Hoạ sĩ Hoàng Minh Hằng sinh ngày 20 tháng 11 năm 1946. Sinh ra từ Hà Nội cổ kính, nhưng hành trình trưởng thành của bà lại được nuôi dưỡng bởi nhiều miền tri thức. Chính điều này đã vẽ nên một nữ hoạ sĩ Hoàng Minh Hằng như chúng ta được thấy ngày nay.
Ngọc phải mài mới sáng
Ít ai biết rằng Hoàng Minh Hằng từng có 3 năm tuổi thơ theo học một trường đào tạo nghệ thuật vỡ lòng ở Tiệp Khắc. Tại đây, bà có cơ hội được đào tạo toàn diện: từ hội hoạ đến âm nhạc. Sau đó, bà quay về Việt Nam và theo học tại một trường miền Nam khi ấy. Nhờ nền tảng nghệ thuật vững chắc, bà thi đỗ vào Trường Mỹ thuật từ khi còn rất nhỏ và gắn bó suốt 12 năm. Ngay từ năm thứ ba đại học, Hoàng Minh Hằng đã bén duyên với lụa – chất liệu mỏng manh nhưng đầy thách thức và trở thành một trong những họa sĩ tiên phong khai phá dòng tranh này.
Mặc dù may mắn bén duyên với hội hoạ từ nhỏ, nhưng sau khi tốt nghiệp, bà ít có cơ hội được làm công việc đúng chuyên môn được đào tạo. Bà có thời gian gắn bó hơn mười năm với công việc tại một nhà xuất bản. Dù vậy, bà Hằng luôn cảm thấy may mắn vì có được công việc này: “May là nhà xuất bản thì mới có thì giờ vẽ đấy” – nữ hoạ sĩ hài hước chia sẻ. Bà luôn tranh thủ thời gian rảnh ở nhà xuất bản để vẽ và mày mò học hỏi thêm. Nhờ sự chăm chỉ ấy mà bà đã tổ chức được triển lãm nghệ thuật cá nhân đầu tiên năm 1989 và bà cũng là nữ họa sĩ đầu tiên tại Sài Gòn khi ấy có cho riêng mình một triển lãm tranh.

Hoàng Minh Hằng, Lan trân châu, tranh lụa. Nguồn: Tuổi trẻ news.
Sự tiếp xúc sớm với nhiều nền văn hóa, kết hợp với nền tảng đào tạo bài bản, đã hình thành nên cá tính nghệ thuật khác biệt của Hoàng Minh Hằng: vừa nữ tính, trữ tình, vừa mạnh mẽ và quyết đoán. Trong thế hệ họa sĩ cùng thời, bà nổi bật bởi lựa chọn trung thành với lụa. Chất liệu mong manh nhưng lại trở thành biểu tượng cho bản lĩnh và sức sống nghệ thuật của bà.
Nét trữ tình đằm thắm – Sợi chỉ đỏ trong phong cách nghệ thuật
Hoàng Minh Hằng là nữ hoạ sĩ tại Việt Nam nổi tiếng với việc vẽ tranh lụa. Bà thường khai thác các chủ đề thiên nhiên, thường thấy nhất trong tranh của bà là hình ảnh của hoa cỏ và phong cảnh rộng lớn. Để lý giải cho việc này, bà chia sẻ chỉ đơn giản là vì yêu thích, bà rất yêu hoa, ở nhà, bà cũng thường xuyên cắm rất nhiều hoa tươi. Có lẽ vì thế, bà đưa hoa vào tranh như một cách lưu giữ vẻ đẹp ấy thật lâu.

Hoàng Minh Hằng, Hoa chuối, tranh lụa, 2024.
Nhưng ai tiếp xúc với bà Hằng đủ lâu thì biết lý do còn nhiều và sâu xa hơn thế. Bà từng chia sẻ rằng người vẽ tranh phải có một tâm hồn khoáng đạt mới vẽ được tranh vì “tất cả tranh của mình là nó có trong mình”. Bà đã chọn hoa, không chỉ lấy nó làm chủ đề cho 1 - 2 bức tranh, mà là chủ đề cho cả một cuộc đời nghệ thuật của mình. Cũng bởi lẽ ấy mà người ta thường thấy tranh của bà rất nữ tính, đậm chất trữ tình.
