và nhận được sự chú ý từ giới phê bình. Từ 1967 đến 1975, ông giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế – một vai trò quan trọng không chỉ truyền nghề mà còn lan tỏa tinh thần sáng tạo tự do. Bên cạnh hội họa, ông vẽ minh họa cho các tạp chí như Sáng Tạo, Văn, Bách Khoa và cho nhiều tác phẩm văn học, tạo nên một giao thoa sâu sắc giữa mỹ thuật và văn chương miền Nam giai đoạn đó.

Sau 1975, trong bối cảnh xã hội thay đổi, phong cách trừu tượng của ông không còn được đón nhận rộng rãi. Hoạt động triển lãm hạn chế, các gallery tư nhân biến mất, nền kinh tế thời bao cấp khiến môi trường nghệ thuật trở nên trầm lắng. Tuy nhiên, ông vẫn kiên trì sáng tác trong thầm lặng. Thay vì tiếp tục với trừu tượng thuần túy, ông dần chuyển sang bán trừu tượng – tiết chế tính cách điệu, thêm yếu tố tả thực để gần gũi hơn với công chúng. Màu sắc trong tranh chuyển sang tông nâu đất, xám xanh, vàng úa, mang vẻ u buồn, hoài niệm hơn trước. Ông thử nghiệm với nhiều chất liệu: lụa (Thiếu nữ trong Thành Nội, 1984), bột màu trên giấy gió, và thường xuyên vẽ chân dung bạn bè – những người bạn tri kỷ như Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện đầy phóng khoáng. Tiêu biểu là bức "Người bạn già" (1987) dành cho Trịnh Công Sơn như một cái ôm trìu mến dành cho những tâm hồn đồng điệu. 

Đinh Cường, Thiếu nữ ngoài cửa sổ miền đồi núi, sơn dầu, 2014

Đinh Cường, Thiếu nữ ngoài cửa sổ miền đồi núi, sơn dầu, 2014. Nguồn: Việt báo Foundation.

Từ cuối thập niên 1990, sau khi định cư tại Virginia, Hoa Kỳ (1989), Đinh Cường tiếp tục hành trình nghệ thuật với năng lượng bền bỉ. Dù sống xa quê, ông vẫn giữ trọn bản sắc Việt trong tranh – từ nỗi nhớ Huế, Sài Gòn, đến mái nhà Bình Dương, tất cả hiện lên qua lăng kính cá nhân, nhuốm màu ký ức và tâm thức dân tộc. Những triển lãm cá nhân và nhóm liên tiếp diễn ra tại Virginia, California, Texas và ngoài ra ông cũng thường xuyên về Việt Nam tổ chức triển lãm… Đặc biệt giai đoạn 1995–2000 là thời kỳ hoạt động sôi nổi. Ông còn mang tranh đến Paris (Annam Heritage Gallery, 2010), Tokyo, Tunis – như một cầu nối giữa mỹ thuật Việt và xu hướng toàn cầu. Trong tranh ông, có thể thấy hơi hướng của Kandinsky, Picasso, nhưng cũng đầy chất thiền, chất lụa, chất bột màu rất Việt. Một trừu tượng vừa sâu thẳm, vừa gần gũi. Ông từng nói: “Tôi vẽ những gì tôi nhớ, không phải những gì tôi thấy” – một tuyên ngôn sáng tạo mạnh mẽ, khẳng định vai trò của ký ức và cảm xúc trong hội họa.

Nét Vẽ Cảm Xúc, Tư Tưởng Và Hồn Việt Trong Tranh Đinh Cường

Phong cách nghệ thuật của Đinh Cường không chỉ là tranh, mà như những bản tình ca trữ tình pha chút trừu tượng lãng mạn. Hình khối trong tranh ông giản lược đến mức tan chảy, biến dạng, chỉ còn lại những đường nét gợi mở đầy mơ hồ. Một thiếu nữ trong tranh có thể chẳng rõ mặt, chỉ còn dáng nghiêng thướt tha, như một bóng hình thoảng qua trong ký ức. Màu sắc ông chọn cũng không rực rỡ như xu hướng thời bấy giờ, mà là những tông trầm ấm, nâu đất, xanh rêu, vàng ngà — như màu của thời gian lặng lẽ trôi, gợi nên cảm giác hoài niệm sâu sắc.

