Skip to content
Language/

Tiến Văn Miếu

Trải qua hơn 30 năm gắn bó với nghệ thuật không mấy bằng phẳng, đã có một nghệ sĩ dám phá vỡ khuôn khổ để tái sinh, và mỗi lần trở lại là một lần tạo hình cho trực giác.

Sự ra đời của một cái tên

Nguyễn Văn Tiến (sinh 1970, Hà Nội), tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Công nghiệp năm 1995. Anh được biết đến nhiều hơn với biệt danh “Tiến Văn Miếu”, gắn với triển lãm gây tranh cãi tại Văn Miếu Quốc Tử Giám năm 1997. Cái tên ấy vừa là cột mốc sóng gió, vừa trở thành dấu hiệu nhận diện cho hành trình “dò đá qua sông” đến tận hôm nay.

Chân dung Họa sĩ Tiến Văn Miếu. Ảnh từ triển lãm Day By Day (2024), trong Bài viết Hơi thở cuộc sống trong triển lãm kỷ niệm 30 năm của họa sĩ Nguyễn Văn Tiến, Báo Dân trí.

Chân dung Họa sĩ Tiến Văn Miếu. Nguồn: Triển lãm Day By Day (2024), trong Bài viết Hơi thở cuộc sống trong triển lãm kỷ niệm 30 năm của họa sĩ Nguyễn Văn Tiến, Báo Dân trí.

Như nhiều nghệ sĩ cùng thời, Tiến Văn Miếu cũng có những “khoảng lặng” để mưu sinh, đồng thời đối diện với sự dè dặt trong cách công chúng tiếp nhận thực hành nghệ thuật của anh. Giai đoạn 1997 – 2001, sau triển lãm ở Văn Miếu, anh “ẩn mình” tại miền Nam, làm việc tại một công ty bao bì để duy trì cuộc sống:

“Thời gian ấy tôi tập trung vào công việc ở một công ty bao bì để mưu sinh, gần như không tham gia hoạt động nghệ thuật.”

Biệt danh này vừa gợi nhắc va chạm và định kiến, vừa là biểu tượng cho tinh thần phá cách, trở thành điểm tựa để anh kiên định với nghệ thuật, dù đối diện nhiều khó khăn khi “tứ cố vô thân” ở phương Nam.

Khoảng lặng tiếp theo kéo dài hơn, từ 2010–2022. Lần này không chỉ vì mưu sinh, mà còn do anh chủ động “đập bỏ và tái tạo” trong nghệ thuật lẫn đời sống. Dự án trình diễn Xà Bần II là một dấu mốc tiêu biểu:

“Dự án phản ánh cái bối cảnh của một cái sự đông cứng, tức là nó khoan cắt bê tông, để phá vỡ những giá trị cũ, tạo ra không gian mới. Nghệ thuật của tôi cũng vậy: luôn trong tiến trình đập bỏ và tái tạo.” 

Tiến Văn Miếu, Sự im lặng, triển lãm Xà Bần II, 2010. Đăng tải trên trang web Tiến Văn Miếu.

Tiến Văn Miếu, Sự im lặng, triển lãm Xà Bần II, 2010. Nguồn: Trang web Tiến Văn Miếu.

Sau đại dịch Covid-19, Tiến Văn Miếu trở lại với công chúng qua dự án Lockdown tại Alpha Art Station. Lần xuất hiện này cho thấy một diện mạo khác: tranh vẽ và những tiết mục trình diễn của anh sử dụng hình ảnh gắn liền với ký ức mùa dịch, từ băng rôn niêm phong, hàng chồng khẩu trang vương vãi… Chúng không chỉ kể chuyện cá nhân, mà còn phản ánh nỗi đau, sự bế tắc và khát vọng được sống và yêu thương nhiều hơn.

Phá vỡ để chạm vào nghệ thuật

Theo dõi hành trình của anh, dễ nhận ra ám ảnh xuyên suốt là khát vọng tự do. Với Tiến Văn Miếu, nghệ thuật không phải khuôn mẫu mà là tiến trình mở.