Nét đằm thắm trong tranh Hoàng Minh Hằng không chỉ đến từ đề tài, mà còn ở cách bà vận dụng kỹ thuật lụa từ thời Đông Dương. Tranh của bà thường có bố cục cân đối âm dương, lớn nhỏ hài hoà. Mỗi bố cục tranh đều được sắp đặt với sự tính toán tinh tế, không dừng lại ở cảm tính, mà được xây dựng bằng lý trí thẩm mỹ. Người xem có thể dễ dàng nhận ra sự chặt chẽ ấy ngay từ ánh nhìn đầu tiên. Ngoài ra, bà Hằng còn thổi cái hồn mới vào tranh bằng đường nét mạnh mẽ và hình khối rắn rỏi. Khi tận mắt xem tranh, người thưởng lãm còn bị ấn tượng bởi kỹ thuật đi màu nhiều lớp của bà, khiến bức tranh vừa có chiều sâu mà vẫn giữ được độ trong của lụa.

Hoàng Minh Hằng, Vo gạo, tranh lụa. Nguồn: Báo tuổi trẻ.
Mặc dù nữ hoạ sĩ hay nói sự tinh tế bà có được là do “trời cho”, tuy nhiên, không thể phủ nhận nỗ lực của bà trong việc tìm tòi học hỏi và luôn cập nhật kiến thức mới trong suốt sự nghiệp nghệ thuật của mình. Với quan niệm rằng “tranh của mình đến đâu, mình phải đứng đến đấy”, bà đã phát triển kỹ thuật lụa riêng: không rửa lụa nhiều lần, mà sử dụng cọ lớn để xử lí. Việc này vừa giúp tiết kiệm thời gian, vừa giữ được độ bóng của lụa, giúp màu khi lên lụa vẫn giữ được độ trong suốt cần có và đạt hiệu quả tối ưu nhất khi vẽ tranh lụa khổ lớn. Ngoài ra, màu sắc sử dụng trong tranh của bà đều được chế tạo hoàn toàn từ các nguyên liệu tự nhiên. Chính những điều đó đã khiến tranh của Hoàng Minh Hằng luôn mang lại cho người thưởng thức cảm giác thong dong, tự tại, như thoát khỏi hiện thực và lạc vào một khoảng không khác.

Hoàng Minh Hằng, Phong cảnh Ninh Bình, tranh lụa. Nguồn: Tuổi trẻ news.
Bên cạnh tranh lụa, hoạ sĩ Hoàng Minh Hằng cũng thử sức với nhiều chất liệu khác, nổi bật có thể kể đến: tranh sơn mài, tranh trên giấy dó... Ít ai biết rằng, bức tranh đầu tiên mà bà vẽ sau khi tốt nghiệp lại là sơn mài, với một cơ duyên kì lạ đến từ một người bạn. Bằng sự nhạy bén, bà nhanh chóng làm quen và thành thạo sơn mài chỉ trong thời gian ngắn. Nhờ vậy, bà đã thành công chinh phục chất liệu này ngay từ lần đầu tiên, đến nỗi Hồ Hữu Thủ cũng phải bất ngờ vì sự nhạy bén của bà.
“Dù thể hiện lụa hoặc sơn mài, Hoàng Minh Hằng đều có cùng phong cách: Từ tốn, ôn hòa, màu sắc nhẹ nhàng, không gian thoáng đãng, mênh mang, sâu lắng. Những thuyền, biển, cảnh miền núi, thôn quê, những hoa và trái là những cái cớ để cô bộc lộ sự rung động về tạo hình, về ước muốn cho cuộc sống thanh bình, tươi đẹp với một tình yêu trầm tĩnh và sâu sắc” – theo hoạ sĩ Nguyễn Trung.
Bản lĩnh chính là sự dịu dàng nhất
Nếu ngày nay, giới trẻ vẫn đang bàn cãi nhiều về thế nào là tính nữ, thì có lẽ Hoàng Minh Hằng chính là một minh chứng điển hình. Đây là người phụ nữ mang trong mình sự mạnh mẽ, quyết liệt nhưng vẫn đong đầy dịu dàng. Nếu như ở những năm cuối của thập kỷ 80, bà đang tất bật chuẩn bị cho buổi triển lãm cá nhân đầu tiên của mình, thì vào năm 2024, khi tuổi tác đã chạm ngưỡng U80, bà vẫn hào hứng tổ chức triển lãm tranh “Những khúc ca dao trong vắt”. Hành trình nghệ thuật hơn nửa thế kỷ của bà chính là lời nhắc nhở: tính nữ chính là sự dung hòa giữa bản lĩnh và dịu dàng.

Hoàng Minh Hằng, Mùa xuân, tranh lụa, 2024. Nguồn: Artlive.
