Cái mẫu số chung của làm nghệ thuật vẫn là sự hòa quyện giữa nền tảng, căn cốt cá nhân, bản sắc dân tộc và lòng tôn trọng khác biệt. Với Đặng Xuân Hòa, một trong những họa sĩ tiên phong của mỹ thuật Việt Nam thời kỳ Đổi mới, mọi điều đều quy về sự đồng điệu, sự “hàng ngang” trong cách nhìn và làm nghề.

Buổi trò chuyện thân mật cùng họa sĩ Đặng Xuân Hòa tại tư gia. Nguồn: Artonis.
Đi tìm hình hài của mình
Trưởng thành trong bối cảnh thiếu thốn của thời bao cấp, hành trình sáng tạo của họa sĩ Đặng Xuân Hòa là minh chứng cho lòng kiên định, một cuộc đeo đuổi nghệ thuật không màng vật chất.
“Cả một hành trình dài từ những năm 80, khi mà sống được bằng tranh là điều không thể, nhưng tôi vẫn làm, vì tôi yêu mỹ thuật. Thấy mình phải theo đuổi, dù chẳng thể bán được một cái tranh nào. Có lúc bỏ lỡ chứ, vì bận đi kiếm cơm, nhưng không quên là mình vẫn phải sáng tác.”
Thời học ở Trường Mỹ thuật Việt Nam, ông được rèn luyện kỹ thuật theo lối Hiện thực, nhưng chính tinh thần tự tìm tòi đã giúp ông phát hiện “máu riêng” trong hội họa.
“Khi đã đủ lông đủ cánh rồi, mình bắt đầu nhìn lại mình để tìm cái riêng, cách nghĩ, cách nhìn của mình. Con đường nghệ thuật thì trừu tượng lắm, nhiều khi trong lúc làm việc hồn nhiên, không tính toán gì, nó tự hiện ra thôi.”

Đặng Xuân Hòa, Ngày mới, sơn dầu trên nền báo Nhân Dân. Nguồn: Soi Today.
Song song với việc theo đuổi hội họa, ông nhận vẽ minh họa báo, bìa sách, làm việc cật lực để nuôi gia đình. Ban ngày là những đơn hàng thương mại, đêm đến mới là thời gian ông thực sự vẽ cho chính mình, bất chấp thiếu điện hay vật liệu.
“Nhiều khi mất điện, vẫn thắp đèn dầu làm, thời ấy tranh minh họa cho báo chỉ in Typo đen trắng, cần nộp gấp để kịp in, vất vả lắm.”
Từ chân dung và sinh hoạt đời thường, ông dần chuyển sang khai thác tĩnh vật. Nhưng tranh tĩnh vật của ông không dừng lại ở việc mô tả hình dáng vật lý. Ông chọn góc nhìn đi ngược lại, lấy cảm xúc, sự đồng điệu của con người ẩn sau đồ vật, làm trung tâm.
“Nhiều người từng hỏi tôi: vẽ thế để làm gì? Tôi nói, tôi không vẽ cái tôi nhìn thấy, mà vẽ cái tôi cảm thấy. Cái tôi hướng tới là hình hài của con người ẩn sau những đồ vật ấy. Mọi người hay gọi là tĩnh vật, nhưng tranh của tôi không gọi vậy. Tôi vẽ ‘những đồ vật của con người’”
Thập niên 1990, cảm xúc trở thành trung tâm trong tranh ông. Bút pháp phóng khoáng, lớp sơn dày, gam màu nâu đỏ trầm khiến hình thể méo mó, bố cục rối rắm nhưng vẫn hài hòa, gợi chiều sâu nội tâm. Giới chuyên môn hay khen ông có “bản năng hội họa mạnh mẽ, bê phần đời thực vào tranh”. Giai đoạn này định hình phong cách Biểu hình Siêu thực đặc trưng, xuất phát từ chính cảm xúc thuần khiết.

Đặng Xuân Hòa, In the middle (Ở giữa), sơn dầu trên vải. Nguồn: Soi Today.
Sau những năm 1990 tới nay, khi cảm xúc biểu hiện đã đạt độ chín, ông bắt đầu đi sâu vào thế giới tối giản. Hình thể dần được lược bỏ, chỉ còn lại sự giản đơn của màu sắc và nhịp điệu. Ông thử nghiệm đa dạng chất liệu để vẽ, tìm kiếm một tinh thần đồng điệu với Henri Matisse vào những năm cuối đời cùng tác phẩm The Cut - Outs huyền thoại. Đó là một tinh thần cốt lõi: “giản dị không phải là nghèo nàn, mà là kết quả của sự làm chủ."
Xuyên suốt hành trình sáng tác, tinh thần nhất quán vẫn là sự “đào sâu” để tìm cái cốt lõi tâm tính con người. Nghệ thuật với ông là sự tiếp nối của đời sống thật, không “hoang đường”, không lý thuyết, mà chỉ đơn giản là sự quan sát và phản chiếu.
“Tôi không bịa ra cái gì trí tuệ quá, tôi chỉ quan sát các thứ xung quanh mình, rồi vẽ ấy mà.”
