Skip to content
Language/

Phạm Hậu

Họa sĩ Phạm Hậu (Phạm Quang Hậu) sinh ngày 13 tháng 6 năm 1903, là con thứ hai trong một gia đình nghèo có 7 anh chị em tại làng Đông Ngạc, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Thuở ấu thơ ông có đời sống rất cơ cực, 2 tuổi đã mất bố, 10 tuổi đã mồ côi mẹ và sau đó phải chuyển đến sống cùng vợ chồng của người chị ruột và tự đi tìm cơ hội để phát triển bản thân. Bởi lẽ lớn lên trong một hoàn cảnh ngặt nghèo như thế mà Phạm Hậu luôn kiên trì và cố gắng trong suốt sự nghiệp mỹ thuật cũng như sự nghiệp giảng dạy của mình. 

Năm 1920 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Phạm Hậu khi đỗ vào trường Bách nghệ Hải Phòng. Ông học nghề thực hành trong 4 năm và sau đó thử đủ các nghề tiện, nguội, đúc, hàn, bào, phay, gò… và cả nghề lái xe. Năm 1929, ông thi đỗ vào khóa 5 của trường Mỹ thuật Đông Dương dù trước đó chưa từng qua lớp đào tạo nghệ thuật nào ngoài học họa sĩ Nam Sơn ba tháng. Ấy thế mà ông vẫn đỗ thứ 2 trong tổng số 6 vị tinh tú được chọn vào khóa ấy. Người ta hay thường ngẫm nghĩ về ông rằng: Phải chăng cái tuổi 26 vừa trưởng thành vừa trẻ trung đã trở thành nguồn xung lực để ông làm nghệ thuật? Năm 1949, với tình yêu nghề nghiệp và quyết tâm xây dựng một nền Mỹ thuật ứng dụng nước nhà, ông đã cùng các họa sĩ Trần Văn Dư, Trần Quang Trân thành lập Trường Quốc gia Mỹ nghệ, tiền thân của trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp ngày hôm nay. 

Họa sĩ triệu đô và những bức tranh gây thương nhớ 

Họa sĩ Phạm Hậu sáng tác được rất nhiều thể loại tranh trên đa dạng các chất liệu khác nhau bởi một cái nôi đào tạo trước đó vô cùng vững chắc tại trường Mỹ thuật Đông Dương. Ông đã được thực nghiệm từ hình họa, ký họa, trang trí đến các bài tập nghiên cứu thiên nhiên. Để tăng thêm độ khó, Phạm Hậu cũng đã thử sức qua thuốc nước, than, màu dầu, lụa, bột màu,... Nhưng cao hơn cả, môn chuyên nghệ và học nghề sơn ở những năm cuối tại trường mới làm cho Phạm Hậu bộc lộ cá tính và năng lực hiếm có của mình. Dù mỗi tuần chỉ được học có một giờ, nhưng với sự nhạy cảm hiếm có và năng khiếu bẩm sinh, Phạm Hậu đã trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực sơn mài. 

Tranh sơn mài Phạm Hậu được trình bày dưới nhiều hình thức: Tủ, bình phong, tranh treo tường, đồ mỹ nghệ… Tranh của ông phản ánh một nhãn quan đầy ưu ái với cái đẹp và cuộc đời. Những nét đẹp bình dị, nhỏ bé của cuộc sống hàng ngày đều được khoác lên mình xiêm y lộng lẫy vàng son của sơn mài. 

Những năm 1938-1945, các họa sĩ chưa bị ảnh hưởng bởi hơi hướng chính trị, chủ yếu sáng tác theo trường phái lãng mạn, vẽ theo ý thích. Chính vì thế mà họa sĩ Phạm Hậu vẽ nhiều chủ đề, song ấn tượng nhất vẫn là về phong cảnh thiên nhiên. Thiên nhiên trong tranh của Phạm Hậu luôn tươi tắn, đẹp đẽ và thanh bình. Đôi lúc ông dành sự ưu ái của mình cho Khung cảnh làng quê Bắc Bộ, Cảnh làng, Cổng làng; đôi lúc sẽ đắm mình trong Bình minh trong rừng ở vùng Trung du, Phong cảnh vùng trung du Bắc Bộ, Phong cảnh tỉnh Hòa Bình,...