Với sự nghiệp nhà giáo, Hoàng Minh Hằng là một người thầy mẫu mực, dìu dắt bao thế hệ sinh viên Trường Mỹ thuật. Khi nói về người thầy của mình, các học trò của bà luôn nhận định rằng bà là một trong những người dạy về kỹ thuật vẽ lụa ở Trường Mỹ thuật chuẩn mực nhất và có tấm lòng đối đãi với học trò bao la. Với bà, dạy học không chỉ là truyền đạt kỹ thuật, mà là đồng hành và nâng đỡ học trò trên hành trình sáng tạo. Bao thế hệ sinh viên đã lớn lên từ sự dìu dắt ân cần ấy, để rồi trở thành những gương mặt tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam. Sau hơn tám thập kỷ, Hoàng Minh Hằng để lại không chỉ những bức tranh lụa thấm đẫm chất thơ, mà còn một di sản tinh thần: tấm gương về sự bền bỉ, bản lĩnh và dịu dàng của một người phụ nữ cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho nghệ thuật.
Related articles
Hoàng Minh Hằng: Lần giở những nét xưa của một đời hội họa
Với nhiều người yêu tranh, đặc biệt là tranh lụa, Hoàng Minh Hằng là một cái tên không xa lạ. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với hội họa, cô hiện lên vừa như một họa sĩ có dấu ấn riêng, vừa như một nhà giáo lớn đã đồng hành cùng nhiều thế hệ sinh viên mỹ thuật. Tuy vậy, đằng sau hình dung quen thuộc ấy, vẫn còn những lát cắt ít người từng được nghe cô kể: từ cơ duyên đến với hội họa, những bước đầu vào nghề, cho đến câu chuyện bất ngờ phía sau lần chạm ngõ với sơn mài. Những mẩu chuyện ấy, cùng nhiều suy ngẫm sâu sắc về nghề, về mỹ thuật, đã được họa sĩ Hoàng Minh Hằng chia sẻ cùng chúng tôi trong một buổi trò chuyện thân mật. Hoàng Minh Hằng, Vo gạo, tranh lụa. Nguồn: Báo tuổi trẻ. Q: Phần lớn công chúng biết đến cô với hai vai trò rất quen thuộc: nhà giáo và họa sĩ. Nhưng quãng thời gian ngay sau khi tốt nghiệp, trước khi chính thức đứng lớp, dường như lại là một chặng ít được nhắc tới. Cô có thể kể thêm một chút về hành trình của mình trong những năm đầu bước vào nghề không? Từ năm 1995 là cô về dạy trường Mỹ Thuật. Nhưng thời gian sau khi tốt nghiệp, cô làm xuất bản ở Hà Nội. Đến sau khi vào TP.HCM thì cô vẫn làm thêm 10 năm làm xuất bản ở đấy. Cô làm xuất bản vẽ. Lúc đó, nhà xuất bản chỉ có mình cô là họa sĩ. Đâm ra toàn bộ công việc về vẽ đều nằm trong tay mình; mình có thể sắp xếp để thoải mái cái giờ giấc của mình. Thì cũng nhờ như thế mà cô mới có thì giờ vẽ và đến năm 1989 thì cô làm được cái triển lãm cá nhân đầu tiên. Hồi đấy đâu mấy người làm triển lãm cá nhân. Còn nếu xét về phụ nữ thôi thì cô là họa sĩ nữ đầu tiên làm triển lãm cá nhân ở Sài Gòn. Q: Khi cô làm triển lãm cá nhân đầu tiên, bối cảnh lúc bấy giờ vẫn còn nhiều thiếu thốn, nên để một họa sĩ có thể tự đứng ra làm triển lãm chắc không phải chuyện dễ. Với một họa sĩ nữ, lại là người đầu tiên làm triển lãm ở Sài Gòn, hẳn câu chuyện ấy càng có những trở ngại riêng. Cô có thể chia sẻ thêm về hành trình đi tới triển lãm đầu tiên của mình không? Cái hồi đấy ở Sài Gòn rất ít phòng triển lãm. Lúc ấy thì ở Nhà Văn hóa Tiệp Khắc họ có cho triển lãm nhưng