Gặp được những sự đồng điệu
Sinh năm 1959 tại Nam Định, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1983, Đặng Xuân Hòa nhanh chóng trở thành một gương mặt tiêu biểu của thế hệ Đổi mới. Cùng các họa sĩ Hồng Việt Dũng, Hà Trí Hiếu, Trần Lương và Phạm Quang Vinh, ông hình thành nhóm bạn thân thiết mà nhà lý luận Nguyễn Quân gọi đùa là “Bè lũ năm tên”, sau được nhà thơ Dương Tường dịch lại là The Gang of Five. Tên gọi nửa bông đùa, nhưng phản ánh đúng tinh thần tự do và phá cách của họa sĩ trẻ thời ấy.
“Hồi ấy, anh em từ hai trường Yết Kiêu với Mỹ thuật Công nghiệp, chơi với nhau vì cùng mê vẽ, khoe tranh cho nhau xem, thấy đủ tranh thì tự góp tiền thuê phòng treo lên, mời bạn bè đến xem. Chẳng ai nghĩ đến mua bán, chỉ đơn giản là muốn được vẽ và được chia sẻ.”

Hình chụp nhóm The Gang of Five. Nguồn: The Factory Contemporary Arts Centre.
Mỗi người một phong cách riêng, nhưng cùng chung sự đồng điệu trong khát vọng làm mới, cùng phát triển theo hàng ngang, không quá phân biệt trước - sau. Chính tinh thần ấy tạo nên sức bật cho một thế hệ họa sĩ Đổi mới: nền tảng vững, nhưng tư duy mở.
Không chỉ trong nước, Đặng Xuân Hòa còn có những chuyến đi ra nước ngoài, điển hình là việc tham gia chương trình “Nghệ thuật Đông Dương” do các họa sĩ Mỹ tổ chức. Ông nhớ lại sự ngạc nhiên của bạn bè quốc tế khi thấy các nghệ sĩ Việt Nam thời đó.
“Người Mỹ ngạc nhiên lắm, vì giữa khó khăn, bom đạn, đói khổ mà dân Việt Nam mình vẫn vẽ được, còn vẽ đẹp. Trò chuyện với nhau, họ mới hiểu là nghệ thuật Việt Nam có nền tảng vững, được đào tạo căn bản theo thẩm mỹ Pháp, nên chững chạc, bài bản. Họ quý lắm.”
Tại Boston, ông nhận thấy sinh viên Mỹ “tự do nên thường không chú trọng căn bản”, trong khi sinh viên Việt lại học kỹ, nghiêm túc. Sự lĩnh hội ấy giúp ông tin rằng nghệ thuật Việt đủ vị thế hàng ngang với thế giới.
“Chúng ta không hề kém họ, chỉ khác ở điều kiện xã hội và quan niệm sáng tạo mà thôi.”
Những trải nghiệm đó củng cố thêm niềm tin về sự đồng điệu giữa nghệ thuật Việt và quốc tế. Tác phẩm của ông hiện đã được sưu tập tại nhiều gallery, từng xuất hiện trong các phiên đấu giá lớn như Sotheby’s và Christie’s.

Đặng Xuân Hòa, Mặt trăng và mặt trời, sơn dầu trên vải, trưng bày tại Triển lãm tác phẩm mỹ thuật của các nghệ sĩ tiêu biểu châu Á tại Hà Nội – Việt Nam 2019. Nguồn: Blog Red Brick
Nghệ thuật là hàng ngang như thế
Suốt những năm theo nghề, quan niệm của ông luôn rõ ràng: nghệ sĩ phải sống bình thường để làm ra điều bất thường. Sáng tạo là quá trình tự vấn và lao động kiên định. Nếu thế hệ trước vẽ “vì Tổ quốc”, thì thế hệ ông vẽ “vì con người”, vì tự do biểu đạt và cái tôi nội tâm.
Ông cho rằng nghệ thuật không chia Bắc - Trung - Nam, mà dựa vào văn hóa và cảm nhận thẩm mỹ. Những ký ức tuổi thơ, Tết, tranh dân gian, mâm ngũ quả, chén trà, câu thơ, trở thành mạch nguồn cho cảm xúc sáng tác, tạo nên thứ đồng điệu dung dị mà sâu sắc.
Với vai trò Chủ tịch Hội đồng Mỹ thuật Việt Nam, ông đặc biệt quan tâm đến họa sĩ vùng xa, những người thiếu điều kiện vật chất và thông tin. Ông đi chấm giải, trò chuyện, góp ý để họ tự tin hơn, khuyến khích mọi thử nghiệm nhưng luôn nhắc nhở thế hệ trẻ khi thử sức với các loại hình mới như Installation hay Video Art cần soi kỹ mình, để không chỉ tạo sự mới lạ mà vẫn bảo đảm chất cá nhân trong tác phẩm.
“Cái khó nhất là giữ được bản lĩnh, cái chất và tâm hồn Việt để khi ra thế giới không bị xem là bắt chước.”

Đặng Xuân Hòa, Tĩnh vật. Nguồn Báo Công an Nhân dân.

