Skip to content
Language/
Nguyễn Phan Chánh, Chơi ô ăn quan, tranh lụa, 1931

Nguyễn Phan Chánh – Người mở đường cho nghệ thuật tranh lụa Việt Nam

Nhà nghiên cứu và phê bình văn hóa nghệ thuật Phan Cẩm Thượng đã từng chia sẻ “chỉ có Nguyễn Phan Chánh vẽ tranh lụa một cách chuyên nghiệp cho đến tận cuối đời và hình thành một phong cách riêng độc đáo.” Thật vậy, giới hội hoạ Việt Nam luôn nhắc tới ông như một ngọn đèn hải đăng soi sáng rực rỡ với niềm cảm phục và trân trọng đặc biệt. 

Gốc rễ nho phong, một cuộc đời vẽ nên từ làng quê

Nguyễn Phan Chánh sinh năm 1892 tại làng Trung Tiết, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình Nho học. Từ nhỏ, ông đã được học chữ Hán và sống trong môi trường thấm đẫm truyền thống Nho giáo, điều này ảnh hưởng sâu sắc tới lối tư duy và thẩm mỹ của ông sau này. Ban đầu, ông theo học y khoa ở Huế nhưng bỏ dở, rồi thi đỗ vào khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925–1930) tại Hà Nội.

Tại đây, ông được học dưới sự hướng dẫn của những người thầy người Pháp như Victor Tardieu và Joseph Inguimberty. Không chỉ trau dồi kỹ năng tạo hình, Nguyễn Phan Chánh còn tiếp thu quan niệm hội họa châu Âu về ánh sáng, bố cục và không gian. Tuy nhiên, thay vì đi theo sơn dầu hay kỹ thuật phương Tây, ông lại chọn gắn bó với tranh lụa – một thể loại đang dần bị lãng quên, và chính ông đã hồi sinh nó thành một biểu tượng nghệ thuật mới của Việt Nam hiện đại.

Giữa Đông Tây – Vẽ hồn quê trên lụa mịn

Trong thời điểm những năm đầu thế kỷ XX, khi xã hội Việt Nam đang chuyển mình dưới làn sóng giao thoa Đông – Tây, hội họa Việt Nam cũng bước vào một thời kỳ bản lề, tìm cách khẳng định bản sắc trong thế giới hiện đại. Nguyễn Phan Chánh là người chọn đứng ở lằn ranh ấy – một kẻ đi giữa, vừa đắm mình trong tinh thần dân tộc, vừa lặng lẽ học hỏi tinh túy hội họa phương Tây.

Trong các lớp học của Trường Mỹ thuật Đông Dương, giữa những bảng màu sơn dầu và bút pháp cổ điển châu Âu, ông lại hướng về tranh lụa – thứ chất liệu từng bị xem nhẹ vì tính truyền thống và sự khó kiểm soát. Chính người thầy Joseph Inguimberty đã nhận ra tiềm năng ở học trò Nguyễn Phan Chánh và khích lệ ông khám phá con đường riêng ấy. Cũng chính Inguimberty là người gợi mở rằng tranh lụa không nhất thiết phải là sự sao chép lối cũ của Trung Hoa, mà có thể trở thành một ngôn ngữ hội họa độc lập nếu tìm được cách thể hiện phù hợp.

Nguyễn Phan Chánh từ đó kiên định với tranh lụa, dùng nó để ghi lại thế giới quê hương của mình. Những bức tranh như "Chơi ô ăn quan", "Học chữ", "Rửa rau cầu ao" không chỉ là ký ức cá nhân mà trở thành biểu tượng văn hóa của nông thôn Bắc Bộ đầu thế kỷ XX. Chúng mô tả các khoảnh khắc đời thường – người phụ nữ giặt áo bên cầu ao, lũ trẻ chơi trò dân gian dưới bóng tre – nhưng lại đậm chất thơ và tĩnh lặng, như thể thế giới được gạn lọc qua một tấm lụa sương khói.

