Sau khi thời kỳ Phục Hưng huy hoàng lụi tàn, những phong trào và chủ nghĩa mới bắt đầu xuất hiện, dưới cái tên chung, nôm na là Hậu Phục Hưng. Nhưng có một chủ nghĩa mới nổi tiêu biểu, mang nhiều phá cách vượt trội: Chủ nghĩa kiểu cách (Mannerism). Chủ nghĩa nghệ thuật này xuất hiện vào khoảng những năm 1520 và lan rộng vào khoảng năm 1530 cho đến cuối thế kỷ XVI.

Parmigianino, Madonna with the Long Neck (Madonna với chiếc cổ dài), 1534 - 1540. Nguồn: Phòng trưng bày Uffizi, Florence, Ý.
Cho đến nay, vẫn còn nhiều tranh cãi xoay quanh việc đây là một phong cách, trào lưu hay một thời kỳ. Tuy nhiên, Chủ nghĩa kiểu cách được sử dụng để phân loại nghệ thuật của Ý thế kỷ 16 - một loại nghệ thuật không còn gắn liền với thời kỳ Thịnh Phục Hưng.
"Mannerism" là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Ý (maniera), nghĩa là "phong cách" hoặc "cách thức", giống như từ tiếng Anh "style". Maniera có thể chỉ một loại phong cách cụ thể (một phong cách đẹp, một phong cách thô ráp) hoặc chỉ một điều tuyệt đối không cần trình độ (ai đó "có phong cách"). Ở thời kỳ Phục Hưng suy tàn, maniera chính là nguồn cảm hứng khơi dậy tinh thần nghệ thuật mới của thời đại.
Nguồn cảm hứng cho tinh thần kiểu cách mới
Vào cuối thời kỳ Thịnh Phục Hưng đỉnh cao, các nghệ sĩ trẻ đã trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Họ cảm thấy rằng mọi thứ có thể đạt được đều đã đạt được. Dường như các nghệ sĩ không còn phải đối mặt với bất kỳ khó khăn nào, kể cả kỹ thuật cao cấp cần phải nghiên cứu và giải quyết. Đặc biệt, những kiến thức chi tiết về giải phẫu, ánh sáng, tướng mạo và cách con người thể hiện cảm xúc trong biểu cảm và cử chỉ đều đã được nghiên cứu chuyên sâu và phát hành rộng rãi. Việc sử dụng sáng tạo hình dạng con người trong bố cục tượng hình và việc sử dụng sự chuyển màu tinh tế của tông màu cũng đã đạt đến sự hoàn hảo. Lúc này, các nghệ sĩ trẻ khao khát tìm một mục tiêu và những cách tiếp cận mới. Những ý định này đã nung nấu cho một Chủ nghĩa kiểu cách cấp tiến xuất hiện.

Jacopo Pontormo, Entombment, 1528. Nguồn: Nhà nguyện Capponi (nằm bên trong Chiesa di Santa Felicita), Florence, Ý.
Những người theo trường phái Mannerism đầu tiên ở Florence là các học trò của Andrea del Sarto như Jacopo da Pontormo và Rosso Fiorentino. Ngoài ra, Parmigianino (học trò của Correggio ) và Giulio Romano (trợ lý chính của Raphael) cũng dần chuyển hướng theo Chủ nghĩa cách điệu. Tuy nhiên, họ vẫn chưa phải là những cái tên chủ chốt tạo nên loại hình nghệ thuật mới mang tên Chủ nghĩa kiểu cách. Những nghệ sĩ này phát triển sự nghiệp nghệ thuật dưới ảnh hưởng của thời kỳ Thịnh Phục Hưng. Bên cạnh đó, ở giai đoạn này, thay vì nghiên cứu trực tiếp thiên nhiên, các nghệ sĩ trẻ bắt đầu nghiên cứu điêu khắc và bắt đầu Hy Lạp hóa các bức tranh của những bậc thầy thời kỳ Phục Hưng đỉnh cao. Do vậy, phong cách của họ được xem là "phản cổ điển" và là sự mở rộng quá mức của thời kỳ Thịnh Phục Hưng.

