Skip to content
Language/

Lý Trực Sơn

Mỗi chặng đi qua đều là khởi đầu cho sự vượt tiếp cái dễ dàng. Có một người họa sĩ mang trong mình kỷ luật thép và sự trầm tĩnh của người từng đi qua chiến tranh mang tên Lý Trực Sơn. Sau bao lần tìm tòi, thử nghiệm, đập vỡ rồi tái sinh, ông vẫn kiên nhẫn đợi hoa nở, quả chín từ chính hành trình của mình.

Ảnh chụp Họa sĩ Lý Trực Sơn. Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.

Ảnh chụp Họa sĩ Lý Trực Sơn. Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.

Vươn lên bằng sự tự vun trồng

Sinh năm 1949 tại Huế, trong một gia đình có bố làm việc ở Viện Văn học, Lý Trực Sơn từ nhỏ đã sống giữa sách báo và các cuộc tranh luận tư tưởng thời “Nhân văn - Giai phẩm”. Cái nôi ấy sớm nuôi dưỡng trong ông niềm say mê tri thức và tinh thần suy tư độc lập.

“Vì ông già tôi làm ở Viện Văn học, sách báo cũng tương đối nhiều, thế nên tôi được biết đến phong trào Nhân văn - Giai phẩm, có lẽ tôi là người biết nhiều nhất về cái đó, mặc dù mình rất bé.”

Mới 11 tuổi, ông mất bố, phải theo chị họ về Vĩnh Linh (Quảng Trị). Chính nơi vùng đất gió Lào khắc nghiệt ấy, ông gặp đoàn tuyển sinh của họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ. Nhờ cơ duyên ấy, ông thi vào hệ 7 năm sơ trung Mỹ thuật mà không phải cạnh tranh khốc liệt ở Hà Nội, mở ra một cơ hội nhỏ nhưng thay đổi cả đời. Không xuất thân từ gia đình có truyền thống mỹ thuật, ông phải tự mày mò, học hỏi. Nhờ nỗ lực ấy, ông sớm nằm trong nhóm sinh viên xuất sắc và được giữ lại giảng dạy, cùng thế hệ với Đào Minh Tri, Ca Lê Thắng.

“Khó khăn hơn người khác một chút, nhưng vì thế mình phải phấn đấu nhiều, và có thể cái đấy cũng là điều tốt.”

Lý Trực Sơn, Tĩnh vật, chất liệu tổng hợp. Nguồn: Art Auction.

Lý Trực Sơn, Tĩnh vật, chất liệu tổng hợp. Nguồn: Art Auction.

Khi còn học, ông từng bị lưu ban môn Văn, điều chưa từng xảy ra trước đó. “Tôi không cãi, không van xin, chấp nhận học lại.” Sự việc nhỏ nhưng phản ánh rõ cá tính độc lập, tự trọng, và tinh thần không thỏa hiệp, thành một phẩm chất theo ông suốt đời.

Khi có lệnh tổng động viên, ông xung phong nhập ngũ. “Tôi thấy không yên, nên khi tổng động viên sinh viên đại học, tôi xung phong đi.” Suốt bốn năm quân ngũ, ông không xin về đội văn nghệ mà sống như một người lính đúng nghĩa.

“Đã đi bộ đội thì phải là lính bình thường. Tôi không tận dụng việc biết vẽ để có chỗ an toàn hơn.”

Chiến tranh dạy ông kỷ luật, sự chịu đựng và cái nhìn sâu sắc về con người. Nhưng ông không vẽ về chiến tranh: “Tôi không giữ lại chiến tranh trong tranh mình, chỉ có một bức duy nhất tôi vẽ khi hồi tưởng nhập ngũ, cũng tặng cho đứa cháu rồi.” Ông chọn giữ lại trong mình bài học nhân tính, chứ không biến mất mát thành chất liệu để khai thác cảm xúc.

Trở lại trường sau chiến tranh, ông tiếp tục dạy học, ông vốn thân với Nguyễn Thành Chương, rồi quen biết Nguyễn Sáng, Nghiêm, Bích Liên, Phái, những danh họa đã định hình hội họa Việt Nam hiện đại. Ở họ, ông học sự tự do, phóng khoáng, nhưng vẫn giữ đạo đức nghề nghiệp. Song song đó, ông hấp thụ văn hóa phương Tây qua Andersen, Pablo Neruda, và văn học châu Âu, một nền tảng giúp ông giữ được thế cân bằng giữa dân tộc và khai phóng.

