Hoạ sĩ Lê Triều Điển là một người con của miền Tây sông nước. Ông sinh ra và lớn lên ở huyện Chợ Lách, Bến Tre vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước. Chính vùng đất, văn hoá và con người nơi đây đã nuôi dưỡng và tạo nên một vị danh họa “có một, không hai” của mỹ thuật Việt Nam.
Hành trình dài un đúc lửa nghệ thuật
Nếu được ví von, có lẽ, Lê Triều Điển chính là viên ngọc thô, may mắn được tìm thấy từ rất sớm. Khi bồi hồi nhớ lại, ông kể rằng từ năm lên 3 tuổi cái hồn của người hoạ sĩ đã có trong một Lê Triều Điển nhỏ bé. Chính nhờ những lần vẽ tặng bạn bè trên giấy tập, những hôm nghịch đất nặn trâu ngoài ruộng… và quan trọng nhất là sự xuất hiện và đồng hành của vợ - nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh trong hơn 50 năm cuộc đời - đã nuôi dưỡng con người và xây dựng tính nghệ thuật trong ông. Với ông, những thứ đó không đơn thuần là sự công nhận về tài năng, mà còn là lời tuyên ngôn ủng hộ, tuy âm thầm nhưng hết sức mạnh mẽ - cái vốn cần có để đặt nền móng vững chắc cho một danh họa tài ba.
Với bản tính đam mê tìm tòi, học hỏi, Lê Triều Điển đã tận dụng tốt cơ hội của mình khi học ở Sài Gòn. Cậu sinh viên ngày ấy đã không bỏ sót bất kỳ tài liệu mỹ thuật hay triển lãm hội hoạ nào của các nghệ sĩ tên tuổi như Thái Tuấn, Tạ Tỵ, Lê Trung, Ngọc Dũng… Mặc dù, không được đào tạo chính quy, nhưng sự ham mê ấy đã un đúc cho ông những kinh nghiệm quý báu trên con đường theo đuổi nghệ thuật.

Lê Triều Điển, Ký ức Huế, 2012. Nguồn: Báo thanh Niên.
Khi tham gia chiến đấu tại Đà Nẵng, ông gặp những người đồng đội cũng làm nghệ thuật giống mình: Phạm Văn Hạng, Cao Bá Minh, Nghi Cao Nguyên… Nơi chiến trường khốc liệt, vẽ tranh như một liều thuốc làm dịu cơn đau đối với người hoạ sĩ. Trong giai đoạn những năm 1960, ông đã cho ra đời hàng chục tác phẩm, đến năm 1967, ông tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên tại nơi ông phục vụ công tác. Các tác phẩm của ông thời kỳ này thường là về những cảnh mùa thu có rừng Tam Quan, trụi đọt dừa hay những đêm trăng tĩnh lặng. Ông thể hiện góc nhìn chiến tranh qua lăng kính lãng mạn của bản thân, phần nào cũng là ước mong ngày hoà bình của một người lính.
Sau giải phóng, ông là người tiên phong phát triển nghệ thuật tại địa phương. Lê Triều Điển chính là cái tên hoạt động nghệ thuật cực kỳ sôi nổi tiêu biểu lúc đó. Ông là người cầm trịch quy tụ các anh em trong giới hoạ sĩ thành tổ hội hoạ. Bước đầu, nhóm thường xuyên vẽ khẩu hiệu để duy trì cuộc sống. Sau cơ duyên gặp gỡ hoạ sĩ Thanh Châu, ông cùng những người bạn của mình tổ chức triển lãm đầu tiên mang tên "Đồng Bằng Sông Cửu Long".

Lê Triều Điển, Ký ức Mekong, sơn dầu, 2020. Nguồn: TRieu Dien artist.
Hành trình nghệ thuật của Lê Triều Điển bắt đầu với đất sét, viên gạch và nét cọ đậm chất ấn tượng, biểu tượng. Hành trình ấy được tiếp nối khi ông thử sức và theo đuổi trường phái trừu tượng sau này. Tranh của ông là sự pha trộn giữa trừu tượng hình học và tiến đến gần hơn với trừu tượng cảm xúc. Với người nghệ sĩ tài hoa, cảm hứng đến với ông theo một lẽ hết sức tự nhiên. Tất cả là nhờ dòng chảy được hình thành trong con người từ thuở ấu thơ, nuôi dưỡng và phát triển qua quá trình ông lớn lên ở vùng sông nước, và niềm đam mê mãnh liệt với những công trình văn hoá cổ từ nhiều nền văn minh lớn.