Giulio Romano, Bức bích họa The fall of the Giants (Sự sụp đổ của những người khổng lồ). Nguồn: Cung điện Palazzo del Te, Mantua, Ý.
Giai đoạn đỉnh cao của Mannerism có nhiều khác biệt so với trước đó. Những người theo đuổi chủ nghĩa này thường chú trọng những ý tưởng cầu kỳ, phức tạp, giàu tính trí tuệ và phô diễn kỹ thuật điêu luyện. Chính bởi quan niệm và cách tiếp cận có phần phô trương đó, tác phẩm của nghệ sĩ Kiểu cách thường mang các đặc trưng như hình thể thanh mảnh bất thường, tư thế chênh vênh như sắp ngã, phối cảnh bó hẹp, bối cảnh phi thực tế và ánh sáng sân khấu (ánh sáng kịch tính, dữ dội hơn). Ngoài ra, nghệ thuật của phong trào Mannerism là một nghệ thuật mô phỏng nghệ thuật, chứ không phải một nghệ thuật mô phỏng thiên nhiên. Do đó, họ cần có một hình mẫu, một tượng đài lớn để noi theo.

Agnolo Bronzino, Chân dung một chàng trai trẻ, c. 1550 - 1555. Nguồn: Phòng trưng bày Quốc gia, London, Anh.
Hình mẫu ấy chính là Michelangelo. Họ thực hành nghệ thuật bằng cách sao chép các tác phẩm của ông, trong đó Trần Nhà nguyện Sistine là một ví dụ điển hình. Thậm chí, các nghệ sĩ trẻ đã đột nhập vào nhà Michelangelo và lấy trộm các bức vẽ của ông. Giorgio Vasari, trong quyển sách Cuộc đời của những danh họa, điêu khắc gia và kiến trúc sư lỗi lạc nhất, cho rằng Michelangelo đã từng nói: "Phàm những kẻ bắt chước thì sẽ không bao giờ vượt qua được người mà chúng theo đuôi".
Đặc điểm nghệ thuật của Mannerism
Đối với hội hoạ, trong khi nghệ thuật Phục Hưng nhấn mạnh vào tỷ lệ, sự cân bằng và vẻ đẹp lý tưởng, các tác phẩm của Chủ nghĩa kiểu cách lại không đối xứng hoặc thanh lịch một cách không tự nhiên (có cảm giác giả tạo). Bố cục của hội họa Phục Hưng rõ ràng và cân bằng, còn phong cách nghệ thuật Mannerism ưu tiên sự căng thẳng và bất ổn trong bố cục.

Giorgio Vasari, Six Tuscan Poets (Sáu nhà thơ Tuscan), c. 1544. Nguồn: Viện Nghệ thuật Minneapolis (Mia), Hoa Kỳ.
Nghệ thuật Mannerism kết hợp sự thanh lịch được cố tình đẩy đến mức cực đoan, cùng với sự trau chuốt tỉ mỉ trên bề mặt và chi tiết: nhân vật có da mịn như sứ, nằm ngả lưng dưới ánh sáng dịu nhẹ, nhìn người xem bằng ánh mắt lạnh lùng, hoặc thậm chí không có giao tiếp bằng ánh mắt. Chủ thể hiếm khi thể hiện nhiều cảm xúc, khiến cho các tác phẩm thường được coi là "lạnh lùng" hoặc "kín đáo". Đây chính là những điểm tạo nên đặc trưng cho cái gọi là "phong cách sành điệu".

Agnolo Bronzino, Chân dung Eleanor xứ Toledo cùng con trai Giovanni, 1544 - 1545. Nguồn: Phòng trưng bày Uffizi, Florence, Ý.
Những nghệ sĩ trẻ như Giorgio Vasari, Daniele da Volterra, Francesco Salviati… và đáng chú ý nhất là Agnolo Bronzino, học trò của Pontormo là những họa sĩ trường phái Mannerism quan trọng nhất. Bronzino được coi là một trong những họa sĩ vẽ chân dung hàng đầu ở Florence. Hai bức tranh “Eleonora của Toledo với con trai của bà là Giovanni” và “Chân dung một cô gái trẻ cầm sách cầu nguyện” (được vẽ vào khoảng năm 1545) là những ví dụ điển hình của nghệ thuật chân dung Kiểu cách: không biểu lộ cảm xúc, kín đáo và dè dặt nhưng lại vô cùng thanh lịch và giàu tính trang trí. Kỹ thuật điêu luyện và cách Bronzino thể hiện đường nét cơ thể uyển chuyển, tròn trịa cũng là những điểm nổi bật.
Trong lĩnh vực điêu khắc, dường như các nghệ sĩ Kiểu cách cũng bị ám ảnh bởi biểu tượng vĩ đại thời kỳ Phục Hưng – Michelangelo. Họ luôn khao khát “vượt mặt” bậc thầy này, mục tiêu của họ là tìm ra được phong cách riêng biệt để đạt được một đỉnh vinh quang cao hơn Michelangelo. Điều này dẫn tới việc bùng nổ các đơn đặt hàng các bức tượng để đặt tại Piazza della Signoria (Florence), bên cạnh tượng David của Michelangelo. Sự cạnh tranh này góp phần thúc đẩy sự phát triển của điêu khắc trong Chủ nghĩa kiểu cách.