chỉ cho mỗi năm một người thôi. Khi cô đến đăng ký, người ta thấy thứ nhất mình là phụ nữ, thứ hai là mình chưa có tên tuổi gì; người ta mới bảo cô chắc là chị đăng ký không được đâu vì ở đây một năm họ chỉ nhận một họa sĩ thôi. Trong ngành của cô, cô biết mình ở chỗ nào. Thành ra, cô mới bảo thì cứ ghi tên tôi vào đấy, có mất gì đâu. Thế rồi, ông giám đốc người Tiệp thấy trong danh sách đăng ký chỉ mỗi cô là họa sĩ nữ, ông ấy mới cho liên hệ cô mang tranh đến để ông duyệt. Ông giám đốc ấy lại rất rành về hội họa. Khi cô mang tranh đến thì ông ấy thấy được quá, thích quá. Ổng còn quay qua mắng xơi xơi cái người đăng ký cho cô. Thế là họ chọn cô. Đợt đấy là cô làm hơn hai chục bức, 16 bức lụa và 4 bức sơn mài. Nhưng thật ra thì cô cũng không muốn làm triển lãm nhiều. Đến mãi năm 2020 vừa rồi thì cô mới có cái triển lãm cá nhân thứ 3 ở Hà Nội. Mình đã học và tốt nghiệp ngoài đấy, thầy cô ở cả ngoài đấy. Cho nên, mình cũng phải cố làm một cái ở Hà Nội để coi như là tri ân các thầy các cô. Hoàng Minh Hằng, Lan trân châu, tranh lụa. Nguồn: Tuổi trẻ news. Q: Ngoài câu chuyện rất thú vị cô vừa kể về triển lãm đầu tiên, trong lần trưng bày ấy còn có một chi tiết khá đặc biệt: sự xuất hiện của 4 bức sơn mài. Trong khi công chúng biết đến cô nhiều hơn với tranh lụa, cơ duyên nào đã đưa cô đến với sơn mài — một chất liệu khá khác với lụa? Thời cô đi học, đến năm thứ 3 đại học là bắt đầu phân khoa. Nhưng không phải mình cứ thích khoa nào là được vào khoa đấy mà sẽ do trường phân. Lúc ấy chỉ có 3 khoa sơn mài, sơn dầu và lụa. Cô được phân vào chuyên khoa lụa. Còn sơn mài chỉ là tình cờ thôi. Lúc đó, những năm tám mươi mấy, bọn cô rất nghèo. Thì chợt cô có một ông anh ở Canada về, muốn đặt 50 tranh sơn mài của 50 tác giả để mang sang đó bán. Cô mới bảo thứ nhất là mình không học sơn mài. Thứ hai là con cô lúc đấy còn bé, cô làm sao có thì giờ để phác thảo. Nhưng làm có tiền thì mình cũng mừng. Mà ông ấy trả cũng khá. Có một cái món tiền như thế mình với con mình cũng đỡ lắm nên là cô cố làm. Hôm duyệt phác thảo, cô chọn một bức ký họa rồi đưa đến thì may quá lại được duyệt. Thế nhưng lúc tranh ra thì nó lại gợn sóng do cô mài tay bằng giấy nhám. Cô hoảng quá, còn mấy ngày thôi mà. Cô nghĩ mình làm không được, rồi họ không nghiệm thu, xong đòi lại tiền thì mình chết. Thế là cô mới vội vàng mài lại. Nhưng đến khi mình mài phẳng thì một số cái bị mất đi. Thế là lại phải dặm lại. Hôm sau mang đi nghiệm thu thì cô để tranh một cái góc. Cô cũng không biết tranh của mình sẽ như thế nào. Đến sáng hôm sau, bọn cô quay lại thì cô thấy tranh của cô treo chễm chệ ở trên tường. Cuối cùng, bức ấy được nghiệm thu. Bây giờ cô chỉ còn một cái ảnh đen trắng của bức ấy thôi. Thực ra với tranh, chất liệu đâu là gì. Cơ bản chỉ là cái cách để mình làm thành bức tranh. Q: Nghe cô kể, từ những năm đầu làm nghề đến lúc có triển lãm cá nhân đầu tiên không phải một con đường bằng phẳng. Vậy còn lúc bắt đầu đến với hội họa thì sao, thưa cô? Cơ duyên ấy có đến với cô