Skip to content
Language/

Phùng Phẩm

Đi qua thời cuộc khốc liệt và chọn cho mình một cảm quan mạnh mẽ về đời sống cùng sự bền bỉ, Phùng Phẩm đã cần mẫn với từng thớ gỗ, nương theo vết khắc, để gửi lại cho đời những khối hình mang dáng dấp thân quen.

Chân dung họa sĩ Phùng Phẩm. Ảnh thuộc Bài viết Họa sĩ Phùng Phẩm - một tài hoa lặng lẽ, Báo Công an Nhân dân.

Chân dung họa sĩ Phùng Phẩm. Nguồn: Bài viết Họa sĩ Phùng Phẩm - một tài hoa lặng lẽ, Báo Công an Nhân dân.

Khắc lại một con người “ẩn dật”

Họa sĩ Phùng Phẩm sinh năm 1932, quê gốc Vĩnh Phúc, lớn lên trong khói lửa kháng chiến. Tuổi thơ của ông gắn liền với những năm tháng chống Nhật, chống Pháp, nơi tinh thần dân tộc và ý thức tự cường được hun đúc.

Những năm 1952 - 1953, ông được cử sang Quế Lâm, miền Nam Trung Quốc học văn hóa trong chương trình đào tạo của Nhà nước. Chính tại đây, cuộc gặp định mệnh với họa sĩ Nguyễn Khang, đã mở ra con đường hội họa của một tư duy tạo hình cởi mở, không bị đóng khung.

“Ông Nguyễn Khang chỉ dạy vài buổi, đại khái về cách nhìn, cách đo, cách quan sát vật, quan niệm xa gần, những cái sơ đẳng của người học vẽ thôi.”

Phùng Phẩm, Đập lúa 1, sơn mài trên gỗ, 143 x 90 cm. Ảnh thuộc Bài viết Họa sĩ Phùng Phẩm - Tình yêu cuộc đời, Báo Nhân dân.

Phùng Phẩm, Đập lúa 1sơn mài trên gỗ, 143 x 90 cm. Nguồn: Bài viết Họa sĩ Phùng Phẩm - Tình yêu cuộc đời, Báo Nhân dân.

Năm 1954, sau khi về nước, Phùng Phẩm làm công tác văn hóa, dạy học và tự học vẽ. Niềm say mê ấy đưa ông đến Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, khóa I hệ trung cấp. Ra trường, ông công tác tại Hải Dương, rồi năm 1967 được giới thiệu học tiếp lên Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Tại đây, ông học nhiều bộ môn nền tảng từ hình họa, điêu khắc, bố cục, đến trang trí. Nhưng khi đang học dở năm thứ hai, ông bị cuốn vào một vụ “gièm pha không căn cứ” và buộc phải rời trường.

Phùng Phẩm chưa bao giờ kể hết ngọn nguồn câu chuyện ấy, chỉ nói khẽ: “Có những chuyện mình không thể kể, nhưng cũng muốn nói là đó không phải lỗi của mình.” Dẫu vậy, đặt trong bối cảnh hội họa Việt Nam giai đoạn 1955 - 1975, người ta có thể hiểu phần nào. Hiểu về những chuyển biến ấy, nhà nghiên cứu Lã Nguyên từng nhận định:

“Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan hệ quốc tế giới hạn. Miền Nam thiết lập chế độ tư bản, quan hệ quốc tế nối liền với Mỹ và các nước tư bản Tây Âu. Tồn tại dưới hai chế độ chính trị khác nhau, dĩ nhiên, mỹ thuật miền Nam và miền Bắc có hai hướng lựa chọn khác nhau trong quan niệm nghệ thuật. Chỉ cần xem thái độ đối với vấn đề trung tâm của thời đại mà các phía đặt ra cũng đủ để ta thấy rõ điều đó.”

Thời kỳ đó, mỹ thuật miền Bắc chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa, đề cao tính tuyên truyền và phục vụ công - nông - binh. Phùng Phẩm lại chọn con đường riêng. Ông có năng khiếu bố cục, được Hiệu trưởng Trần Đình Thọ khen ngợi về khả năng sắp đặt hình khối, nhưng cách thể hiện của ông lại chịu ảnh hưởng Lập thể và hội họa phương Tây, tư tưởng bén rễ từ thời học Nguyễn Khang, người mang tinh thần cởi mở của Mỹ thuật Đông Dương.