Các tác phẩm của anh thường mang sắc thái Trừu tượng trữ tình: khi u tối, khi rực lửa; đôi lúc gợi tinh thần phá phách của New-Dada hay Arte Povera (Nghệ thuật nghèo), khi anh tận dụng vật liệu đời thường, kể cả những thứ vốn bị xem là rác thải. Anh không dựng khung đề tài trước, mà để tác phẩm dẫn đường.

“Có tác phẩm tôi hình dung mơ hồ từ trước, nhưng nhiều khi tôi không chuẩn bị gì cả, chỉ làm theo cảm ứng tức thì. Cứ như dò đá qua sông, vừa đi vừa để tác phẩm dẫn dắt mình.”

Tác phẩm minh họa trong Bài viết Triển lãm Day by Day: Những xúc cảm nhức nhối của họa sĩ Nguyễn Văn Tiến, Harper's Bazaar Việt Nam.

Nguồn: Bài viết Triển lãm Day by Day: Những xúc cảm nhức nhối của họa sĩ Nguyễn Văn Tiến, Harper's Bazaar Việt Nam.

Chính sự ngẫu hứng này khiến tranh và sắp đặt của anh luôn mang sức sống mở, không bị bó buộc trong một “kịch bản” định sẵn. Về phương tiện, anh không giới hạn: hội họa, sắp đặt, trình diễn – tất cả đều có thể trở thành công cụ diễn đạt. Ở điểm này, người ta thường liên tưởng anh đến Robert Rauschenberg, người nghệ sĩ gắn liền với tinh thần New-Dada. Cả hai cùng chia sẻ một triết lý: nghệ thuật không chỉ nằm trong phòng trưng bày hay trên giá vẽ, mà còn hiện diện ngay trong đời sống, trong những vật dụng bình thường nhất.

Với tranh mang hơi hướng Trừu tượng trữ tình, có khi người xem lại nhớ đến họa sĩ Zao Wou-Ki (Triệu Vô Cực). Nhưng ở đây, sự khác biệt khá rõ: Zao hướng đến sự hòa quyện Đông – Tây trong trạng thái thiền quán, còn Tiến Văn Miếu khai thác xung đột giữa chất liệu và đời sống để mở rộng biên giới hội họa. Có thể nói, nếu Zao tìm kiếm sự hòa giải, thì Tiến chọn đối diện với xung đột. Chính vì thế, khi nói về cách mình sáng tác, anh không nhấn mạnh ở lý thuyết mà ở linh cảm sáng tạo.

“Thật ra tôi không bị trói buộc bởi bất kỳ trường phái hay phong cách nào cả. Nói đúng hơn là tôi không có phong cách cố định. Nếu có lúc nào đó hình thành một định dạng, tôi sẽ tự phá bỏ nó để tìm cái mới. Tôi không muốn làm việc trong một khung giá trị nào, kể cả khung do chính mình tạo ra. Tôi luôn muốn thoát ra khỏi nó, để được làm việc tự do hơn.”

Không gian trưng bày tranh và sắp đặt trong triển lãm Open Studio (2024). Ảnh trong album tên OPEN STUDIO - art project of the Nguyen Van Tien, đăng trên trang Facebook cá nhân của nghệ sĩ.

Không gian trưng bày tranh và sắp đặt trong triển lãm Open Studio (2024). Nguồn: Album tên OPEN STUDIO - art project of the Nguyen Van Tien, đăng trên trang Facebook cá nhân của nghệ sĩ.

Những phản ứng trái chiều từ công chúng không làm anh chùn bước, ngược lại, đó chính là động lực để anh khẳng định tinh thần tự do và sự phá vỡ liên tục. Từ “Tôi ơi!” (2001) tại Hành lang Bích Câu, nơi anh cố ý tạo nên những sắp đặt lộn xộn để thách thức quan niệm nghệ thuật “đẹp” và “gọn gàng”; cho đến “Open Studio” (2024) ở J Art Space, nơi phòng vẽ của anh biến thành không gian mở, cho công chúng trực tiếp chứng kiến tiến trình sáng tác. Có thể thấy tinh thần xuyên suốt vẫn là phá vỡ giới hạn và khẳng định tự do trong nghệ thuật.

Trăn trở, một góc nhìn

Nhìn lại hành trình qua những năm tháng chông chênh, khi được hỏi sau tất cả, điều anh hướng đến là gì, câu trả lời lại giản dị: tự do. Với Tiến Văn Miếu, nghệ thuật luôn gắn với đời sống, trong đó có cả chính trị, văn học, xã hội, nhưng cái đích anh chọn không phải là tuyên ngôn chính trị, mà là sự tự do.

“Tôi nghĩ chính trị vốn là một phần của cuộc sống, nên nghệ thuật cũng sẽ có yếu tố đó. Nhưng điều tôi nhắm tới không phải chính trị, mà là tự do trong sáng tạo, tự do của cá nhân hay của một cộng đồng.”

Ở một tầng suy tư khác, anh trăn trở về hệ thống đào tạo mỹ thuật Việt Nam. Theo anh, các trường cần liên tục cập nhật tài liệu chính thống để sinh viên có nền tảng vững chắc, thay vì phải mò mẫm trong nguồn tin trôi nổi. Cùng với đó là sự thiếu vắng không gian cho nghệ thuật sắp đặt và các loại hình thử nghiệm, vốn khó mang lại hiệu quả kinh tế. Điều này khiến nhiều nghệ sĩ trẻ ngần ngại theo đuổi ý tưởng đến cùng. Anh cũng mong nền mỹ thuật đương đại sẽ có một đội ngũ phê bình chuyên sâu, đủ khả năng lý giải tác phẩm từ nhiều chiều cạnh, thay vì chỉ dừng ở khen – chê.

“Nếu các trường hay cơ sở đào tạo cập nhật thành một hệ thống thì sẽ hiệu quả hơn là để sinh viên tự đi tìm trên mạng. Bởi có người biết cách tìm, nhưng nhiều người mới thì lại không, nên rất cần cập nhật thường xuyên về mỹ thuật, nghệ thuật.”

Góc trưng bày các tác phẩm tại triển lãm Day by Day (2024), được đăng tải trên trang web Tiến Văn Miếu.

Góc trưng bày các tác phẩm tại triển lãm Day by Day (2024). Nguồn: Trang web Tiến Văn Miếu.

Khi được hỏi về những dự án sắp tới, anh chỉ gói gọn trong hai từ: “nhanh” và “ngẫu hứng”. Tinh thần sáng tạo “bất khuôn, bất dạng” này vẫn là điểm nhấn bền bỉ trong suốt hơn 30 năm qua. Anh trân trọng công chúng đã đón nhận, nhưng khi được hỏi có bao giờ nhìn lại để tự đánh giá sự hài lòng, anh chỉ cười rồi xua tay:

“Hầu như tôi thường cứ làm thôi, đi tiếp thôi, ít khi ngồi nhìn lại. Có bức đã ký rồi mà tôi vẫn vẽ thêm, vì với tôi tác phẩm chưa bao giờ thật sự kết thúc – nó luôn tiếp diễn, chồng lớp lên nhau.”

Là thế đó, mỗi tác phẩm của anh luôn là một tiến trình mở, không bao giờ dừng lại ở một hình thức cố định.

Đôi lời kết

Tiến Văn Miếu là minh chứng cho một hành trình tìm kiếm và tái tạo không ngừng nghỉ. Anh vẫn kiên trì thử nghiệm, không ngại lối đi khó, để tìm tiếng nói riêng trong hội họa. Với anh, nghệ thuật là một quá trình mở, không có kết thúc tuyệt đối, mà luôn sẵn sàng cho sự tiếp nối.

Hành trình “dò đá qua sông” của Tiến Văn Miếu không chỉ là hành trình của riêng anh, mà còn là hành trình của sự tự do, của sự phá vỡ để chạm đến những giá trị mới trong nghệ thuật.

Related articles