cũng theo cách nhiều thử thách như vậy không? Thế hệ của bọn cô là không có Internet các thứ như bây giờ để rành tất cả. Cái thế hệ cô là thế hệ kháng chiến ở trong rừng ra. Năm 54 về Hà Nội thì cô mới 7 - 8 tuổi, đâu có biết gì về mỹ thuật. Nhưng cô rất may. Hồi đấy, cô đi học 3 năm ở Tiệp Khắc về. Thời đó, trường mỹ thuật của Liên Xô họ có 3 ngành: mỹ thuật, múa, với ngành âm nhạc; họ tuyển sinh từ khi vừa học hết cấp 1. Bên đấy họ đào tạo rất toàn diện: học nhạc lý, học đàn đến thêu, đan, móc. Họ cũng phát màu, dạy bọn cô vẽ. Khi bọn cô về, bọn cô vào trường học sinh miền Nam học một năm. Cô giáo chủ nhiệm thấy cô có màu nên báo trường mỹ thuật. Lúc trường mỹ thuật đến tuyển sinh thì cô lại không đi thi vì cô đang nằm trạm xá. Khi cô về rồi thì thấy mọi người đã thi xong và cô cũng không biết vẽ gì. Thế là cô không tham gia. Cô giáo lúc ấy cũng động viên cô. Cô mới vẽ bức tranh để gửi đi với mọi người thì trúng tuyển. Thế là cái số của mình nó vào nghề này. Khi mà cô vào trường cô không biết mình thành cái gì nữa cơ. Cô còn tưởng mình sẽ thành kiến trúc sư, chứ cô không biết là mình sẽ thành hoạ sĩ. Q: Trong tranh của cô, người xem dễ nhận ra cô thường tìm đến phong cảnh và hoa cỏ, hơn là hình ảnh con người. Vì sao cô lại có sự lựa chọn ấy, dù vẽ trên lụa hay bất kỳ chất liệu nào khác? Cô thích phong cảnh. Cô thích những cái không gian rộng. Và cô thích hoa; nhà cô cứ lúc nào cũng phải có hoa. Đối với cô thì cứ mình thích cái gì thì mình vẽ cái đấy thôi. Và chắc là vì mình lười giao tiếp với người nên mình ít vẽ người. Hoàng Minh Hằng, Hoa chuối, tranh lụa, 2024. Q: Khi vừa sống trong thực hành sáng tác, vừa đồng hành với học trò trên hành trình học vẽ, cô đã rút ra được những điều gì về việc vẽ cũng như mỹ thuật? Thực ra, học ở trường là học cái cơ bản. Trong khi vẽ thì mình vẫn cần có những cải tiến, cái riêng của mình. Tự học trọ phải ngộ ra cái được, không được trong tranh của bản thân. Cái đấy mới làm cho mình phát triển nhiều. Thế nhưng, trong mỹ thuật, cái cơ bản lại là cái quan trọng nhất. Tại sao một số người họ thích cái tranh của cô? Nó rất đơn giản, rất ít chi tiết mà người ta vẫn thấy nó đủ đầy chứ không thấy nó thiếu. Đấy là bố cục, là cái cơ bản. Với một bức tranh, cần trước tiên là bố cục. Nếu cái bố cục ổn thì cái tranh nó ổn, nhìn thế nào nó cũng ổn. Kế đến là màu. Bức tranh phải có cái màu đẹp. Thế rồi, bố cục, cũng như màu, ấy là cảm nhận, là năng khiếu – hai cái đấy không dạy được mà phải là trời cho hoặc không cho, thế thôi. Nên thực ra cô là do trời thương. Cô vẫn luôn luôn nói là mình được trời thương thôi chứ thực ra mình chả giỏi. Nhiều khi cô làm một cái hình như này, đơn giản thế này nhưng mà cậy cục cô làm đi làm lại cả tháng. Nhiều hôm cô vẽ… con bò mà cô còn vẽ không được! Q: Gắn bó với việc giảng dạy nhiều năm, chắc hẳn cô không chỉ dạy kỹ thuật vẽ mà còn đồng hành với học trò trong rất nhiều trạng thái tinh thần khác nhau. Theo cô, đời sống nội tâm ảnh hưởng thế nào đến khả năng sáng tác của