Nghệ thuật là không giới hạn
Người nghệ sĩ Lê Triều Điển mang trong mình một tâm hồn rộng lớn, vì vậy, chỉ có những bức canvas cỡ lớn dài hàng chục mét mới chứa đựng hết những xúc cảm đang chảy cuồn cuộn trong con người ông. Không phỏng theo một khuôn mẫu sẵn có, hay hình hoạ cơ bản nào, ông tạo cho mình những kí hiệu rất riêng, cùng với màu sắc mang hơi hướng trầm tích, đậm vị phù sa của sông Mekong. Chúng là đại diện cho dòng sông mênh mông, nơi đã “bồi đắp phù sa” cho tâm hồn người nghệ sĩ. Có lẽ, với một người xem tranh, những kí hiệu ấy thật khó hiểu và chẳng thể lý giải nổi. Nhưng với ông, đó là trăn trở cả một đời về quê hương, về nguồn cội, về văn hóa Khmer, Óc Eo nơi chôn nhau cắt rốn. Lê Triều Điển gọi tranh của bản thân là những xúc cảm sâu thẳm, chúng không đại diện cho bất kỳ trường phái cụ thể nào, mà thay vào đó, lại mang đậm hơi thở của thời đại.

Lê Triều Điển, Hành trình phương Tây (bên trái), Hành trình phương Đông (bên phải), sơn dầu, 2019. Nguồn: TRieu Dien artist.
Bên cạnh những nét cọ trên giấy, ông cũng rất say mê chất liệu đất nung. Lớn lên với quê hương đất sét, ông luôn trăn trở làm sao để chất liệu mộc mạc này trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Chính vì lẽ đó, Lê Triều Điển thường cùng với vợ mình đi điền dã tại các xưởng gốm, các lò đất nung khắp các tỉnh miền Tây để tìm nguồn cảm hứng sáng tác. Những sáng tác gốm của ông cũng mang đậm âm hưởng của văn hoá Chăm và Khmer như một phần không thể tách rời, nhưng ẩn sâu bên trong vẫn ghi dấu bản sắc cá nhân mạnh mẽ của người nghệ sĩ độc đáo này. Suốt hành trình sự nghiệp của mình, ông luôn đau đáu làm sao để thổi hồn vào đất. Với mong muốn đó, rất nhiều tác phẩm gốm xuất sắc đã được ra đời dưới bàn tay khéo léo của người nghệ sĩ. Vào những năm 2000, triển lãm đầu tiên của Lê Triều Điển với toàn bộ tác phẩm là gốm đất nung - "Tiếng nói của đất" - được tổ chức, đánh dấu bước khởi đầu cho hành trình phát triển của chất liệu dân dã này.

Vợ chồng hoạ sĩ Lê Triều Điển - Nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh. Nguồn: Báo Vĩnh Long.
Vị hoạ sĩ chân chất Lê Triều Điển lần đầu ghi dấu với nghệ thuật thế giới khi một nhà sưu tập lớn người Pháp tình cờ biết đến và mua lại toàn bộ tác phẩm ông đã sáng tác trong suốt nhiều năm. Cơ hội này là bàn đệm giúp tranh của Lê Triều Điển có mặt trong hàng trăm cuộc triển lãm lớn nhỏ trên toàn thế giới, góp phần ghi tên Việt Nam trên bản đồ nghệ thuật quốc tế.

Lê Triều Điển, Chuông 1, tác phẩm gốm, 2021. Nguồn: TRieu Dien artist.
Xuất thân là một người hoạ sĩ dung dị, hơn ai hết, ông hiểu những khó khăn và trăn trở của một người theo đuổi nghệ thuật không chuyên. Chính vì vậy, Mekong Art được thành lập để giúp đỡ và kết nối cộng đồng nghệ sĩ ở khu vực Nam bộ. “Mekong là dòng sông lớn bao phủ các nền văn hoá của nhiều nước, không chỉ riêng miền Tây Nam bộ. Cái tên Mekong Art ra đời với mong muốn không làm bó hẹp không gian sáng tác nghệ thuật của anh em hoạ sĩ” - Lê Triều Điển chia sẻ.
Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghệ thuật, Lê Triều Điển đã để lại một di sản mang đậm dấu ấn cá nhân nhưng đồng thời cũng phản chiếu tâm hồn của cả một vùng đất sông nước. Tác phẩm của ông vừa dung dị, mộc mạc, vừa mãnh liệt và mới mẻ như chính con người miền Tây mà ông là đại diện tiêu biểu. Với sự say mê không ngừng nghỉ, ông đã góp phần mở rộng biên độ cho mỹ thuật Việt Nam, đưa tiếng nói của quê hương hòa vào dòng chảy nghệ thuật thế giới. Lê Triều Điển, vì thế, không chỉ là một danh họa độc bản, mà còn là một minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ của nghệ thuật Việt Nam qua thời gian.