Trong con mắt bảo thủ khi ấy, đó là “nghệ thuật tư sản”, “khó hiểu”. Ảnh hưởng của Lưu Hữu Phước, người có vị trí cao trong ngành văn hóa, khiến mâu thuẫn tư tưởng trở nên căng thẳng. Khi nhìn lại, người ta phần nào hiểu được ẩn khuất của sự rời trường năm ấy.

Sau đó, ông chọn sống “ẩn dật”, nhưng không rời nghệ thuật. Ông về làm tại Xí nghiệp Phim Hoạt hình Việt Nam, suốt mười năm, cho đến khi tự nguyện nghỉ hưu sớm.

“Tôi không kể hết những cái hay về mình, nhưng mà cũng có những cái mình góp ý kiến cầu thị bất thành, cho nên tôi tự nguyện làm đơn xin về hưu.”

Phùng Phẩm, Bình phong Những nụ hôn tình yêu. Ảnh do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cung cấp. Ảnh thuộc Bài viết 2 bức sơn mài của họa sĩ Phùng Phẩm hồi hương, VN Express.

Phùng Phẩm, Bình phong Những nụ hôn tình yêu. Ảnh do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cung cấp. Nguồn: Bài viết 2 bức sơn mài của họa sĩ Phùng Phẩm hồi hương, VN Express.

Từ năm 1986, ông về vẽ tự do, bước vào hành trình tìm lại tiếng nói riêng. Nhà phê bình Bùi Như Hương từng nhận xét: “Phùng Phẩm phải nghị lực lắm mới có thể kiên định trên con đường nghệ thuật gian nan trong bối cảnh xã hội nhiều biến động của thế kỷ 20.”

Những bức tranh khắc gỗ

Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Phùng Phẩm là một cái tên nổi bật với thực hành tranh khắc gỗ và sơn mài trên nền gỗ. Ông đã thực hành loại tranh này từ những năm 1953, khởi nguồn từ niềm yêu thích tranh khắc gỗ Nhật (Ukiyo-e), loại hình ghi lại những khoảnh khắc cuộc sống thường ngày của tầng lớp thị dân.

Với tinh thần “sống vô tư cho hiện tại”, ông đưa chủ đề mỹ nhân (Bijin-ga) cùng các sinh hoạt đời sống vào tranh, sử dụng lối xử lý phi bố cục, góc nhìn cao và lệch theo tinh thần khắc gỗ Nhật, phong trào Japanism từng gây ảnh hưởng lớn đến hội họa phương Tây.

“Tôi xem tranh khắc gỗ Nhật và rất thích, họ làm đẹp, đặc biệt là cách thể hiện phụ nữ Nhật rất riêng và tinh tế. Nhiều người nói tranh tôi có ảnh hưởng từ khắc gỗ Nhật, tôi thấy cũng bình thường, vì đó là tinh thần học hỏi chứ không sao chép.”

Phùng Phẩm, Thiếu nữ và Hoa (Young Maiden with Flowers), tranh in gỗ, đen trắng, 61 x 52.5 cm, 1983. Bộ sưu tập Phòng tranh Thăng Long. Ảnh thuộc Bài viết Hoạ sĩ Phùng Phẩm, Artistay.

Phùng Phẩm, Thiếu nữ và Hoa (Young Maiden with Flowers), tranh in gỗ, đen trắng, 61 x 52.5 cm, 1983. Bộ sưu tập Phòng tranh Thăng Long. Nguồn: Bài viết Hoạ sĩ Phùng Phẩm, Artistay.

Tranh của ông ghi lại hình ảnh phụ nữ Việt trong những dáng đứng, dáng ngồi đoan trang. Phùng Phẩm học ở người Nhật cách cắt khung, góc nhìn cao và lệch, bỏ qua bố cục đối xứng, từ đó tạo nên không gian mở, khác biệt rõ khi so với đồng nghiệp cùng thời. Nếu Nguyễn Tiến Chung với Chợ Chông hướng đến Hiện thực dân gian, thể hiện cảnh chợ, nông thôn trong lối tả thực phù hợp tinh thần xã hội chủ nghĩa, thì Phùng Phẩm lại tập trung vào mảng khối, đối lập đen trắng, khai thác tính điêu khắc của hình người. Tranh ông mạnh mẽ, gãy gọn, biểu hiện cảm xúc bằng nhịp độ hình khối hơn là chi tiết.

Không dừng lại ở khắc gỗ đen trắng, nhờ theo học anh “Bách mù” về sơn mài, ông đã mở rộng thêm sắc màu cho những tranh khắc gỗ.

“Tranh khắc gỗ và tranh sơn mài đều có đề tài riêng. Dẫu nó có ảnh hưởng nhau đi nữa, thì nó cũng ít thôi, bởi vì là một họa sĩ mà, thì sao tránh được.”