một người? Thực ra, cái nghề dạy này phải tâm lý lắm. Học trò của cô những lúc mà tư tưởng các bạn bế tắc, hay trong cuộc sống cũng có những cái bế tắc ấy, thì các bạn không làm được. Ví dụ, có lần cô dạy cho một em. Phác thảo duyệt rồi nhưng em nó làm mãi không được cái tranh. Thế một hôm em ấy chạy đến nhà cô. Em ấy nói chuyện với cô và khóc. Em ấy bảo em ấy muốn tự tử! Hôm đấy là cô mất độ 4-5 tiếng đồng hồ nói chuyện. Em ấy bị bế tắc. Sau đấy đả thông được cho em nó xong thì sau đấy bạn lại làm được. Nên thực ra, mình dạy vẽ nhưng mình cũng phải hiểu nhiều khi học trò bị bế tắc thì cũng không làm được. Muốn sáng tác thì đầu óc mình phải thoáng, không bị vướng bận. Còn nếu vướng bận một cái thì không làm gì được. Hoàng Minh Hằng, Mùa xuân, tranh lụa, 2024. Nguồn: Artlive. Q: Nghe cô chia sẻ, có cảm giác với người làm nghệ thuật, việc rèn luyện bản thân không chỉ nằm ở tay nghề mà còn ở độ mở và độ sâu của chính mình. Cô quan niệm thế nào về mối quan hệ giữa con người của người nghệ sĩ và tác phẩm họ làm ra? Cô nghĩ là tất cả cái tranh của mình chúng đều có trong mình. Mình đứng đến đâu thì cái tranh của mình đứng đến đấy. Nếu mình đứng thấp thì mình không thể nâng cái tranh của mình lên cao được – mình không thể nào túm tóc nó kéo lên. Đâm ra, mình phải luôn luôn đứng ở trên cái tranh của mình. Đâm ra, người nghệ sĩ phải nâng mình lên cái trình độ như thế thì trong tranh, trong tác phẩm của mình mới có cái đấy được. Ví dụ như cô tiếp xúc với thế hệ trẻ, họ không thấy giữa cô với họ có cái khoảng cách – mình hiểu tất cả những vấn đề mà bọn trẻ bây giờ cần. Đó là vì cái quan niệm của cô rất mở. Mình có thể chơi với già được mà chơi với trẻ cũng được. Mình phải tìm hiểu, phải đọc, phải xem, phải luôn luôn học hỏi để nâng mình lên. Cái người làm nghệ thuật là thế. Anh đến đâu thì tác phẩm của anh mới đến đấy, thế thôi. Q: Cuối cùng, trước một loại hình nhiều tính cảm nhận và rất riêng như hội họa, cô nhìn nhận ra sao về chuyện tác phẩm của mình sẽ có người thích, có người không thích? Điều gì là đủ đối với cô, khi một bức tranh đi ra với người xem? Tranh của cô có người thích, cũng có người không thích. Cái đấy là đương nhiên. Đối với mình, tranh mình sáng tác ra thì mình quý nó. Nếu có ai đấy cùng phong cách, cùng cảm xúc với mình thì họ hiểu nó. Còn nếu họ đã không có cảm xúc như mình, họ coi cái tranh không bằng tờ giấy trắng thì đấy cũng là chuyện đương nhiên. Nên thực ra, tranh chả là cái gì nếu mình không hiểu. Đến cả ngôn ngữ, đọc một tác phẩm mà mỗi người còn hiểu khác nhau tùy trình độ từng người. Tranh còn trừu tượng hơn nhiều; nó trừu tượng hơn cả âm nhạc. Đâm ra, để hiểu và cảm nhận một cái tranh không phải dễ. Mười người mà có một người, hay một trăm người mà có một người thích thôi là được rồi. Chín mươi chín người không thích, không sao. Xin chân thành cảm ơn họa sĩ Hoàng Minh Hằng đã dành thời gian chia sẻ. Kính chúc cô thật nhiều sức khỏe và tiếp tục có thêm nhiều cảm hứng trên hành trình nghệ thuật của mình.