Related articles
Sum vầy cùng gia đình họa sĩ Lê Triều Điển với triển lãm “Đồng hành”
Cái ghe, sông nước, cùng chất người Nam Bộ “rặt” trong hội họa của Lê Triều Điển từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng cho niềm đam mê sáng tạo của người bạn đời, thi sĩ Hồng Lĩnh, và con trai, kiến trúc sư Lê Triết. Nhân dịp cuối năm, cũng là lúc nhìn lại hành trình sáng tác chung, gia đình đậm chất văn - nghệ ấy đã cùng nhau thực hiện triển lãm mang tên “Đồng hành”, khai mạc ngày 28.01.2026. Họa sĩ Lê Triết, Hồng Lĩnh và Lê Triều Điển (ở giữa) bên cạnh bạn bè đến dự triển lãm. Nguồn NNA Team. Dìu dắt, đồng điệu rồi thành hình Cái tên “Đồng hành” trước hết là sự biết ơn dành cho những dìu dắt của ba mẹ đối với kiến trúc sư - họa sĩ Lê Triết. Đồng thời, như chia sẻ của thi sĩ - họa sĩ Hồng Lĩnh, sau mấy chục năm bên nhau trong đời sống lẫn hội họa, việc cùng nhau làm nghệ thuật đã là một sự đồng hành. Mở rộng hơn, “Đồng hành” còn là sự song hành với những tâm hồn yêu nghệ thuật, bất kể tuổi tác hay xuất thân, trên con đường hơn 60 năm cầm cọ bền bỉ của họa sĩ Lê Triều Điển. Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Quách Cường, điểm nhấn đáng chú ý của triển lãm nằm ở sự xuất hiện của gốm, được sắp đặt xen kẽ với tranh. Những chiếc chuông gốm gợi lên tiếng vọng nội tâm, trong khi hình ảnh con thuyền gốm trở thành biểu tượng cho hành trình sáng tạo miệt mài ngoài đời thực. Sự thống nhất này trải dài từ mặt phẳng toan đến hình khối không gian, từ họa tiết dân gian được làm mới cho đến những ký tự alphabet mang tính ngẫu hứng. Trong tổng thể ấy, gia đình họa sĩ Lê Triều Điển cho thấy năng lực lao động nghệ thuật dồi dào, cùng dòng cảm xúc sáng tạo được nuôi dưỡng bền bỉ. “Tên triển lãm ‘Đồng hành’ không chỉ nói đến việc đồng hành trong sáng tạo, mà còn là sự đồng cảm về cảm xúc và đồng điệu trong phong cách,” nhà nghiên cứu Quách Cường nhận xét. Một số sáng tác mới của họa sĩ Lê Triều Điển tại triển lãm. Nguồn: Artonis. Ở góc độ chuyên môn, họa sĩ Duy Nhựt, Phó Phân hội Hội họa, Hội Mỹ thuật TP.HCM, nhìn thấy trong triển lãm này một tư duy trưng bày có tính hệ thống. Dù khoảng cách thế hệ giữa hai nghệ sĩ lão thành và một nghệ sĩ trẻ là khá rõ, toàn bộ không gian vẫn toát lên hơi thở đương đại, khiến ranh giới tuổi tác dường như bị xóa nhòa. Người xem bắt gặp một Lê Triều Điển và Hồng Lĩnh đã đi qua hơn nửa thế kỷ sáng tác nhưng vẫn giữ được sự “trẻ” trong nét vẽ, đồng thời nhận ra ở Lê Triết, người mới quay lại hội họa, một sự chặt chẽ, điềm tĩnh trong bố cục. Đó là mối kết nối không lời nhưng giàu nội lực giữa những cá nhân luôn hướng vào thế giới nội tâm. Không gian triển lãm được tổ chức theo lớp lang: sảnh lớn giới thiệu tinh thần chung, khu trung tâm dành cho các tác phẩm khổ lớn của Lê Triết, hai bên là sự đan xen giữa tranh và gốm của Lê Triều Điển và Hồng Lĩnh. Khi quan sát kỹ, người xem có thể nhận ra những chi tiết mang tính “liên kết” và “kế thừa” được cài cắm xuyên suốt, khiến người xem hiểu đây là một cách đối thoại âm thầm mà họa sĩ Lê Triều Điển gửi gắm trong cấu trúc trưng bày. Không gian Gốm và Tranh tại