Đặng Xuân Hòa, New Year's Cat, sơn màu gouache trên giấy dó, 38 x 52 cm, 2022. Nguồn: Luala Gallery.
Với ông, hàng ngang không chỉ là triết lý sáng tác, mà còn là cách sống, cùng nâng đỡ, cùng tiến về phía trước. Mỗi chuyến đi, mỗi lần gặp gỡ, đều là cơ hội để nuôi dưỡng đồng điệu và sẻ chia, để không ai bị bỏ lại phía sau trong hành trình nghệ thuật.
Đôi lời kết
Bốn thập niên miệt mài sáng tác đã chứng minh rằng tự phát hiện bản thân sau khi có kiến thức và sáng tác bằng cái hồn là chìa khóa để kiến tạo ngôn ngữ hội họa độc đáo. Đặng Xuân Hòa là người chọn cuộc sống bình thường để tìm ra những điều bất thường sâu lắng, đưa triết lý “vẽ cái cảm thấy” vào nét cọ bền bỉ, tạo nên dấu ấn riêng không thể trộn lẫn.
Ông luôn tôn trọng sự khác biệt và trân trọng tinh thần đồng điệu với những đồng nghiệp cùng chí hướng, duy trì một hàng ngang của nghệ sĩ Việt kiên định, lặng lẽ mà vẫn bền bỉ, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỹ thuật nước nhà.
Related articles
Đặng Xuân Hòa – Đồng điệu, hàng ngang, làm mỹ thuật
Cái mẫu số chung của làm nghệ thuật vẫn là sự hòa quyện giữa nền tảng, căn cốt cá nhân, bản sắc dân tộc và lòng tôn trọng khác biệt. Với Đặng Xuân Hòa, một trong những họa sĩ tiên phong của mỹ thuật Việt Nam thời kỳ Đổi mới, mọi điều đều quy về sự đồng điệu, sự “hàng ngang” trong cách nhìn và làm nghề. Buổi trò chuyện thân mật cùng họa sĩ Đặng Xuân Hòa tại tư gia. Nguồn: Artonis. Đi tìm hình hài của mình Trưởng thành trong bối cảnh thiếu thốn của thời bao cấp, hành trình sáng tạo của họa sĩ Đặng Xuân Hòa là minh chứng cho lòng kiên định, một cuộc đeo đuổi nghệ thuật không màng vật chất. “Cả một hành trình dài từ những năm 80, khi mà sống được bằng tranh là điều không thể, nhưng tôi vẫn làm, vì tôi yêu mỹ thuật. Thấy mình phải theo đuổi, dù chẳng thể bán được một cái tranh nào. Có lúc bỏ lỡ chứ, vì bận đi kiếm cơm, nhưng không quên là mình vẫn phải sáng tác.” Thời học ở Trường Mỹ thuật Việt Nam, ông được rèn luyện kỹ thuật theo lối Hiện thực, nhưng chính tinh thần tự tìm tòi đã giúp ông phát hiện “máu riêng” trong hội họa. “Khi đã đủ lông đủ cánh rồi, mình bắt đầu nhìn lại mình để tìm cái riêng, cách nghĩ, cách nhìn của mình. Con đường nghệ thuật thì trừu tượng lắm, nhiều khi trong lúc làm việc hồn nhiên, không tính toán gì, nó tự hiện ra thôi.” Đặng Xuân Hòa, Ngày mới, sơn dầu trên nền báo Nhân Dân. Nguồn: Soi Today. Song song với việc theo đuổi hội họa, ông nhận vẽ minh họa báo, bìa sách, làm việc cật lực để nuôi gia đình. Ban ngày là những đơn hàng thương mại, đêm đến mới là thời gian ông thực sự vẽ cho chính mình, bất chấp thiếu điện hay vật liệu. “Nhiều khi mất điện, vẫn thắp đèn dầu làm, thời ấy tranh minh họa cho báo chỉ in Typo đen trắng, cần nộp gấp để kịp in, vất vả lắm.” Từ chân dung và sinh hoạt đời thường, ông dần chuyển sang khai thác tĩnh vật. Nhưng tranh tĩnh vật của ông không dừng lại ở việc mô tả hình dáng vật lý. Ông chọn góc nhìn đi ngược lại, lấy cảm xúc, sự đồng điệu của con người ẩn sau đồ vật, làm trung tâm. “Nhiều người từng hỏi tôi: vẽ thế để làm gì? Tôi nói, tôi không vẽ cái tôi nhìn thấy, mà vẽ cái tôi cảm thấy. Cái tôi hướng tới là hình hài của con người ẩn sau những đồ vật ấy. Mọi người hay gọi là tĩnh vật, nhưng tranh của tôi không gọi vậy. Tôi vẽ ‘những đồ vật của con người’” Thập niên 1990, cảm xúc trở thành trung tâm trong tranh ông. Bút pháp phóng khoáng, lớp sơn dày, gam màu nâu đỏ trầm khiến hình thể méo mó, bố cục rối rắm nhưng vẫn hài hòa, gợi chiều sâu nội tâm. Giới chuyên môn hay khen ông có “bản năng hội họa mạnh mẽ, bê