Họa sĩ Hoàng Minh Hằng – 8 thập kỷ đắm mình với nghệ thuật
Hoạ sĩ Hoàng Minh Hằng sinh ngày 20 tháng 11 năm 1946. Sinh ra từ Hà Nội cổ kính, nhưng hành trình trưởng thành của bà lại được nuôi dưỡng bởi nhiều miền tri thức. Chính điều này đã vẽ nên một nữ hoạ sĩ Hoàng Minh Hằng như chúng ta được thấy ngày nay. Ngọc phải mài mới sáng Ít ai biết rằng Hoàng Minh Hằng từng có 3 năm tuổi thơ theo học một trường đào tạo nghệ thuật vỡ lòng ở Tiệp Khắc. Tại đây, bà có cơ hội được đào tạo toàn diện: từ hội hoạ đến âm nhạc. Sau đó, bà quay về Việt Nam và theo học tại một trường miền Nam khi ấy. Nhờ nền tảng nghệ thuật vững chắc, bà thi đỗ vào Trường Mỹ thuật từ khi còn rất nhỏ và gắn bó suốt 12 năm. Ngay từ năm thứ ba đại học, Hoàng Minh Hằng đã bén duyên với lụa – chất liệu mỏng manh nhưng đầy thách thức và trở thành một trong những họa sĩ tiên phong khai phá dòng tranh này. Mặc dù may mắn bén duyên với hội hoạ từ nhỏ, nhưng sau khi tốt nghiệp, bà ít có cơ hội được làm công việc đúng chuyên môn được đào tạo. Bà có thời gian gắn bó hơn mười năm với công việc tại một nhà xuất bản. Dù vậy, bà Hằng luôn cảm thấy may mắn vì có được công việc này: “May là nhà xuất bản thì mới có thì giờ vẽ đấy” – nữ hoạ sĩ hài hước chia sẻ. Bà luôn tranh thủ thời gian rảnh ở nhà xuất bản để vẽ và mày mò học hỏi thêm. Nhờ sự chăm chỉ ấy mà bà đã tổ chức được triển lãm nghệ thuật cá nhân đầu tiên năm 1989 và bà cũng là nữ họa sĩ đầu tiên tại Sài Gòn khi ấy có cho riêng mình một triển lãm tranh. Hoàng Minh Hằng, Lan trân châu, tranh lụa. Nguồn: Tuổi trẻ news. Sự tiếp xúc sớm với nhiều nền văn hóa, kết hợp với nền tảng đào tạo bài bản, đã hình thành nên cá tính nghệ thuật khác biệt của Hoàng Minh Hằng: vừa nữ tính, trữ tình, vừa mạnh mẽ và quyết đoán. Trong thế hệ họa sĩ cùng thời, bà nổi bật bởi lựa chọn trung thành với lụa. Chất liệu mong manh nhưng lại trở thành biểu tượng cho bản lĩnh và sức sống nghệ thuật của bà. Nét trữ tình đằm thắm – Sợi chỉ đỏ trong phong cách nghệ thuật Hoàng Minh Hằng là nữ hoạ sĩ tại Việt Nam nổi tiếng với việc vẽ tranh lụa. Bà thường khai thác các chủ đề thiên nhiên, thường thấy nhất trong tranh của bà là hình ảnh của hoa cỏ và phong cảnh rộng lớn. Để lý giải cho việc này, bà chia sẻ chỉ đơn giản là vì yêu thích, bà rất yêu hoa, ở nhà, bà cũng thường xuyên cắm rất nhiều hoa tươi. Có lẽ vì thế, bà đưa hoa vào tranh như một cách lưu giữ vẻ đẹp ấy thật lâu. Hoàng Minh Hằng, Hoa chuối, tranh lụa, 2024. Nhưng ai tiếp xúc với bà Hằng đủ lâu thì biết lý do còn nhiều và sâu xa hơn thế. Bà từng chia sẻ rằng người vẽ tranh phải có một tâm hồn khoáng đạt mới vẽ được tranh vì “tất cả tranh của mình là nó có trong mình”. Bà đã chọn hoa, không chỉ lấy nó làm chủ đề cho 1 - 2 bức tranh, mà là chủ đề cho cả một cuộc đời nghệ thuật của mình. Cũng bởi lẽ ấy mà người ta thường thấy tranh của bà rất nữ tính, đậm chất trữ tình. Nét đằm thắm trong tranh Hoàng Minh Hằng không chỉ đến từ đề tài, mà còn ở cách bà vận dụng kỹ thuật lụa từ thời Đông Dương. Tranh của bà thường có bố cục cân đối âm dương, lớn nhỏ hài hoà. Mỗi bố cục tranh đều được sắp đặt với sự tính toán tinh tế, không dừng lại ở cảm tính, mà được xây dựng bằng lý trí thẩm mỹ. Người xem có thể dễ dàng nhận ra sự chặt chẽ ấy ngay từ ánh nhìn đầu tiên. Ngoài ra, bà Hằng còn thổi cái hồn mới vào tranh bằng đường nét mạnh mẽ và hình khối rắn rỏi. Khi tận mắt xem tranh, người thưởng lãm còn bị ấn tượng bởi kỹ thuật đi màu