Phùng Phẩm, Cấy, tranh in khắc gỗ, 46,5 x 56,5 cm, 1991. Tạp chí mỹ thuật.

Phùng Phẩm, Cấy, tranh in khắc gỗ, 46,5 x 56,5 cm, 1991. Nguồn: Tạp chí mỹ thuật.

Sự tiếp nối và kế thừa tinh thần Ukiyo-e của Phùng Phẩm cũng có điểm tương đồng sâu sắc với các danh họa lớn như Mary Cassatt và Vincent Van Gogh. Nếu Van Gogh “nổ tung” cảm xúc trong màu sắc, thì Phùng Phẩm lại “nén lại” trong hình khối và cấu trúc, đưa tinh thần Việt hóa, đời thường hơn, vẫn ẩn chứa sự phóng chiếu tâm trạng cá nhân. Trong khi Cassatt tập trung chủ thể phụ nữ và sinh hoạt riêng tư vào tranh sơn dầu, thì Phùng Phẩm chọn hình ảnh phụ nữ Việt e ấp, phụ nữ dân tộc thiểu số, biến thành ngôn ngữ tạo hình độc lập, đậm tinh thần Á Đông.

Miệt mài sáng tác là vậy, song những năm công tác tại Xí nghiệp hoạt hình, ông không làm triển lãm cá nhân mà chỉ “góp tranh vào triển lãm chung”. Phải đến sau khi về hưu năm 1986, họa sĩ Phùng Phẩm mới có điều kiện hoàn toàn tự do theo đuổi ngôn ngữ nghệ thuật cá nhân. Cơ duyên với vợ chồng nhà sưu tập Quang Sao đã giúp ông có Triển lãm cá nhân, và được nhiều người biết đến hơn.

“Quả ngọt” đến muộn, nhưng sâu sắc khi hai bức sơn mài Kiêu hãnhNhững nụ hôn tình yêu được Ellen Berends, nguyên Phó Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam, trao tặng cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Đó không chỉ là vinh danh, mà là dấu chấm đẹp cho hành trình 70 năm sáng tác.

Phùng Phẩm, Cuộc gặp ở bến Mê, sơn mài, 104 x 122 cm, 2007. Thuộc bộ sưu tập Thăng Long Gallery. Nguồn: Bài viết Hội họa Phùng Phẩm: Quỹ đạo của những khối hình lập phương, L’officiel Vietnam.

Theo Phùng Phẩm, yếu tố quyết định vẻ đẹp của một bức sơn mài không nằm ở vật liệu hay kỹ thuật, mà ở bố cục tranh. Ông đặt trọng tâm vào bố cục, cho thấy cách nhìn tạo hình thuần mỹ, tách khỏi lối “trang trí cầu kỳ” vốn hay thấy ở nhiều người cùng thời.

“Vàng, bạc hay kỹ thuật không quyết định vẻ đẹp của sơn mài. Bố cục mới làm nên tranh.” 

Bố cục với ông là nhịp điệu không gian, nơi mảng và khối được tổ chức theo nguyên tắc âm dương, như tiếng thở của cuộc đời. Cách tư duy đó khiến tác phẩm của ông gần với triết lý tạo hình phương Đông, nơi cái trống và cái đầy, khoảng hở và mảng đặc hòa trong tiết tấu tự nhiên. Những tác phẩm cũng như hành trình nghệ thuật của ông, đã được nhìn nhận công tâm, đánh dấu sự an ủi cho hơn 70 năm miệt mài sáng tác, vượt khó mưu sinh, và những chướng ngại âm ỉ không nói nên lời.

Thay lời kết

Nhìn lại, có thể nói Phùng Phẩm là nghệ nhân của cấu trúc. Ông chọn vết khắc, khối hình để nói về con người và đời sống, chứ không bằng ngôn ngữ lãng mạn hóa, từ đó tạo nên một di sản đồ họa Lập thể độc đáo.

Ông kiên định theo đuổi ngôn ngữ riêng của mình, dù đi ngược dòng chính thống thời bấy giờ. Giờ đây, khi tuổi cao, Phùng Phẩm không còn vẽ nhiều, nhưng tinh thần sáng tạo cởi mở và sự bền bỉ trong tư duy cấu trúc vẫn là ngọn lửa ông truyền lại cho con cháu.

Tranh khắc gỗ của Phùng Phẩm vì thế vẫn là một di sản bền chặt, như từng đường khắc ông đã dày công đục đẽo, rồi in vào chính con đường nghệ thuật của mình.

Related articles