Nguyễn Phan Chánh, Chơi ô ăn quan, tranh lụa, 1931

Nguyễn Phan Chánh, Chơi ô ăn quan, tranh lụa, 1931. Nguồn: Việt Art View.

Khi được đưa sang Pháp để tham dự Triển lãm Nghệ thuật Quốc tế Paris năm 1931, những bức tranh của ông đã khiến giới nghệ thuật Pháp kinh ngạc. Họ chưa từng thấy một lối thể hiện nào vừa mộc mạc lại vừa tinh tế đến thế. Không dùng màu chói lóa, không vẽ những đề tài cao sang, Nguyễn Phan Chánh mang đến Paris cả một làng quê Việt Nam yên bình với ánh sáng mờ ảo, nhân vật trầm mặc và bút pháp tiết chế.

Cũng từ đó, ông trở thành biểu tượng cho hướng đi bản sắc trong hội họa Việt: không lai căng, không mô phỏng, mà là sự hội tụ thấm đẫm. Ông vẽ người phụ nữ Việt không phải như những nàng thơ kiểu Âu, mà là những người mẹ, người chị, người vợ cần mẫn. Tranh ông không diễn, không kể chuyện bằng kịch tính, mà bằng những khoảnh khắc lặng thinh đầy chất thơ. Giới chuyên môn từng nhận định: "Trong tranh Nguyễn Phan Chánh, Đông Dương không chỉ là một địa danh, mà là một cõi sống – một nếp nghĩ, một hơi thở."

Chất lụa, màu mộc – Ngôn ngữ hội họa Việt

Nếu phần lớn họa sĩ cùng thời lựa chọn sơn dầu như một cánh cửa mở ra thế giới hiện đại, thì Nguyễn Phan Chánh lại quay về với chất liệu truyền thống – không phải để phục cổ mà để làm mới. Với ông, tranh lụa không đơn thuần là một bề mặt mịn màng để đặt bút, mà là một thực thể sống, đòi hỏi sự nhẫn nại, gạn lọc và thấm đẫm tinh thần Việt.

Điểm then chốt trong kỹ thuật vẽ của Nguyễn Phan Chánh chính là việc ông sử dụng phương pháp bồi lụa lên giấy dó. Đây là một cách xử lý hoàn toàn mới so với truyền thống vẽ lụa Trung Hoa vốn vẽ trực tiếp lên lụa căng khung. Phương pháp này giúp tranh giữ được độ bền, cho phép xử lý nhiều lớp màu hơn và kiểm soát được ánh sáng cũng như bố cục một cách tinh tế. Tranh ông không sắc nét theo kiểu đường viền rõ ràng, mà là những vệt mực loang nhẹ, được vờn bằng màu chàm, nâu đất, vàng khói, xanh rêu – toàn bộ bảng màu như được gạn lọc qua ký ức và thẩm mỹ phương Đông.

Nguyễn Phan Chánh không dùng tranh để lý tưởng hóa thế giới. Ông không tạo dáng cho nhân vật theo khuôn mẫu mỹ học phương Tây, cũng không mô tả cảm xúc thái quá. Ngược lại, tranh ông là sự lặng im, sự hiện hữu dịu dàng. Đôi mắt trầm tư của người phụ nữ trong tranh ông, bàn tay nhẹ nhàng đặt trên vai đứa trẻ, hay một dáng đứng ngồi bên bờ ao – tất cả đều được khắc họa bằng ngôn ngữ hình thể kín đáo nhưng rất giàu nội lực.

Nguyễn Phan Chánh, Người hát rong, tranh lụa, 1929

Nguyễn Phan Chánh, Người hát rong, tranh lụa, 1929. Nguồn: Tạp chí Mỹ thuật.

Một điểm đáng chú ý trong phong cách của ông là việc triệt tiêu gần như hoàn toàn khái niệm phối cảnh trong tranh. Không gian trong tranh Nguyễn Phan Chánh không sâu hút, không có điểm tụ, mà phẳng và đồng nhất. Mọi vật thể hiện diện trong một mặt phẳng thị giác tĩnh tại, gần giống với mỹ cảm tranh dân gian. Nhờ thế, người xem không bị hút vào một điểm cố định mà được mời gọi dạo bước nhẹ nhàng qua từng mảng màu, từng đường lụa.