Benvenuto Cellini, Perseus với Đầu của Medusa, 1545 - 1554. Nguồn: Phòng trưng bày Nghệ thuật Điêu khắc ngoài trời Loggia dei Lanzi, Florence, Ý.
Benvenuto Cellini xuất thân là thợ kim hoàn, chính là một trong những nghệ sĩ Kiểu cách tiêu biểu. Ông nổi tiếng với Hầm muối được làm bằng vàng và men (1543) – thể hiện kỹ thuật tinh xảo và óc sáng tạo. Ngoài ra, bức tượng Perseus với đầu Medusa được làm bằng đồng cũng là một tác phẩm để đời trong sự nghiệp Cellini. Với thiết kế 8 góc nhìn (đa chiều) và lối cách điệu phô trương, đối lập hoàn toàn với vẻ tự nhiên của David (Michelangelo), đã chứng minh vì sao ông là một trong những nghệ sĩ quan trọng thời kỳ này.

Hercules and Cacus, 1530 - 1534. Tác phẩm đặt ở bên phải lối vào Palazzo Vecchio tại quảng trường Piazza della Signoria, Florence, Ý. Nguồn: Francesco Bini.
Ngoài ra, Baccio Bandinelli cũng là một cái tên tiêu biểu. Ông đã tiếp nhận khi tác phẩm Hercules và Cacus còn dang dở từ Michelangelo. Vì nó được thừa kế từ bậc thầy thời Phục Hưng nên Baccio đã phải nhận nhiều sự chê bai. Trong đó, Cellini cho rằng tác phẩm như một bao dưa hấu”. Chắc có lẽ vì thế ông cũng chưa tạo được nhiều tiếng vang trong giới các nghệ sĩ Kiểu cách. Tuy nhiên, Baccio đã cắt bỏ nhiều khối đá gốc hơn so với Michelangelo, thể hiện khuynh hướng phóng đại, kiểu cách của Mannerism. Vì vậy, ông tạo được ảnh hưởng lâu dài khi giới thiệu phù điêu trên bệ tượng.

Tommaso Laureti (thiết kế) và Giambologna (hoàn thành), Bức tượng Neptune trên đỉnh Đài phun nước, Bologna (Ý), c. 1567. Nguồn: Didier Descouens.
Một nghệ sĩ cũng tham gia vào sự cạnh tranh khốc liệt và có hai tác phẩm với kích thước thật đặt cạnh bức tượng David tại Piazza della Signoria chính là Giambologna (người gốc Flemish, làm việc tại Florence). Với phong cách đặc trưng figura serpentina – hình dáng uốn lượn, thường có hai nhân vật đan xen, tạo cảm giác sinh động từ mọi góc nhìn – ông thành công với những tác phẩm tượng đồng nhỏ được thiết kế cho các nhà sưu tập. Nhóm tác phẩm này thường có chủ đề thần thoại và được thể hiện hình thể khỏa thân.
Phong trào Mannerism tuy kéo dài không lâu so với các thời kỳ khác. Nhưng đây chính là đòn bẩy cho các nghệ sĩ trẻ thời kỳ này khởi sinh thêm những phong cách độc đáo và mới lạ như Baroque hay Rococo… Những phong cách này vẫn còn nguyên giá trị và tầm ảnh hưởng của chúng đến nghệ thuật đương đại ngày nay.