“Mình không bị ràng buộc hoàn toàn với giáo dục bắt buộc, đối với hội họa cũng thế.”

Trời Âu, sự tin tưởng, đi tìm

Sau nhiều năm giảng dạy, ông được tổ chức CCFD (Pháp) và một nhà phê bình Thụy Sĩ giới thiệu học bổng sang châu Âu. Sau hai năm trì hoãn, vị phụ trách chương trình khẳng định: “Tôi chỉ muốn ông Sơn sang.” Năm 1989, ông đặt chân đến Paris, chỉ mang theo hộ chiếu và khát vọng được “học thật”.

Tại École Nationale Supérieure des Beaux-Arts, thay vì học theo lộ trình sẵn có, ông xin được tự nghiên cứu sâu hơn. Ông dành phần lớn thời gian cho lịch sử, triết học, và tư tưởng nghệ thuật, thay vì chỉ rèn kỹ năng. Từ đó, ông nhận ra: đào tạo quá khuôn phép có thể “tự triệt tiêu cái sáng tạo của nghệ thuật chân chính”.

“Tôi không muốn học những thứ sẵn có, tôi muốn tìm hiểu cốt lõi của nghệ thuật là gì, tại sao châu Âu người ta đã làm được những điều hay như thế.”

Lý Trực Sơn, Cửa thiền (Zen Gate) 1, chất liệu tổng hợp, 2,1 x 4,2 m, 2024. Nguồn: Art Republik.

Lý Trực Sơn, Cửa thiền (Zen Gate) 1, chất liệu tổng hợp, 2,1 x 4,2 m, 2024. Nguồn: Art Republik.

Thời gian ở châu Âu, ông thử nghiệm với nhiều ngôn ngữ, từ biểu hiện đến trừu tượng, được đánh giá cao nhưng vẫn thấy “cái đẹp” chưa đủ. Với ông, cái đẹp chỉ là kỹ thuật, nghệ thuật thật sự phải có chiều sâu tinh thần, sự thành thật và trải nghiệm. Những năm sống ở Pháp và Đức, ông gặp nhiều triết gia, họa sĩ, nhà tư tưởng. Ông học ở họ tinh thần tự do và cách đặt câu hỏi: nghệ thuật là gì, người vẽ tồn tại để làm gì? Và hơn hết, ông tránh lối vẽ “xuất khẩu hàng Việt sang Tây” - một kiểu dễ dãi chỉ để được chú ý.

So với bạn bè cùng thế hệ như Đào Minh Tri với những hình thể méo mó bản năng, hay Ca Lê Thắng với cấu trúc nhịp điệu hình khối, Lý Trực Sơn điềm tĩnh và chiêm nghiệm hơn. Ông chọn con đường tĩnh lặng, nơi chất liệu, màu sắc, và suy tưởng hòa quyện.

Đi qua những chặng đợi “quả chín”

Cũng như bao họa sĩ sau đổi mới, Lý Trực Sơn từng vật lộn với cơm áo. Có giai đoạn ông thử vẽ tranh lụa theo trào lưu, nhưng ngặt nỗi không ai mua.

“Người khác vẽ kiểu gì cũng bán được, còn mình vẽ kiểu gì cũng không bán được, thế thôi bỏ.”

Có thời, ông tưởng mình đã tìm thấy bản ngã trong tranh giấy dó với nhân vật Xúy Vân, người đàn bà hóa điên vì khát vọng được sống thật, hình tượng sân khấu chèo ông yêu thích. Nhưng rồi ông nhận ra, mình vẫn đang lẩn quẩn trong chiếc vòng kỹ thuật quen thuộc.

Chín năm sống ở châu Âu là chín năm thử nghiệm, khủng hoảng và tái sinh. Tại Berlin, ông từng loay hoay với các chất liệu, cho đến khi dùng bột gạch, đất, cát làm nên tác phẩm “Cửa Thiền”, khoảnh khắc ông tìm thấy giọng nói của chính mình.

“Tôi ôm những thử nghiệm vẽ mãi rồi vứt đi cả chục cân giấy dó… cho đến khi đập gạch làm tranh ‘Cửa thiền’, thì lúc ấy mới thấy mình chạm được một cái gì đó.”