Không thể không nhắc đến yếu tố ánh sáng trong tranh ông – một thứ ánh sáng không đến từ hướng nắng mà toát ra từ chính bản chất của màu sắc. Ông không mô tả ánh sáng mà để màu nhả sáng. Chính sự tiết chế này tạo nên bức tranh như phủ lớp sương, như vừa tỉnh giấc từ một giấc mơ nông thôn sâu thẳm.

Khác với Lê Phổ hay Mai Trung Thứ – những người đem tranh lụa đi xa hơn về kỹ thuật và ảnh hưởng quốc tế – Nguyễn Phan Chánh chọn đi sâu vào sự lặng lẽ. Nếu tranh của Mai Trung Thứ là những khúc nhạc nhẹ bay bổng, Lê Phổ là giấc mộng trừu tượng của màu sắc, thì tranh Nguyễn Phan Chánh là lời ru êm đềm của đất. Trong một thời đại nhiều xáo trộn, ông như người giữ đất bằng hội họa – khi mà lụa không còn là thứ trang trí xa xỉ, mà trở thành nơi thấm đẫm tâm hồn Việt.

Di sản trên tấm lụa – Gửi hồn quê cho ngàn sau

Không chỉ là người đầu tiên đưa tranh lụa Việt Nam ra thế giới, Nguyễn Phan Chánh còn được coi là biểu tượng của nghệ thuật gắn bó với dân tộc. Trong suốt cuộc đời mình, ông chỉ tập trung vào tranh lụa và khai thác vẻ đẹp đời thường của con người Việt Nam. Chính điều đó khiến ông khác biệt, không bị lẫn vào trào lưu nghệ thuật phương Tây hay những xu hướng ngắn hạn.

Trong giai đoạn sau 1954, ông tiếp tục sáng tác và giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Hà Nội. Ông ảnh hưởng đến thế hệ họa sĩ sau như Nguyễn Thụ, Lê Quốc Lộc, Phan Kế An... Không ít họa sĩ trẻ sau này tiếp tục trung thành với tranh lụa như một cách gìn giữ và làm mới di sản mà Nguyễn Phan Chánh để lại.

Nguyễn Phan Chánh, Người bán ốc, tranh lụa, 1929

Nguyễn Phan Chánh, Người bán ốc, tranh lụa, 1929. Nguồn: Việt Art View.

Số lượng tranh của Nguyễn Phan Chánh có lẽ là một điều cần phải bàn cãi. Có báo nói cả đời ông vẽ khoảng 170 bức lụa. Báo thì nói 140 bức, hiện chỉ còn khoảng 50 bức, gồm 20 bức gia đình giữ, bảo tàng giữ 30 bức… Nhiều tác phẩm của ông hiện nằm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và các nhà sưu tập quốc tế. Tranh ông từng được triển lãm tại Pháp, Nhật, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác. Bức lụa “Người bán gạo” của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, vẽ năm 1932, được bán đấu giá thành công tại nhà Christie’s London với giá 390.000 USD. Còn "Chơi ô ăn quan" - tác phẩm đầu tay của ông đã trở thành một trong những mẫu mực của hội họa Việt Nam. 

Di sản mà Nguyễn Phan Chánh để lại không chỉ là hàng trăm bức tranh mà còn là một triết lý nghệ thuật giản dị, đậm đà bản sắc dân tộc và một kỹ thuật vẽ lụa chuẩn mực. Từ một chất liệu tưởng chừng bị lãng quên, ông đã làm sống lại và nâng lên tầm nghệ thuật cao cấp. Tranh lụa Việt Nam, nhờ ông, có chỗ đứng riêng trên bản đồ mỹ thuật thế giới.

Previous Post Next Post