phần đời thực vào tranh”. Giai đoạn này định hình phong cách Biểu hình Siêu thực đặc trưng, xuất phát từ chính cảm xúc thuần khiết. Đặng Xuân Hòa, In the middle (Ở giữa), sơn dầu trên vải. Nguồn: Soi Today. Sau những năm 1990 tới nay, khi cảm xúc biểu hiện đã đạt độ chín, ông bắt đầu đi sâu vào thế giới tối giản. Hình thể dần được lược bỏ, chỉ còn lại sự giản đơn của màu sắc và nhịp điệu. Ông thử nghiệm đa dạng chất liệu để vẽ, tìm kiếm một tinh thần đồng điệu với Henri Matisse vào những năm cuối đời cùng tác phẩm The Cut - Outs huyền thoại. Đó là một tinh thần cốt lõi: “giản dị không phải là nghèo nàn, mà là kết quả của sự làm chủ." Xuyên suốt hành trình sáng tác, tinh thần nhất quán vẫn là sự “đào sâu” để tìm cái cốt lõi tâm tính con người. Nghệ thuật với ông là sự tiếp nối của đời sống thật, không “hoang đường”, không lý thuyết, mà chỉ đơn giản là sự quan sát và phản chiếu. “Tôi không bịa ra cái gì trí tuệ quá, tôi chỉ quan sát các thứ xung quanh mình, rồi vẽ ấy mà.” Gặp được những sự đồng điệu Sinh năm 1959 tại Nam Định, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1983, Đặng Xuân Hòa nhanh chóng trở thành một gương mặt tiêu biểu của thế hệ Đổi mới. Cùng các họa sĩ Hồng Việt Dũng, Hà Trí Hiếu, Trần Lương và Phạm Quang Vinh, ông hình thành nhóm bạn thân thiết mà nhà lý luận Nguyễn Quân gọi đùa là “Bè lũ năm tên”, sau được nhà thơ Dương Tường dịch lại là The Gang of Five. Tên gọi nửa bông đùa, nhưng phản ánh đúng tinh thần tự do và phá cách của họa sĩ trẻ thời ấy.“Hồi ấy, anh em từ hai trường Yết Kiêu với Mỹ thuật Công nghiệp, chơi với nhau vì cùng mê vẽ, khoe tranh cho nhau xem, thấy đủ tranh thì tự góp tiền thuê phòng treo lên, mời bạn bè đến xem. Chẳng ai nghĩ đến mua bán, chỉ đơn giản là muốn được vẽ và được chia sẻ.” Hình chụp nhóm The Gang of Five. Nguồn: The Factory Contemporary Arts Centre. Mỗi người một phong cách riêng, nhưng cùng chung sự đồng điệu trong khát vọng làm mới, cùng phát triển theo hàng ngang, không quá phân biệt trước - sau. Chính tinh thần ấy tạo nên sức bật cho một thế hệ họa sĩ Đổi mới: nền tảng vững, nhưng tư duy mở. Không chỉ trong nước, Đặng Xuân Hòa còn có những chuyến đi ra nước ngoài, điển hình là việc tham gia chương trình “Nghệ thuật Đông Dương” do các họa sĩ Mỹ tổ chức. Ông nhớ lại sự ngạc nhiên của bạn bè quốc tế khi thấy các nghệ sĩ Việt Nam thời đó.“Người Mỹ ngạc nhiên lắm, vì giữa khó khăn, bom đạn, đói khổ mà dân Việt Nam mình vẫn vẽ được, còn vẽ đẹp. Trò chuyện với nhau, họ mới hiểu là nghệ thuật Việt Nam có nền tảng vững, được đào tạo căn bản theo thẩm mỹ Pháp, nên chững chạc, bài bản. Họ quý lắm.” Tại Boston, ông nhận thấy sinh viên Mỹ “tự do nên thường không chú trọng căn bản”, trong khi sinh viên Việt lại học kỹ, nghiêm túc. Sự lĩnh hội ấy giúp ông tin rằng nghệ thuật Việt đủ vị thế hàng ngang với thế giới. “Chúng ta không hề kém họ, chỉ khác ở điều kiện xã hội và quan niệm sáng tạo mà thôi.” Những trải nghiệm đó củng cố thêm niềm tin về sự đồng điệu giữa nghệ thuật Việt và quốc tế. Tác phẩm của ông hiện đã được sưu tập tại nhiều gallery, từng xuất hiện trong các phiên đấu giá lớn như Sotheby’s và Christie’s. Đặng Xuân Hòa, Mặt trăng và mặt trời, sơn dầu trên vải, trưng bày tại Triển lãm tác phẩm mỹ thuật của các nghệ sĩ tiêu biểu châu Á tại Hà Nội – Việt Nam 2019. Nguồn: Blog Red Brick Nghệ thuật là hàng ngang như thế Suốt những năm theo nghề, quan niệm của ông luôn rõ ràng: nghệ sĩ phải sống bình thường để làm ra điều bất thường. Sáng tạo là quá trình tự vấn và lao động kiên định. Nếu thế hệ trước vẽ “vì Tổ quốc”, thì thế