triển lãm. Nguồn: Artonis. Một gia đình, ba màu sắc Nếu xem “Đồng hành” như một câu chuyện, thì Lê Triều Điển chính là người mở đầu. Ông không chỉ là một họa sĩ kỳ cựu mà còn là nhân chứng của nhiều biến chuyển trong mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Với ông, triển lãm lần này không được đo bằng quy mô hay số lượng tác phẩm, mà bằng ý nghĩa của một cuộc hội ngộ gia đình, diễn ra đúng thời điểm cuối năm và gắn với những cột mốc quan trọng trong đời làm nghề. Theo ông, nghệ thuật không thể bị thúc ép, mà phải bắt nguồn từ nhu cầu nội tại. Khi đã trưởng thành, người nghệ sĩ cần tìm ra “một cái gì riêng” để bộc lộ và đối thoại với thế giới. Song hành cùng ông là Hồng Lĩnh, người đến với hội họa từ thơ. Với bà, thơ không chỉ là ngôn ngữ mà còn là hình ảnh, màu sắc và nhịp điệu của đời sống. Việc đưa thơ vào tranh là lựa chọn có ý thức, bắt đầu từ triển lãm cá nhân năm 2000 và kéo dài đến hiện tại. Thay vì sử dụng thư pháp theo lối quen thuộc, bà đặt màu sắc theo cảm xúc, sử dụng chữ viết gần với bảng chữ cái Latin thuần Việt, tạo nên một tổng thể hồn nhiên, mơ màng. Hướng tiếp cận này đặt Hồng Lĩnh vào mạch thi - họa, từ truyền thống Đường - Tống cho đến tinh thần tạo hình chữ của Cy Twombly. Các sáng tác khổ lớn và nhỏ của Kiến trúc sư - Họa sĩ Lê Triết tại triển lãm. Nguồn: Artonis. Trong tranh của Hồng Lĩnh, thơ và họa tồn tại như hai lớp ngôn ngữ không tách rời. Màu sắc thường được đặt xuống trước, theo dòng cảm xúc, rồi chữ xuất hiện như một tầng nghĩa vừa để đọc, vừa để cảm. Bà từng chia sẻ rằng điều quan trọng không nằm ở danh xưng, mà ở khả năng biểu đạt cảm xúc đối với cuộc sống; hạnh phúc của người sáng tác là khoảnh khắc tìm thấy sự đồng cảm. Lê Triết, người con trai, xuất hiện như một mắt xích tiếp nối. Lớn lên trong môi trường nghệ thuật, anh sớm bộc lộ năng khiếu hội họa và từng có triển lãm cá nhân khi mới 17 tuổi. Tuy nhiên, con đường anh lựa chọn lại đi qua kiến trúc, lĩnh vực đòi hỏi tính kỹ thuật và công năng cao. Chỉ khi có đủ điều kiện và thời gian, hội họa mới trở lại như một thôi thúc không thể trì hoãn, trở thành khoảng lắng giúp anh cân bằng giữa kiến trúc và nghiệp vẽ. Với Lê Triết, kiến trúc không đối lập với hội họa, mà là nền tảng giúp nuôi dưỡng đam mê sáng tác. Các tác phẩm của Lê Triết tại “Đồng hành” mang tinh thần trừu tượng biểu hiện, khởi nguồn trực tiếp từ cảm xúc. Anh thừa nhận có sự học hỏi từ cha mẹ, nhưng xem đó như điểm xuất phát để tiếp tục tìm tòi và định hình dấu ấn cá nhân. Các sáng tác mới của Thi sĩ - Họa sĩ Hồng Lĩnh. Nguồn: Artonis. “Trong tâm hồn mỗi con người là một dòng sông đang chảy, và tất cả chúng ta là muôn triệu dòng sông đang chảy đồng hành,” họa sĩ Lê Triều Điển chia sẻ. Câu nói ấy không chỉ mở ra tinh thần của triển lãm “Đồng hành”, mà còn có thể xem như kim chỉ nam cho hành trình sáng tạo bền bỉ của một gia đình nghệ sĩ: Lê Triều Điển, Hồng Lĩnh và Lê Triết. Triển lãm trưng bày hơn 100 tác phẩm lớn nhỏ tại không gian Tòa 2 của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, mở cửa đón công chúng yêu nghệ thuật từ ngày 28.01.2026 đến hết ngày 03.02.2026.