Đinh Cường biết cách kết hợp hài hòa giữa Đông và Tây, như một cây cầu nối liền hai nền văn hóa nghệ thuật. Ảnh hưởng từ phong cách lập thể của Picasso thể hiện rõ qua cách ông phân mảnh không gian, đặc biệt trong những tranh tĩnh vật. Còn từ Kandinsky, ông học được cách dùng màu sắc để thay lời nói, truyền tải cảm xúc mà không cần hiện thực hóa hình ảnh quá chi tiết. Nhưng trong tranh của Đinh Cường, tinh thần Á Đông luôn hiện hữu rõ nét — thiếu nữ áo dài, làng quê yên bình, hình ảnh Phật giáo thiêng liêng, tất cả như những nốt nhạc trầm trong bản hòa ca thơ ca và triết lý sâu sắc. Ông dùng khoảng trống trong tranh như người xưa dùng tranh thủy mặc, để gợi lên sự vô thường và chiều sâu tâm hồn.

Đinh Cường, Thiếu nữ trong Thành Nội, 1984

Đinh Cường, Thiếu nữ trong Thành Nội, 1984. Nguồn: Tạp chí Sông Hương.

Những chủ đề quen thuộc của ông là ký ức về Sài Gòn, Huế xưa — những con phố cũ, hàng cây nghiêng bóng, như đang nhìn qua một lớp sương mỏng manh của thời gian. Ông còn vẽ chân dung bạn bè, những người nghệ sĩ như Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, với nét phóng khoáng, không bám vào chi tiết mà để lại nhiều cảm xúc ngấm vào người xem. Kỹ thuật của ông cũng rất đặc biệt: ranh giới giữa chủ thể và nền tranh được làm mờ đi, nét vẽ uyển chuyển như được "vẽ bằng trái tim" chứ không đơn thuần bằng đôi tay.

So với các họa sĩ cùng thời như Duy Thanh với màu sắc gắt và mãnh liệt, hay Ngọc Dũng với hình khối rõ ràng, góc cạnh, Đinh Cường lại đi theo con đường mơ màng, huyền ảo hơn. Bửu Chỉ thiên về trừu tượng tâm linh với đường nét gãy khúc, màu tối thì ông lại giữ cho tranh mình chất trầm ấm và mềm mại, đậm đà hồn Việt.

Theo Đinh Cường tin rằng nghệ thuật phải bắt đầu từ cảm xúc thật, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu hay phục vị bất kỳ hệ tư tưởng nào. Ông chọn theo đuổi trường phái trừu tượng và bán trừu tượng, thay vì lối vẽ hiện thực xã hội chủ nghĩa vốn phổ biến ở miền Bắc thời chiến. Trong một bài phỏng vấn trên tạp chí Sáng Tạo (Sài Gòn, thập niên 1960–1970), ông nói: “Tôi vẽ bằng tâm hồn mình, không phải để phục vụ một hệ tư tưởng nào.”

Dù luôn đón nhận và bắt kịp các trường phái hội họa đương thời, tác phẩm của ông chịu ảnh hưởng từ hội họa phương Tây như Lập thể, Trừu tượng, nhưng ông luôn giữ được chất Việt rõ nét qua đề tài (thiếu nữ, làng quê) và màu sắc dịu dàng, phảng phất tinh thần tranh lụa truyền thống. Ông từng nói với nhà thơ Thanh Tâm Tuyền: “Tôi muốn tìm cái đẹp ở những điều giản dị nhất, như cánh đồng quê hay khuôn mặt một người phụ nữ Việt.” (Trích trong “Chân dung văn nghệ sĩ Sài Gòn” – Nguyễn Đình Toàn, NXB Văn hóa Văn nghệ, 2015.)

Đinh Cường, Phố mùa Đông

Đinh Cường, Phố mùa Đông. Nguồn: Vietnam Global Network.

Người nghệ sĩ có cái nhìn lãng mạn về cuộc sống ngoài vẽ tranh ông cũng thường làm thơ. Chủ thể chính của thơ, tranh ông thường vẽ thiếu nữ, hoa lá, phong cảnh – tất cả đều hiện lên như một cõi mộng, gửi gắm những thương nhớ về nơi ông từng sinh sống. Gặp nhau ở Huế, ông thân thiết với Trịnh Công Sơn – người bạn đồng hành trong tình yêu với vẻ đẹp trữ tình, phảng phất nỗi buồn hiện sinh. Yêu cái đẹp, Đinh Cường là một người thầy tận tâm, nghiêm khắc đến từ sự chỉn chu. Họa sĩ Nguyễn Thượng Hỷ từng kể lại một lần ông nghiêm khắc với sinh viên dùng nước bẩn để pha màu: “Thầy không ngần ngại dội luôn lọ nước bẩn lên tranh vẽ và yêu cầu sinh viên đó vẽ lại.” Với ông, vẽ là một hành vi nghiêm cấm, không thể làm qua loa. Đó là lòng yêu nghề xuất phát từ lương tâm và tính kỷ luật – một bài học lớn dành cho thế hệ sau. Dù tài hoa là thế, ông sống khiêm nhường, tránh xa hào nhoáng Dù là họa sĩ nổi tiếng, Đinh Cường sống rất giản dị. Ông không chạy theo danh lợi, mà dành trọn đời cho nghệ thuật. Sau 1975, khi nhiều văn nghệ sĩ miền Nam gặp khó khăn, ông vẫn âm thầm sáng tác, không thay đổi phong cách vì cơm áo. Nghệ thuật như một hành trình nội tâm Tranh của Đinh Cường ít kể chuyện, thiên về cảm xúc – như một cuốn nhật ký hình ảnh. Ông từng chia sẻ: “Vẽ là cách tôi đối thoại với chính mình và với thế giới vô hình.” (Phan Cẩm Thượng – “Đinh Cường: Một mình một cõi”, báo Thể thao & Văn hóa, 2017.