hệ ông vẽ “vì con người”, vì tự do biểu đạt và cái tôi nội tâm. Ông cho rằng nghệ thuật không chia Bắc - Trung - Nam, mà dựa vào văn hóa và cảm nhận thẩm mỹ. Những ký ức tuổi thơ, Tết, tranh dân gian, mâm ngũ quả, chén trà, câu thơ, trở thành mạch nguồn cho cảm xúc sáng tác, tạo nên thứ đồng điệu dung dị mà sâu sắc. Với vai trò Chủ tịch Hội đồng Mỹ thuật Việt Nam, ông đặc biệt quan tâm đến họa sĩ vùng xa, những người thiếu điều kiện vật chất và thông tin. Ông đi chấm giải, trò chuyện, góp ý để họ tự tin hơn, khuyến khích mọi thử nghiệm nhưng luôn nhắc nhở thế hệ trẻ khi thử sức với các loại hình mới như Installation hay Video Art cần soi kỹ mình, để không chỉ tạo sự mới lạ mà vẫn bảo đảm chất cá nhân trong tác phẩm.“Cái khó nhất là giữ được bản lĩnh, cái chất và tâm hồn Việt để khi ra thế giới không bị xem là bắt chước.” Đặng Xuân Hòa, Tĩnh vật. Nguồn Báo Công an Nhân dân. Đặng Xuân Hòa, New Year's Cat, sơn màu gouache trên giấy dó, 38 x 52 cm, 2022. Nguồn: Luala Gallery. Với ông, hàng ngang không chỉ là triết lý sáng tác, mà còn là cách sống, cùng nâng đỡ, cùng tiến về phía trước. Mỗi chuyến đi, mỗi lần gặp gỡ, đều là cơ hội để nuôi dưỡng đồng điệu và sẻ chia, để không ai bị bỏ lại phía sau trong hành trình nghệ thuật. Đôi lời kết Bốn thập niên miệt mài sáng tác đã chứng minh rằng tự phát hiện bản thân sau khi có kiến thức và sáng tác bằng cái hồn là chìa khóa để kiến tạo ngôn ngữ hội họa độc đáo. Đặng Xuân Hòa là người chọn cuộc sống bình thường để tìm ra những điều bất thường sâu lắng, đưa triết lý “vẽ cái cảm thấy” vào nét cọ bền bỉ, tạo nên dấu ấn riêng không thể trộn lẫn. Ông luôn tôn trọng sự khác biệt và trân trọng tinh thần đồng điệu với những đồng nghiệp cùng chí hướng, duy trì một hàng ngang của nghệ sĩ Việt kiên định, lặng lẽ mà vẫn bền bỉ, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỹ thuật nước nhà.
Đặng Xuân Hòa – “Nghệ thuật đều là hàng ngang, thế thôi”
Trong bối cảnh những năm 80, sống bằng mỹ thuật gần như là điều không thể, vậy mà vẫn có những cái tên dám “lỳ đòn” chọn vẽ làm nghề. Là một trong năm gương mặt của nhóm “The Gang of Five”, họa sĩ Đặng Xuân Hòa, thuộc thế hệ mở đường cho mỹ thuật Việt Nam thời kỳ Đổi mới, đã có buổi trò chuyện thẳng thắn và thoải mái với chúng tôi về những kỷ niệm, những tiếng cười, và cả những vỡ lẽ của một cá tính chuẩn “bè lũ năm tên”. Họa sĩ Đặng Xuân Hòa chia sẻ góc nhìn cùng phóng viên Artonis tại tư gia. Nguồn: Artonis. Anh tìm ra ngôn ngữ hội họa riêng của mình từ khi nào và người ta bắt đầu nhận ra phong cách Đặng Xuân Hòa là vào giai đoạn nào? Sau khi tốt nghiệp Trường Mỹ thuật năm 1983, tôi phải đi làm để kiếm sống, nên cũng bỏ lỡ mất một thời gian. Nhưng dù ban ngày có bận, ban đêm vẫn vẽ. Vẫn phải làm việc, phải tìm tòi. Cái hành trình ấy kéo dài suốt từ những năm 80. Người ta biết đến tôi là từ thời Đổi mới, khoảng 1986 đến đầu 1990 khi đất nước mở cửa, mọi thứ cởi mở hơn, và tư duy mỹ thuật cũng đổi khác. Anh còn nhớ vì sao hồi đó lại theo hội họa không, và liệu có thầy cô nào mà anh vẫn còn ấn tượng trong hồi ức không? Tôi cũng học phổ thông như bao người khác, chỉ là thích vẽ hí hoáy ở nhà. Các bạn mê hát, mê múa, mê thể thao, còn tôi mê vẽ. Vào Trường Mỹ thuật hoàn toàn tự nguyện, không ai dắt tay, chẳng ai chỉ bảo. Còn ấn tượng về các thầy cô thì nhiều lắm. Thời đó có người học ở Pháp, có người từ Nga hay Trung Quốc về, dạy chúng tôi về tay nghề, thẩm mỹ, kiến thức rất tốt. Trường ở Yết Kiêu thời ấy có nền tảng hàn lâm vững lắm. Từ hình họa, bố cục, màu sắc đến sáng tạo đều được dạy đúng mạch. Các thầy