Tri thức lớn tạo nên người nghệ sĩ lớn – Lê Triều Điển (Kỳ 2)
Trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam hiện đại, cái tên Lê Triều Điển luôn hiện lên như một dấu ấn đặc biệt. Ông không chỉ là người nghệ sĩ mang trong mình tình yêu sâu nặng với quê hương sông nước, mà còn là một tâm hồn rộng mở, khao khát tìm tòi tri thức lớn để nuôi dưỡng nghệ thuật. Từ những nét vẽ đầu đời bằng viên gạch, đến những bức tranh trừu tượng trải dài trên khổ canvas khổng lồ, hành trình sáng tạo của Lê Triều Điển là minh chứng cho một đời sống nghệ thuật không ngừng vận động, luôn hướng về cái mới nhưng vẫn neo chặt vào cội nguồn. Bước chuyển mình từ biểu tượng đến trừu tượng Khi nhắc đến Lê Triều Điển, ông hiện lên như là một người hoạ sĩ tài giỏi mà hết sức dung dị. Trong nghệ thuật, ông thường xuyên đem sự chân chất trong con người mình vào từng tác phẩm. Hành trình hội hoạ của ông bắt đầu từ việc lấy viên gạch làm cọ vẽ nhà thờ, vẽ tặng bạn bè trên tập ô ly, hay những chiều nắn đất sét ngoài ruộng. Chính nhờ tài năng thiên bẩm và sự gần gũi, phóng khoáng của mình, ông rất được bạn bè yêu mến. Người họa sĩ già kể lại, thuở ấy đi học, bạn bè thường mua những quyển tập 100 trang đưa ông vẽ kín, và mỗi sáng, ông được các bạn bao ăn như một cách trả công. Tài năng của ông có thể là thiên bẩm, nhưng nếu không có những bữa sáng giản dị như một lời tuyên ngôn chắc nịch về cho tài năng ấy, chắc có lẽ sẽ không có một nghệ sĩ lớn Lê Triều Điển hôm nay. Lê Triều Điển, Mekong, sơn dầu, 2005. Nguồn: Gallerie Dumonteil. Những thời kỳ đầu, bằng tất cả bản năng tự nhiên nhất, ông thường ghi lại những gì mắt thấy tai nghe vào tranh, đa phần là hình ảnh quê hương, sông nước… Tất cả đều là những thứ đã gắn bó sâu sắc với sự trưởng thành của người thanh niên Lê Triều Điển. Khi tham gia chiến đấu ở Đà Nẵng những ngày đất nước còn gian khổ, chàng thanh niên ấy chưa một lần tắt lửa đam mê, “lúc nào cũng vẽ tranh, lúc nào cũng mê hội hoạ”. Mặc dù hoạ sĩ Lê Triều Điển không được đào tạo chính quy qua trường lớp, nhưng ông luôn chủ động và thích thú học hỏi, tìm tòi qua sách vở, qua tài liệu. Những lúc có thì giờ ông thường ghé nhà sách, lên thư viện mày mò về mỹ thuật thông qua lăng kính của các danh hoạ trong nước và thế giới. Sách nghệ thuật Việt Nam thời ấy rất hiếm, ông kiếm cả những tài liệu từ nước ngoài. Những triển lãm tranh tại Sài Gòn khi ấy, ông không sót bất kỳ triển lãm nào. Chính nhờ sự say mê cháy bỏng ông dành cho nghệ thuật, đã gieo vào Lê Triều Điển một cái nhìn căn bản rõ nét về hội họa. Lê Triều Điển, Rồng, sơn dầu, 2011. Nguồn: Gallerie Dumonteil. Không chỉ dừng lại ở hội họa, ông còn dành sự tò mò cho nhiều lĩnh vực khác. Triết học, thiền định hay bí ẩn những nền văn minh lớn của nhân loại như Ai Cập, Lưỡng Hà… đều từng khơi dậy trong Lê Triều Điển niềm say mê khám phá. Có thể nói, chính sự ham học hỏi ấy đã un đúc nên một nghệ sĩ với những ý tưởng rộng mở và tầm nhìn phong phú. Sự rộng mở trong tâm hồn đã đem lại một bước ngoặt, bước chuyển mình lớn trong sự nghiệp nghệ thuật vĩ đại của Lê Triều Điển. Từ những năm 90, nét vẽ của ông đã bắt đầu đi vào những cách điệu, phá cách rồi dần chuyển hướng sang vẽ tranh trừu tượng với nhiều kí hiệu đậm chất sông nước. Lê Triều Điển, Ký ức phù sa, sơn dầu, 2012. Nguồn: Báo Thể thao & Văn hoá. Vị phù sa của dòng sông Mekong vĩ đại không chỉ nằm ở màu sắc, mà còn là những kí hiệu trừu tượng trong tranh Lê Triều Điển. Nếu mới biết tới người hoạ sĩ này, chắc hẳn người ta sẽ không thể hiểu ngụ ý ông gửi vào từng nét kí hiệu. Đôi lúc, với ông cũng thật khó để giãi bày hết những ẩn ý của mình. Bởi đó là cái tự nhiên chảy trong con người, mà không có một thứ gì có thể sắp đặt trước. Lê Triều Điển dí dỏm gọi đó là “nhập đồng”: “Cái này thì phải chuyển qua đây, cái này phải chuyển xuống đây, cái này phải đưa cái hình tượng này, cái này phải chuyển qua nét kia”. Suốt quãng đường dài cống hiến cho nghệ thuật, ông gắn mình với dòng sông Cửu Long, với văn hoá địa phương. Có thể nói rằng, những kí hiệu trừu tượng của Lê Triều Điển cũng có ngôn ngữ của riêng mình: là đại diện cho dòng chảy sông nước, đền đài, cánh đồng, hay thậm chí là câu hò, câu hát… tất cả đều thuộc về quê hương mà ông không thể tách rời. Đối với ông, “quê hương thật và quê hương nghệ thuật đã hoà thành 1”, mang đến cho ông nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận. Lê Triều Điển, Delta, sơn dầu, 2013. Nguồn: Gallerie Dumonteil. Chưa dừng lại ở đó, chủ đề trong tranh của Lê Triều Điển còn được thôi thúc bởi những nền văn minh lớn như Trung Quốc, Ai Cập, Lưỡng Hà, Châu Phi… Ông nói rằng “Khi xúc cảm của người nghệ sĩ lớn thì không vẽ nhỏ nhỏ được”. Một trang giấy nhỏ không chứa đựng hết những cơn sóng lòng của người nghệ sĩ, ông phải trải nó trên những tấm canvas thật lớn, dài hàng chục mét. Có như vậy mới thỏa lòng ông. Cá chép vượt vũ môn - Vươn mình ra thế giới Người nghệ sĩ tài ba nào cũng cần có 1% may mắn. Cơ hội đến với hoạ sĩ Lê Triều Điển khi ông tham gia triển lãm tranh của Báo Công An năm 1990. Ông được một người Pháp mua lại bức tranh của mình. Nhưng cơ hội thực sự phải mất 10 năm vận chuyển mới tìm đến ông. Năm 2000, bạn của người mua tranh năm xưa, là nhà sưu tập lớn người Pháp Dumonteil, đã vô tình thấy tranh của ông và quyết định mua lại toàn bộ số tranh mà ông có. “Đến nỗi cái tấm vách tôi dựng ở nhà, tấm ván ép bể 1 góc, mỗi lần vẽ nhà tôi quơ quơ lên, tôi phết mấy nét, bỏ đó, ông ta cũng gỡ cái tấm đó luôn.” - người hoạ sĩ già hài hước kể lại. Hai tác phẩm của Lê Triều Điển trưng bày tại Art Central Hong Kong 2016. Nguồn: TRieu Dien artist. Nhờ cơ duyên này, ông được mời tham gia rất nhiều các triển lãm lớn nhỏ trên thế giới từ châu Á đến châu Âu, xuất bản sách, viết tên mình chung với những danh hoạ nổi tiếng thế giới như Picasso. Không chỉ hỗ trợ quản lí về mặt truyền thông, Dumonteil cũng góp phần rất lớn đưa cái tên Lê Triều Điển đến gần hơn với báo chí và công chúng quốc tế. Không gian triển lãm "Ký ức Mekong" tại Thượng Hải năm 2019, tổ chức bởi Dumonteil. Nguồn: Gallerie Dumonteil. Tuy chưa gây được nhiều tiếng vang lớn với công chúng trong nước, nhưng với vị thế nổi bật của mình đối với nghệ thuật thế giới, Lê Triều Điển quan niệm rằng lớp nghệ sĩ trẻ “cần phải đi, cần vẽ” để có thể vươn mình và giới thiệu nghệ thuật Việt Nam rộng rãi khắp năm châu. Ông cũng tin rằng thế hệ hoạ sĩ ngày nay, với tài năng của mình sẽ làm được điều này trong một ngày không xa. Hơn nửa thế kỉ lửa nghề vẫn “cháy” Ở cái tuổi xưa nay hiếm, người hoạ sĩ già vẫn không ngừng sáng tác. Ông vẫn tiếp tục vẽ mỗi ngày cùng vợ - là nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh - sau hơn 50 năm lăn lộn với nghề. Với ông, vợ không chỉ là người bạn đời, mà còn là người đồng nghiệp thân thiết và là người thầy đáng kính. “Tôi thầm cảm ơn vì vợ đã chèo chống cùng với mình gần như suốt cả cuộc đời” Không gian triển lãm "50-70-80". Nguồn: Báo Phụ nữ TPHCM. 50 năm tình yêu và nghệ thuật song hành của cặp vợ chồng hoạ sĩ Lê Triều Điển, được ghi dấu qua triển lãm “50-70-80”. Triển lãm ấy không chỉ là dấu mốc nghệ thuật, mà còn là minh chứng đẹp đẽ cho một cuộc đời sáng tạo bền bỉ và tình yêu song hành hiếm có của hai người nghệ sĩ. Không gian triển lãm "50-70-80". Nguồn: Báo Phụ nữ TPHCM. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghệ thuật, trải qua biết bao thăng trầm và khó khăn, qua những thời kỳ nỗ lực để nuôi dưỡng tính nghệ thuật cho bản thân, Lê Triều Điển đã khẳng định mình như một người nghệ sĩ độc bản: vừa mộc mạc, gần gũi, vừa bền bỉ, sáng tạo. Tranh của ông không chỉ là tác phẩm thị giác, mà còn là tiếng nói của đất, của sông, của ký ức và văn hoá. Và trên hết, cuộc đời ông là minh chứng rằng một nghệ sĩ lớn được tạo nên từ tri thức rộng mở, tình yêu sâu nặng với quê hương, và một trái tim chưa bao giờ ngừng đập vì nghệ thuật.