Những năm cuối đời sống tại Mỹ, ông vẫn vẽ về Việt Nam như một miền ký ức. Tranh ông thời kỳ này gợi nhớ một Sài Gòn xưa, với những gam màu trầm buồn và nét vẽ lặng lẽ. Sự gắn bó với quê hương không chỉ hiện diện trong đề tài mà còn trong nỗi nhớ thấm vào từng nét cọ.

Tầm ảnh hưởng và đóng góp nghệ thuật của họa sĩ Đinh Cường

Trong giai đoạn 1960–1975, khi phần lớn mỹ thuật miền Bắc đi theo hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì ở miền Nam, Đinh Cường cùng Nhóm Sáng Tạo đã mở ra một nhánh rẽ khác: đặt cảm xúc cá nhân, thế giới nội tâm và tinh thần tự do lên hàng đầu. Ông là người tiên phong đưa trừu tượng và bán trừu tượng vào mỹ thuật miền Nam, ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau như Bửu Chỉ, Đỗ Quang Em, Đinh Ý Nhi, và giúp định hình nền mỹ thuật đương đại Việt Nam. Không chỉ là một họa sĩ, ông còn là “người giữ hồn Việt” – lưu giữ những lát cắt của ký ức, những chiều sâu văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ thị giác rất riêng. 

Đinh Cường, Nụ sen xanh

Đinh Cường, Nụ sen xanh. Nguồn: Phạm Cao Hoàng.

Những tác phẩm như Theo em về Huế, Nụ sen xanh, Phố mùa thu... là những lát cắt trầm lặng mà dai dẳng của quê hương trong lòng người xa xứ. Với hơn năm thập kỷ không ngừng nghỉ, hội họa của Đinh Cường là một hành trình lặng lẽ nhưng kiên định, một sự bền bỉ đầy cá tính, góp phần đặt nền móng cho một mỹ thuật Việt Nam tự do hơn, đa dạng hơn và nhiều chiều sâu hơn. Cho đến năm 2005, Đinh Cường đã có ít nhất 24 triển lãm cá nhân và 21 lần triển lãm nhóm, trải dài từ Việt Nam (Huế, Đà Lạt, Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang, Pleiku) đến nhiều nước như Pháp, Nhật Bản, Mỹ, Brésil, Tunisie, Ấn Độ, Singapore. Tác phẩm của ông được giới phê bình đánh giá cao và có mặt trong nhiều bộ sưu tập cá nhân và bảo tàng.

Họa sĩ Đinh Cường là một trong những cái tên tiêu biểu của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam, với hành trình sáng tác trải dài từ miền Nam trước 1975 đến giai đoạn lưu vong ở hải ngoại. Ông không chỉ dừng lại ở việc tạo ra tác phẩm, mà còn là người kiến tạo một phong cách nghệ thuật độc đáo, kết hợp hài hòa giữa trừu tượng phương Tây và tinh thần Á Đông. Trong giai đoạn 1960–1975, Đinh Cường đã để lại dấu ấn sâu sắc qua các cuộc triển lãm lớn như Triển lãm Mùa Xuân, nơi ông giành Huy chương Bạc với những tác phẩm như Thần ThoạiChứng Tích. Tranh của ông thời kỳ này mang đậm dấu ấn lập thể pha lãng mạn, đồng thời thể hiện sự tinh tế trong việc giữ lại những hình khối giản lược, những nét gợi ý hơn là chi tiết rõ ràng. Phong cách màu sắc trầm ấm với tông nâu đất, xanh rêu, vàng ngày làm nên cảm giác như thời gian chầm chậm trôi trong từng bức tranh. Tác phẩm của ông còn được giới thiệu ở các triển lãm quốc tế tại Paris, Tunis, Tokyo, ghi dấu tên tuổi ông như đại diện của hội họa hiện đại Việt Nam.