cô không chỉ truyền kỹ năng, mà còn dạy cả cách nhìn, cách cảm nhận cái đẹp, kiến thức Đông sang Tây, cho đến tận bây giờ, nó vẫn đúng. Quay lại những năm 1990, khi anh bắt đầu đi nước ngoài, đây là kế hoạch tự phát cá nhân hay đi tham dự chương trình thì mới quyết định đi ạ? Dịp ấy, là theo chương trình nghệ thuật Đông Dương do một hội họa sĩ Mỹ tổ chức. Họ sang Việt Nam triển lãm, rồi mời họa sĩ Việt sang bên kia cộng tác. Người nước ngoài lúc đó ngạc nhiên lắm. Họ không hiểu sao một đất nước cơm không có mà ăn, lại chiến tranh liên miên, mà lại vẽ đẹp có bài bản đàng hoàng, thế nên họ quý lắm. Thẩm mỹ Việt Nam, là cũng nhờ có gốc được dạy từ Paris, nên vững vàng lắm, thời Mỹ thuật Đông Dương đấy. Tôi từng đến Trường Mỹ thuật Boston, thấy sinh viên bên đó học khá tự do, cũng không “chịu khổ” như mình. Trong khi sinh viên ở Yết Kiêu thì học kỹ lưỡng quy củ hơn, từ hình họa, bố cục, trang trí, màu sắc… mọi thứ làm nên cái riêng của người Việt mình, không tự ti, vì chẳng kém ai cả. Đặng Xuân Hòa, Hoa giữa ngày trăng. Nguồn: Art Nam Gallery. Anh thấy thế hệ của mình khác thế hệ họa sĩ tiền bối thời kháng chiến ở điểm nào? Khác chứ. Nhưng cái giống cốt lõi vẫn là vẫn hướng tới cái đẹp, cái nhân văn trong tác phẩm. Có thể khác ở giọng điệu, ở cách tiếp cận xã hội. Mỗi thời kỳ, chiến tranh hay hòa bình, đều có những tiếng nói riêng, tạo nên trào lưu nghệ thuật riêng biệt, phản ánh hoàn cảnh xã hội của thời đại đó. Thời trước đâu có Internet, đâu có điều kiện tiếp xúc thế giới như bây giờ. Thế hệ hiện tại có lợi thế lớn hơn nhiều, việc tiếp cận thông tin, tư duy trở nên nhanh chóng và mới mẻ hơn. Nếu giờ có người lần đầu bước vào thế giới tranh của anh, anh sẽ gợi ý họ vài từ khóa nào để hiểu nhân sinh quan của anh? Nói thế thì lớn lao quá. Thực chất, tôi làm theo cảm nhận tự nhiên với thế giới quanh mình và những gì gần gũi nhất. Cái ấm, cái cốc, cái lọ, cái chai… nhìn tưởng vật dùng vậy thôi, nhưng với tôi, trong đó có cái tình của những con người đã làm ra chúng. Họ không tính toán gì quá nhiều, chỉ làm ra chúng. Mỗi đồ vật đều có gốc gác, có trước có sau. Tôi vẫn là tinh thần đó, tôi không vẽ những gì tôi nhìn thấy, mà là những gì tôi cảm thấy. Tôi cảm thấy được con người ẩn sau những đồ vật. Thành ra tôi không hay gọi tranh mình “tĩnh vật” mà sẽ luôn là “Những đồ vật của con người”. Vậy làm sao anh thoát ra khỏi lối Hiện thực được học để có tĩnh vật Siêu thực rất khác? Sau khi được trang bị kiến thức nghề nghiệp và thẩm mỹ đầy đủ ở trường, lúc ấy mình "đủ lông đủ cánh" để tự nhìn lại bản thân. Mình phải tự khai thác nội tâm, tự phát hiện ra cái đam mê riêng, cái "máu riêng", cách nghĩ riêng, cách nhìn riêng của mình. Con đường mỹ thuật nó trừu tượng, có lúc phải làm việc trong trạng thái mơ hồ, hồn nhiên và không tính toán thì mới tìm ra cái khác biệt ấy được. Một tác phẩm của họa sĩ Đặng Xuân Hòa. Nguồn: Báo Công An Nhân dân Nhắc tới thế hệ họa sĩ thời đó, người ta vẫn luôn ấn tượng The Gang of Five. Nhân dịp được trò chuyện cùng thành viên như anh Xuân Hòa đây, anh có thể kể lý do các anh cùng nhau tạo thành một nhóm đặc biệt như thế ạ? Cái đấy, đơn giản chỉ là nhu cầu tự nhiên của những người bạn, những người cùng con đường, cùng đam mê. Trong nghệ thuật mà, làm sao biết ai “lớn”, ai “nhỏ”? Mình có bạn, mình chơi với nhau, hẹn nhau ra trà đá vỉa hè, uống bia, nói chuyện hội họa. Khi rủ nhau: “Hay là làm triển lãm đi?”, thế là thành nhóm. Cũng chẳng có tuyên ngôn gì, hoàn toàn tự phát. Hồi đó ở Hà Nội có hai trường: Yết Kiêu và Mỹ thuật Công nghiệp. Chúng tôi đều là dân từ hai