Lê Triều Điển – Hơn 50 năm bước đi trên con đường độc bản (Kỳ 1)
Hoạ sĩ Lê Triều Điển là một người con của miền Tây sông nước. Ông sinh ra và lớn lên ở huyện Chợ Lách, Bến Tre vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước. Chính vùng đất, văn hoá và con người nơi đây đã nuôi dưỡng và tạo nên một vị danh họa “có một, không hai” của mỹ thuật Việt Nam. Hành trình dài un đúc lửa nghệ thuật Nếu được ví von, có lẽ, Lê Triều Điển chính là viên ngọc thô, may mắn được tìm thấy từ rất sớm. Khi bồi hồi nhớ lại, ông kể rằng từ năm lên 3 tuổi cái hồn của người hoạ sĩ đã có trong một Lê Triều Điển nhỏ bé. Chính nhờ những lần vẽ tặng bạn bè trên giấy tập, những hôm nghịch đất nặn trâu ngoài ruộng… và quan trọng nhất là sự xuất hiện và đồng hành của vợ - nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh trong hơn 50 năm cuộc đời - đã nuôi dưỡng con người và xây dựng tính nghệ thuật trong ông. Với ông, những thứ đó không đơn thuần là sự công nhận về tài năng, mà còn là lời tuyên ngôn ủng hộ, tuy âm thầm nhưng hết sức mạnh mẽ - cái vốn cần có để đặt nền móng vững chắc cho một danh họa tài ba. Với bản tính đam mê tìm tòi, học hỏi, Lê Triều Điển đã tận dụng tốt cơ hội của mình khi học ở Sài Gòn. Cậu sinh viên ngày ấy đã không bỏ sót bất kỳ tài liệu mỹ thuật hay triển lãm hội hoạ nào của các nghệ sĩ tên tuổi như Thái Tuấn, Tạ Tỵ, Lê Trung, Ngọc Dũng… Mặc dù, không được đào tạo chính quy, nhưng sự ham mê ấy đã un đúc cho ông những kinh nghiệm quý báu trên con đường theo đuổi nghệ thuật. Lê Triều Điển, Ký ức Huế, 2012. Nguồn: Báo thanh Niên. Khi tham gia chiến đấu tại Đà Nẵng, ông gặp những người đồng đội cũng làm nghệ thuật giống mình: Phạm Văn Hạng, Cao Bá Minh, Nghi Cao Nguyên… Nơi chiến trường khốc liệt, vẽ tranh như một liều thuốc làm dịu cơn đau đối với người hoạ sĩ. Trong giai đoạn những năm 1960, ông đã cho ra đời hàng chục tác phẩm, đến năm 1967, ông tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên tại nơi ông phục vụ công tác. Các tác phẩm của ông thời kỳ này thường là về những cảnh mùa thu có rừng Tam Quan, trụi đọt dừa hay những đêm trăng tĩnh lặng. Ông thể hiện góc nhìn chiến tranh qua lăng kính lãng mạn của bản thân, phần nào cũng là ước mong ngày hoà bình của một người lính. Sau giải phóng, ông là người tiên phong phát triển nghệ thuật tại địa phương. Lê Triều Điển chính là cái tên hoạt động nghệ thuật cực kỳ sôi nổi tiêu biểu lúc đó. Ông là người cầm trịch quy tụ các anh em trong giới hoạ sĩ thành tổ hội hoạ. Bước đầu, nhóm thường xuyên vẽ khẩu hiệu để duy trì cuộc sống. Sau cơ duyên gặp gỡ hoạ sĩ Thanh Châu, ông cùng những người bạn của mình tổ chức triển lãm đầu tiên mang tên "Đồng Bằng Sông Cửu Long". Lê Triều Điển, Ký ức Mekong, sơn dầu, 2020. Nguồn: TRieu Dien artist. Hành trình nghệ thuật của Lê Triều Điển bắt đầu với đất sét, viên gạch và nét cọ đậm chất ấn tượng, biểu tượng. Hành trình ấy được tiếp nối khi ông thử sức và theo đuổi trường phái trừu tượng sau này. Tranh của ông là sự pha trộn giữa trừu tượng hình học và tiến đến gần hơn với trừu tượng cảm xúc. Với người nghệ sĩ tài hoa, cảm hứng đến với ông theo một lẽ hết sức tự nhiên. Tất cả là nhờ dòng chảy được hình thành trong con người từ thuở ấu thơ, nuôi dưỡng và phát triển qua quá trình ông lớn lên ở vùng sông nước, và niềm đam mê mãnh liệt với những công trình văn hoá cổ từ nhiều nền văn minh lớn. Nghệ thuật là không giới hạn Người nghệ sĩ Lê Triều Điển mang trong mình một tâm hồn rộng lớn, vì vậy, chỉ có những bức canvas cỡ lớn