Sau 1975, trong hành trình ở hải ngoại, Đinh Cường tiếp tục phát triển phong cách riêng với các triển lãm nổi bật như An Ocean Apart tại Smithsonian Museum (1993) hay bộ tranh Vòng luân hồi được trưng bày tại Paris (2010). Ở đây, ông kết hợp triết lý Phật giáo với trừu tượng, tạo nên những tác phẩm như những giấc mơ màu sắc sâu lắng về quê hương. Năm 2013, tại Huế, ông cùng họa sĩ Phan Ngọc Minh tạo nên một cuộc giao thoa đặc biệt giữa hội họa và thi ca qua chân dung những văn nghệ sĩ như Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng.

Giới phê bình nghệ thuật dành cho ông nhiều lời khen ngợi. Nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy từng nói: "Đinh Cường không vẽ bằng mắt, mà vẽ bằng ký ức. Tranh ông như những giấc mơ chưa kết thúc, nơi Sài Gòn, Huế, và Đà Lạt hòa tan vào nhau qua lớp sương màu." Tạp chí Mỹ Thuật Việt Nam nhận định ông là "người tiên phong của trừu tượng hoài niệm", khác biệt với Duy Thanh (biểu hiện) hay Ngọc Dũng (lập thể).

Ảnh hưởng từ danh họa Modigliani được Đinh Cường "Việt hóa" tinh tế, biến hình tượng thiếu nữ gầy guộc thành dáng áo dài thướt tha, trở thành biểu tượng nghệ thuật đặc trưng của ông. Nhà văn Du Tử Lê nhận xét:
"Đinh Cường 'Việt hóa' hình tượng thiếu nữ của Modigliani – từ thân hình gầy guộc thành dáng áo dài thướt tha, biến cô gái Huế thành biểu tượng nghệ thuật."

Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng gọi ông là nghệ sĩ dấn thân đích thực, sống trọn đạo với nghề. Tranh ông không chỉ là tác phẩm, mà còn là nhật ký bằng hình ảnh của một thế hệ. Báo Văn Nghệ ghi nhận ông là "cầu nối giữa hội họa miền Nam trước 1975 và nghệ thuật đương đại", đặc biệt qua cách ông giữ vững phong cách dù sống lưu vong.

Đinh Cường không chỉ để lại một kho tàng tác phẩm đa dạng với kỹ thuật mảng màu mờ ảo, nét vẽ uyển chuyển, màu sắc trầm ấm mà còn truyền cảm hứng sâu sắc cho thế hệ họa sĩ kế tiếp. Triết lý nghệ thuật của ông – "Vẽ những gì tôi nhớ" – biến mỗi bức tranh thành một chuyến hành trình hoài niệm, một dòng chảy không ngừng của ký ức và cảm xúc.

Di sản và tinh thần nghệ thuật bất tử 

Mang nhiều đóng góp quan trọng cho nền mỹ thuật Việt Nam, Đinh Cường không chỉ là người hoạ sĩ kiệt xuất, ông là người mở đường, đặt nền móng cho sự sáng tạo không giới hạn. Ông dẫn dắt người thưởng tranh vào miền ký ức sống động, nơi ông đặt một phần tâm hồn vào nghệ thuật, lưu giữ những không gian đã biết đổi và níu giữ những kỉ niệm đã mất. Cùng triết lý sáng tạo ấn tượng với câu nói “Tôi vẽ những gì tôi nhớ’ là kim chỉ nam cho các thế hệ nghệ sĩ trẻ muốn tìm về bản sắc cá nhân. Như lời của Trịnh Cung, Đinh Cường là “kẻ mộng du giữa đời thực” - người đã biến những hoài niệm thành nghệ thuật, từ đó tạo ra di sản. Đinh Cường đã chứng minh được rằng:"Một bức tranh đích thực không cần tả chân thế giới, mà phải chạm được vào ký ức tập thể.". Tác phẩm của ông giờ đây không chỉ treo trong bảo tàng, mà những tác phẩm đó sẽ còn luôn sống động trong tâm trí và trái tim người yêu cái đẹp , hướng đến Chân - Thiện - Mỹ. Người hoạ sĩ ấy vẫn ở đây qua những bức tranh và gợi nhắc chúng ta rằng: Hãy nắm lấy thời khắc hiện tại và trân trọng những gì đã qua, bởi vì đó là lẽ sống.

Previous Post Next Post