trường ấy ra. Có chung nền tảng, chung “máu mê vẽ”, nên việc chia sẻ với nhau trở nên dễ dàng. Lúc ấy, toàn rủ nhau đến nhà xem tranh, góp ý, khoe nhau. Ai biết chỗ mua giấy đẹp, màu rẻ thì chỉ cho bạn; rồi vẽ cùng, uống cùng, cười cùng. Khi thấy đủ tranh, tự bỏ tiền túi, thuê một căn phòng nhỏ, treo tranh lên, mời bạn bè đến xem, uống bia, nói chuyện mỹ thuật. Chẳng ai nghĩ đến mua bán, hoàn toàn chỉ vì muốn được vẽ và được chia sẻ. Trong khi nhiều thời kỳ khác của mỹ thuật Việt Nam, các họa sĩ thường làm việc riêng lẻ, ít ai cùng nhau thành một nhóm như vậy. Vậy vì sao thế hệ của anh lại có được sự gắn kết đó? Ở Hà Nội lúc đó, hình như chưa có nhóm nào chơi thân kiểu thế. Họa sĩ thường sống độc lập, ai làm việc nấy, ít khi hòa vào nhau được. Thế mà chúng tôi lại có thể ngồi lại, cùng nhau làm triển lãm, cùng chia sẻ. Nó phải có cái “đồng cảm” rất lớn mới được. Chứ còn nói là “thành lập nhóm” thì nghe to tát quá. Tôi chỉ nghĩ thế này: nghệ thuật không phải hàng dọc để ai xếp hàng đi trước, mà là hàng ngang, để đi cùng nhau, thế thôi. Đặng Xuân Hòa, Chân dung tự họa, sơn dầu trên vải, 63 x 48 cm. Nguồn: Le House Art. Trong giới chuyên môn, họ thường phân chia hội họa Việt Nam thành ba trường phái tương ứng với ba nền giáo dục mỹ thuật ở Bắc, Huế, Gia Định. Anh có nghĩ cách phân chia đó xác đáng không? Thế cho tôi hỏi, ai chia, và trên cơ sở gì? Nếu bảo “nghệ thuật Bắc hơn Huế, Huế hơn Gia Định” thì hoàn toàn sai. Nghệ thuật là của nhân loại, không phải của một vùng miền, và nó bình đẳng. Mỗi vùng có nét đẹp riêng, nhưng tư tưởng “địa phương chủ nghĩa” rất hẹp hòi, không đúng với người làm nghệ thuật. Nếu bạn có tài, vẽ đẹp, bạn sẽ được công nhận bất kể ở đâu. Trình độ được học hành, đào tạo thì đều cùng mẫu số chung. Còn quan niệm thẩm mỹ, mỗi vùng có nét riêng và cần được tôn trọng. Ví dụ, người Huế yêu màu tím, nhưng ai cũng có thể vẽ màu tím nếu hiểu và có trình độ. Nhìn từ tranh dân gian là rõ nhất: Bắc có Đông Hồ, Đôn Hoàng, Hàng Trống; Huế có làng Sình; Nam có dân gian Nam Bộ. Tất cả đều đẹp, chỉ khác nhau về chi tiết và cách thể hiện: Huế cầu kỳ, Bắc Bộ có dáng cong riêng, Nam Bộ đơn giản hơn. Nhưng bản chất thẩm mỹ vẫn cân bằng nếu bạn tìm hiểu kỹ. Vậy điều gì là quan trọng nhất để nhận diện bản sắc nghệ thuật Việt Nam hiện đại so với các nước trong khu vực? Cốt lõi là quê hương. Muốn vươn ra thế giới, bạn phải hiểu và khai thác nền tảng văn hóa dân tộc. Khi đi ra thế giới trưng bày, nếu thông minh và có tài năng, bạn sẽ được công nhận ngang bằng với họ. Đó là văn hóa cốt lõi của đất nước, của con người. Nếu không đủ trình độ nhận thức về điều này, dễ nhầm lẫn, tự ti, và làm nghệ thuật sẽ rất khó. Cùng với cội nguồn, hồi ức cá nhân cũng là cảm hứng. Hồi nhỏ, Tết là dịp trải nghiệm văn hóa: các cụ đi chợ mua tranh dân gian, câu đối, mâm ngũ quả; trẻ con mua pháo; mẹ gói bánh; bố treo tranh trong nhà; mọi người ngồi chè nước. Những trải nghiệm ấy in sâu trong tâm trí, trở thành cảm hứng khi vẽ cho tôi, tôi lấy ví dụ thế. Anh đi giao lưu với nhiều họa sĩ ở các khu vực khác nhau, có kỷ niệm nào muốn chia sẻ không? Có chứ, nhiều lắm. Ví dụ chuyến đi Hải Phòng vừa qua, hay những lần về thăm làng thủ công, tôi luôn có tình cảm đặc biệt với họ. Họ đam mê nghệ thuật nhưng sống trong điều kiện thiếu thốn về vật chất, thông tin, quan niệm nghệ thuật bị hạn chế, nên bị “chung chiêng” giữa cái cũ và cái mới. Tôi đi chấm giải, chia sẻ và góp ý để họ tự tin hơn. Nhờ vậy, phong trào ở một số nơi như Hải Phòng đã trở nên tốt hơn, với đội ngũ đều đặn, điều này rất đáng mừng. Họa sĩ Đặng