Phạm Hậu, Hoàng hôn vàng trên Vịnh Hạ Long, sơn mài, bột và vàng lá trên gỗ, 1951

Phạm Hậu, Hoàng hôn vàng trên Vịnh Hạ Long, sơn mài, bột và vàng lá trên gỗ, 1951. Nguồn: Báo Thanh niên.

Những khung cảnh dù khác nhau nhưng đều mang đậm các nét đẹp đặc trưng Á Đông - Việt Nam. “Nếu Nguyễn Gia Trí thiên về việc dùng kỹ thuật sơn mài để thể hiện cảm hứng của mình một cách tuyệt hảo, thì Phạm Hậu là người làm chủ được những chất sơn nhựa quánh đặc, để tạo ra những nét vẽ tinh vi với màu sắc hài hoà. Ông ta thường thể hiện những bức tranh khổ lớn, như bức “Chợ Bờ”, hay loại bình phong “Chùa Thầy” rất nổi tiếng. Trên những bức họa, những con hươu, nai đi vào trong cảnh rừng sâu hay hình của những con cá vàng giữa những đám rêu phong đều là chủ đề sinh động mà họa sĩ đã khai thác những góc độ tuyệt diệu.” (1). 

Phạm Hậu, Chùa Thầy, vẽ bút nhiệt trên gỗ, 1934

Phạm Hậu, Chùa Thầy, vẽ bút nhiệt trên gỗ, 1934. Nguồn: Tạp chí Mỹ thuật.

Những tầng lớp trên trong xã hội đều biết tiếng Phạm Hậu. Với nghệ thuật lúc bấy giờ và với thị hiếu giới thượng lưu người ta đều muốn có tranh hoặc bình phong ký tên Phạm Hậu trong gia đình. Nổi tiếng nhất trong số đó có thể kể đến “Hoàng hôn vàng trên Vịnh Hạ Long” - bức tranh được đấu giá thành công với mức giá 1,24 triệu USD và bức tranh “Thác bờ” với mức đấu giá hơn 1 triệu USD. Nhận xét về tranh của Phạm Hậu, nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi cho rằng: “Tranh triệu USD của Phạm Hậu đa phần là bình phong to, rộng, tạo sự hoành tráng, tính thẩm mỹ cao. Sơn mài ngày càng lên ngôi, những bức tranh huy hoàng, có xuất xứ hoàng gia như Hoàng hôn vàng trên vịnh Hạ Long không thể nào giá thấp.” Ông còn nói thêm: “Phạm Hậu sử dụng nhiều lớp màu sắc tạo chiều sâu, sự cân bằng cho tác phẩm. Ông khắt khe về bố cục, thường sử dụng phong cách Art Deco, kết hợp hai trường phái được sử dụng rộng rãi ở trường Mỹ thuật Đông Dương là nghệ thuật phương Đông và phương Tây.” (2). 

Phạm Hậu, Thác bờ, sơn mài, 1943

Phạm Hậu, Thác bờ, sơn mài, 1943. Nguồn: VietNamNet.

Sự đóng góp cho nền Mỹ thuật nước nhà 

Suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật, họa sĩ Phạm Hậu đã cống hiến không mệt mỏi để phát triển kỹ thuật và nghệ thuật sơn mài. Ông đã để lại một kho tàng đồ sộ, về tranh sơn mài và rất nhiều sản phẩm ứng dụng bằng chất liệu sơn mài trong đời sống xã hội Việt Nam. Trong những năm tháng làm thầy giáo, ông đã biên soạn những cuốn sách được coi là cẩm nang trong đào tạo nghề sơn ở Việt Nam như: Lý thuyết cơ bản về nghề sơn; Kỹ thuật nghề sơn cổ truyền và sự biến đổi của nó; Các loại vật liệu trong sơn mài và phương thức bảo quản; Các loại dụng cụ và cách thức sử dụng trong nghề sơn. Bởi vậy, khi nhìn lại một hành trình phát triển trong kĩ thuật tranh sơn mài của nền Mỹ thuật Việt Nam, người ta sẽ lần theo dấu tới người mở đường, người đó không ai khác chính là Nhà giáo ưu tú Phạm Hậu.