dài hàng chục mét mới chứa đựng hết những xúc cảm đang chảy cuồn cuộn trong con người ông. Không phỏng theo một khuôn mẫu sẵn có, hay hình hoạ cơ bản nào, ông tạo cho mình những kí hiệu rất riêng, cùng với màu sắc mang hơi hướng trầm tích, đậm vị phù sa của sông Mekong. Chúng là đại diện cho dòng sông mênh mông, nơi đã “bồi đắp phù sa” cho tâm hồn người nghệ sĩ. Có lẽ, với một người xem tranh, những kí hiệu ấy thật khó hiểu và chẳng thể lý giải nổi. Nhưng với ông, đó là trăn trở cả một đời về quê hương, về nguồn cội, về văn hóa Khmer, Óc Eo nơi chôn nhau cắt rốn. Lê Triều Điển gọi tranh của bản thân là những xúc cảm sâu thẳm, chúng không đại diện cho bất kỳ trường phái cụ thể nào, mà thay vào đó, lại mang đậm hơi thở của thời đại. Lê Triều Điển, Hành trình phương Tây (bên trái), Hành trình phương Đông (bên phải), sơn dầu, 2019. Nguồn: TRieu Dien artist. Bên cạnh những nét cọ trên giấy, ông cũng rất say mê chất liệu đất nung. Lớn lên với quê hương đất sét, ông luôn trăn trở làm sao để chất liệu mộc mạc này trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Chính vì lẽ đó, Lê Triều Điển thường cùng với vợ mình đi điền dã tại các xưởng gốm, các lò đất nung khắp các tỉnh miền Tây để tìm nguồn cảm hứng sáng tác. Những sáng tác gốm của ông cũng mang đậm âm hưởng của văn hoá Chăm và Khmer như một phần không thể tách rời, nhưng ẩn sâu bên trong vẫn ghi dấu bản sắc cá nhân mạnh mẽ của người nghệ sĩ độc đáo này. Suốt hành trình sự nghiệp của mình, ông luôn đau đáu làm sao để thổi hồn vào đất. Với mong muốn đó, rất nhiều tác phẩm gốm xuất sắc đã được ra đời dưới bàn tay khéo léo của người nghệ sĩ. Vào những năm 2000, triển lãm đầu tiên của Lê Triều Điển với toàn bộ tác phẩm là gốm đất nung - "Tiếng nói của đất" - được tổ chức, đánh dấu bước khởi đầu cho hành trình phát triển của chất liệu dân dã này. Vợ chồng hoạ sĩ Lê Triều Điển - Nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh. Nguồn: Báo Vĩnh Long. Vị hoạ sĩ chân chất Lê Triều Điển lần đầu ghi dấu với nghệ thuật thế giới khi một nhà sưu tập lớn người Pháp tình cờ biết đến và mua lại toàn bộ tác phẩm ông đã sáng tác trong suốt nhiều năm. Cơ hội này là bàn đệm giúp tranh của Lê Triều Điển có mặt trong hàng trăm cuộc triển lãm lớn nhỏ trên toàn thế giới, góp phần ghi tên Việt Nam trên bản đồ nghệ thuật quốc tế. Lê Triều Điển, Chuông 1, tác phẩm gốm, 2021. Nguồn: TRieu Dien artist. Xuất thân là một người hoạ sĩ dung dị, hơn ai hết, ông hiểu những khó khăn và trăn trở của một người theo đuổi nghệ thuật không chuyên. Chính vì vậy, Mekong Art được thành lập để giúp đỡ và kết nối cộng đồng nghệ sĩ ở khu vực Nam bộ. “Mekong là dòng sông lớn bao phủ các nền văn hoá của nhiều nước, không chỉ riêng miền Tây Nam bộ. Cái tên Mekong Art ra đời với mong muốn không làm bó hẹp không gian sáng tác nghệ thuật của anh em hoạ sĩ” - Lê Triều Điển chia sẻ. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghệ thuật, Lê Triều Điển đã để lại một di sản mang đậm dấu ấn cá nhân nhưng đồng thời cũng phản chiếu tâm hồn của cả một vùng đất sông nước. Tác phẩm của ông vừa dung dị, mộc mạc, vừa mãnh liệt và mới mẻ như chính con người miền Tây mà ông là đại diện tiêu biểu. Với sự say mê không ngừng nghỉ, ông đã góp phần mở rộng biên độ cho mỹ thuật Việt Nam, đưa tiếng nói của quê hương hòa vào dòng chảy nghệ thuật thế giới. Lê Triều Điển, vì thế, không chỉ là một danh họa độc bản, mà còn là một minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ của nghệ thuật Việt Nam qua thời gian.