Xuân Hòa chia sẻ góc nhìn cùng phóng viên Artonis tại tư gia. Nguồn: Artonis. Với vai trò Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật với lịch trình khá dày, anh dành thời gian cho sáng tác cá nhân ra sao? Tôi hay vẽ ban đêm, làm việc buổi đêm là chính. Ban ngày tôi bận họp Hội, chấm giải, rồi ngày xưa còn phải đi "kiếm cơm" bằng việc nhận minh họa, bìa sách để nuôi đam mê. Chỉ có đêm về mới yên tĩnh, tập trung và hiệu quả để làm việc riêng của mình. Thói quen này hình thành từ thời sinh viên và duy trì đến bây giờ, ngày xưa còn phải thắp cả đèn dầu làm việc gấp để kịp trả báo in Typo, vất vả lắm. Bây giờ anh còn nhận vẽ minh họa nữa không ạ? Thì cũng có, thỉnh thoảng vẫn nhận, nhưng nể lắm mới nhận vì công việc này đòi hỏi phải đọc kỹ nội dung, tốn nhiều thời gian, nhiều khi còn lâu hơn vẽ một bức tranh, mà lại còn bị áp lực về tính thời sự của báo chí. Nó cứ khiến mình canh cánh trong lòng như mắc nợ người ta vậy, nên tôi cũng không dám nhận làm mảng này nhiều. Anh nhận định thế nào về mặt bằng chung mỹ thuật Việt Nam hiện giờ so với khu vực? Tôi rất tự hào. Chúng ta may mắn có Trường Mỹ thuật thành lập rất sớm, cộng với nền văn hóa lâu đời hơn 4000 năm và sự hòa nhập sớm với phương Tây, điều đó tạo nên một nền tảng tốt và thẩm mỹ của người Việt mình rất tốt, người Pháp hay khen “bon goût” là thế. Sinh viên, các bạn trẻ ngày nay thông minh, nhạy bén, tiếp cận nghệ thuật thế giới nhanh, và vẫn giữ được thần thái riêng. Trong khó khăn hay êm ấm, mỹ thuật Việt Nam luôn được khẳng định bởi nét đẹp riêng tư và chiều sâu văn hóa của người Phương Đông. Các nghệ sĩ hiện nay cũng thực hành đa dạng loại hình hơn, dần tách khỏi tranh giá vẽ, điều đó anh cảm thấy như thế nào? Các họa sĩ trẻ có sức và quan niệm mới, họ theo trào lưu thế giới với Installation, Video Art, vân vân, là điều hiển nhiên. Tôi nghĩ tất cả những gì đã được sinh ra sẽ không mất đi, ai có đủ năng lực và đam mê thì vẫn làm được tranh giá vẽ. Tuy nhiên, với những thể loại mới, các bạn trẻ phải soi thật kỹ vì chúng ta là người đi sau. Cái khó nhất là làm sao giữ được bản lĩnh, cái chất và tâm hồn Việt để khi ra thế giới không bị bắt chước. Tác phẩm mới phải thuyết phục bằng năng lực và năng lượng của tác giả, chứ không thể chỉ là "lạ" hay "mới" một cách ngộ nhận. Anh thấy giá tranh với giá trị có ăn nhập gì với nhau không? Cái đấy thì khó nói lắm, vì nó chẳng có một cái ba-rem nào cụ thể cả. Tranh không phải hàng hóa bình thường, nó là cái gì đấy đặc biệt. Giá hoàn toàn dựa vào cảm hứng, công sức của mình và sự quý trọng của người mua. Cuối cùng thì thị trường và người mua quyết định là đúng nhất. Đôi khi muốn bán thì họ không mua, không muốn bán thì họ lại thích mua; có khi bán xong lại tiếc ơi là tiếc, nhưng vì nhu cầu cuộc sống nên vẫn phải bán, mà giá cả cho bạn thân, cho con buôn lại phải khác nhau, nên nó rất tế nhị. Mỹ thuật nó lạ lắm, nó tùy hứng nữa cơ, thế nó rất là phiền ở chỗ đấy, đâm ra là khó lắm. Về vấn nạn tranh giả ở Việt Nam, tại sao đến bây giờ vẫn chưa có chế tài nào đối với điều này? Nạn tranh giả là vấn đề toàn cầu. Ở Việt Nam, khi mọi thứ đang còn manh nha, luật pháp chưa theo kịp được đời sống tinh thần cao sang, nên mình không trách được, còn bao việc cần hoàn chỉnh. Hơn nữa, với tình cảm của những người làm nghệ thuật, nhiều khi có tranh giả của bạn bè, tôi cũng không nỡ phanh phui ra tòa, chỉ mong họ hiểu ra vấn đề mà thôi. Chúng ta phải thông cảm cho hoàn cảnh đất nước, cần thời gian để hệ thống luật pháp hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn những chia sẻ của anh!