Lý Trực Sơn, Tổ hợp nét, chất liệu tổng hợp, 2,1 x 2,1 m, 2024. Nguồn: Wow Weekend.

Lý Trực Sơn, Tổ hợp nét, chất liệu tổng hợp, 2,1 x 2,1 m, 2024. Nguồn: Wow Weekend.

Sau những năm tháng thử nghiệm đa chất liệu, ông trở về với sơn mài, chất liệu ruột thịt của mình. “Sơn dầu thì dễ hỏng, khí hậu Việt Nam khắc nghiệt. Thành ra đời tôi cứ quanh ba chất liệu: sơn mài, giấy dó, và tổng hợp thôi.” Ban đầu, ông vẫn khai thác son, vàng, bạc rực rỡ truyền thống, nhưng dần dần, ông từ bỏ cả vẻ hào nhoáng ấy, hướng tới trừu tượng sơn mài giản lược của nền đen, màu lam, vỏ trứng, ánh sáng tự nhiên của vật chất.

“Sau triển lãm Đất, quay lại sơn mài, tôi mới thấy mình thoát khỏi gò bó của kỹ thuật. Tranh bây giờ có cái tính nghệ thuật tự nó.”

Sơn mài Việt Nam đặc biệt vì được nuôi dưỡng bởi tinh thần giao thoa Đông - Tây, nhờ Trường Mỹ thuật Đông Dương. Ông kính trọng những bậc tiền bối như Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Văn Tỵ, rồi cả hội “Gang of Five”, những người tạo nên “một trường tinh thần không tan”. Ông cũng nhìn thấy “lạm phát sơn mài” ngày nay, khi nhiều họa sĩ chỉ dừng lại ở cái đẹp kỹ thuật mà thiếu chiều sâu tư tưởng.

“Cái thuận lợi chính là cản trở. Dễ đẹp thì dễ thỏa mãn. Và sự thỏa mãn là kẻ thù của sáng tạo.”

Câu nói ấy không dành riêng cho hội họa, mà dành cho đời sống nữa. Với ông, sự khó khăn giúp con người lớn lên, còn dễ dàng khiến người ta hư hỏng. Ông cũng thừa nhận: “Việc chịu đựng được cái sự nổi tiếng là một phẩm chất khó đạt được lắm đấy.”

Lý Trực Sơn, Lam và trắng, chất liệu tổng hợp, 4,2 x 2,1 m, 2024. Trưng bày tại Triển lãm “ĐẤT – EARTH”. Nguồn: Báo Tiền Phong.

Lý Trực Sơn, Lam và trắng, chất liệu tổng hợp, 4,2 x 2,1 m, 2024. Trưng bày tại Triển lãm “ĐẤT – EARTH”. Nguồn: Báo Tiền Phong.

Là người cầu toàn, ông làm gì cũng “chậm mà chắc”, có khi mất đến bảy, tám năm mới hoàn thành vài bức tranh. Ông nghiên cứu kỹ, vẽ hàng chục bản phác thảo rồi mới chọn một. Ông tin rằng, dù mang tính bản địa hay toàn cầu, người nghệ sĩ đều phải khắt khe và trung thực thì mới tạo ra giá trị thực. Với thế hệ trẻ, ông nhắn nhủ: hãy hiện đại, toàn cầu, nhưng phải nghiêm khắc hơn với chính mình để có tác phẩm đáng giá.

Vài dòng kết

Nhìn lại hành trình dài, Lý Trực Sơn là một minh chứng cho sự chín muồi của một đời tự vun trồng. Ở ông, sáng tạo luôn đi cùng kỷ luật; tự do luôn song hành với trách nhiệm, và nghệ thuật chỉ có ý nghĩa khi họa sĩ trung thực với chính mình.

Ông thuộc lớp nghệ sĩ khai phá, những người không dừng ở hình thức mà dám tự giải cấu trúc để đi tới bản chất. Trong từng giai đoạn sáng tác, ông đều tự ví mình như cây trái trong tự nhiên: “Một thời là hoa, một thời là quả xanh, một thời là quả chín, một thời thì quả nó rụng, nó lại mọc cây mới.” Ở Lý Trực Sơn, nghệ thuật không bao giờ dừng lại, nó chín, nở, rồi lại bắt đầu những tâm tư ông mang cả đời.

Related articles