nhiều lớp của bà, khiến bức tranh vừa có chiều sâu mà vẫn giữ được độ trong của lụa. Hoàng Minh Hằng, Vo gạo, tranh lụa. Nguồn: Báo tuổi trẻ. Mặc dù nữ hoạ sĩ hay nói sự tinh tế bà có được là do “trời cho”, tuy nhiên, không thể phủ nhận nỗ lực của bà trong việc tìm tòi học hỏi và luôn cập nhật kiến thức mới trong suốt sự nghiệp nghệ thuật của mình. Với quan niệm rằng “tranh của mình đến đâu, mình phải đứng đến đấy”, bà đã phát triển kỹ thuật lụa riêng: không rửa lụa nhiều lần, mà sử dụng cọ lớn để xử lí. Việc này vừa giúp tiết kiệm thời gian, vừa giữ được độ bóng của lụa, giúp màu khi lên lụa vẫn giữ được độ trong suốt cần có và đạt hiệu quả tối ưu nhất khi vẽ tranh lụa khổ lớn. Ngoài ra, màu sắc sử dụng trong tranh của bà đều được chế tạo hoàn toàn từ các nguyên liệu tự nhiên. Chính những điều đó đã khiến tranh của Hoàng Minh Hằng luôn mang lại cho người thưởng thức cảm giác thong dong, tự tại, như thoát khỏi hiện thực và lạc vào một khoảng không khác. Hoàng Minh Hằng, Phong cảnh Ninh Bình, tranh lụa. Nguồn: Tuổi trẻ news. Bên cạnh tranh lụa, hoạ sĩ Hoàng Minh Hằng cũng thử sức với nhiều chất liệu khác, nổi bật có thể kể đến: tranh sơn mài, tranh trên giấy dó... Ít ai biết rằng, bức tranh đầu tiên mà bà vẽ sau khi tốt nghiệp lại là sơn mài, với một cơ duyên kì lạ đến từ một người bạn. Bằng sự nhạy bén, bà nhanh chóng làm quen và thành thạo sơn mài chỉ trong thời gian ngắn. Nhờ vậy, bà đã thành công chinh phục chất liệu này ngay từ lần đầu tiên, đến nỗi Hồ Hữu Thủ cũng phải bất ngờ vì sự nhạy bén của bà. “Dù thể hiện lụa hoặc sơn mài, Hoàng Minh Hằng đều có cùng phong cách: Từ tốn, ôn hòa, màu sắc nhẹ nhàng, không gian thoáng đãng, mênh mang, sâu lắng. Những thuyền, biển, cảnh miền núi, thôn quê, những hoa và trái là những cái cớ để cô bộc lộ sự rung động về tạo hình, về ước muốn cho cuộc sống thanh bình, tươi đẹp với một tình yêu trầm tĩnh và sâu sắc” – theo hoạ sĩ Nguyễn Trung. Bản lĩnh chính là sự dịu dàng nhất Nếu ngày nay, giới trẻ vẫn đang bàn cãi nhiều về thế nào là tính nữ, thì có lẽ Hoàng Minh Hằng chính là một minh chứng điển hình. Đây là người phụ nữ mang trong mình sự mạnh mẽ, quyết liệt nhưng vẫn đong đầy dịu dàng. Nếu như ở những năm cuối của thập kỷ 80, bà đang tất bật chuẩn bị cho buổi triển lãm cá nhân đầu tiên của mình, thì vào năm 2024, khi tuổi tác đã chạm ngưỡng U80, bà vẫn hào hứng tổ chức triển lãm tranh “Những khúc ca dao trong vắt”. Hành trình nghệ thuật hơn nửa thế kỷ của bà chính là lời nhắc nhở: tính nữ chính là sự dung hòa giữa bản lĩnh và dịu dàng. Hoàng Minh Hằng, Mùa xuân, tranh lụa, 2024. Nguồn: Artlive. Với sự nghiệp nhà giáo, Hoàng Minh Hằng là một người thầy mẫu mực, dìu dắt bao thế hệ sinh viên Trường Mỹ thuật. Khi nói về người thầy của mình, các học trò của bà luôn nhận định rằng bà là một trong những người dạy về kỹ thuật vẽ lụa ở Trường Mỹ thuật chuẩn mực nhất và có tấm lòng đối đãi với học trò bao la. Với bà, dạy học không chỉ là truyền đạt kỹ thuật, mà là đồng hành và nâng đỡ học trò trên hành trình sáng tạo. Bao thế hệ sinh viên đã lớn lên từ sự dìu dắt ân cần ấy, để rồi trở thành những gương mặt tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam. Sau hơn tám thập kỷ, Hoàng Minh Hằng để lại không chỉ những bức tranh lụa thấm đẫm chất thơ, mà còn một di sản tinh thần: tấm gương về sự bền bỉ, bản lĩnh và dịu dàng của một người phụ nữ cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho nghệ thuật.
