Skip to content
Language/
Nguyễn Lâm, Bầu trời không xác định, sơn mài, 1995

Nguyễn Lâm – Người thổi lửa sơn mài truyền thống

Nếu Nguyễn Gia Trí là tượng đài của sơn mài cổ điển, thì Nguyễn Lâm là một trong số những người mở cánh cửa hiện đại cho hội họa trừu tượng Việt Nam. Với phong cách độc đáo kết hợp giữa kỹ thuật hiện đại và tinh thần truyền thống phương Đông, Nguyễn Lâm đã mở ra những hướng đi mới mẻ và táo bạo cho hội họa Việt Nam. Nguyễn Lâm là tấm gương hoạ sĩ tiêu biểu đưa trường phái trừu tượng lên một tầm cao mới, truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ hoạ sĩ trẻ.

Nguyễn Lâm – Một đời sống cùng nghệ thuật

Nguyễn Lâm tên thật là Lâm Huỳnh Long, sinh năm 1941 tại phường Tân An, quận Ninh Kiều, thị xã Cần Thơ. Cha ông là thợ tiện kim loại, mẹ là giáo viên. Dù xuất thân trong một gia đình bình dân, cha mẹ ông luôn khuyến khích con theo con đường nghệ thuật.

Hoạ Sĩ Nguyễn Lâm miệt mài với nghệ thuật

Hoạ Sĩ Nguyễn Lâm miệt mài với nghệ thuật. Nguồn: Art Việt.

Năm 10 tuổi, ông cùng cha mẹ tránh chiến tranh tại Cà Mau. Tại đây, những bức tranh pano về các tài tử điện ảnh đã khơi dậy trong ông niềm yêu thích hội họa. Chỉ 5 năm sau, cậu thiếu niên Huỳnh Long đạt giải Nhất cuộc thi vẽ tranh toàn miền Nam. 

Ban đầu, vào năm 1956 Nguyễn Lâm học tại Trường Mỹ nghệ Gia Định nhưng không tốt nghiệp do những khó khăn trong học tập. Năm 1960, ông chuyển sang học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, nơi ông được đào tạo bài bản theo hệ thống hàn lâm, chuyên nghiệp, phù hợp với định hướng sáng tác nghệ thuật Hiện đại và Biểu hiện của ông. Trong thời gian này, ông học hỏi nhiều từ thầy cô và bạn bè, đồng thời tham gia các triển lãm lớn trong nước và quốc tế, như Biennale de Paris, và đoạt nhiều giải thưởng trong nước. Nguyễn Lâm luôn tích cực trao đổi, kết nối với các nghệ sĩ đồng nghiệp, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp sáng tác.

Từ năm 1973 đến 1975, ông giảng dạy tại Trường Trang trí Mỹ thuật Gia Định, đào tạo những họa sĩ như Hồ Văn Nghĩa, Lâm Quý Luyến, Nguyễn Thế Dũng, Võ Thanh Liêm, Huỳnh Khắc Thảo, Đặng Văn Long và Lương Bửu Hoàng. Bên cạnh đó ngoài giảng dạy ông cũng khát khao học tập, ông từng nhiều lần tìm kiếm cơ hội du học tại Pháp nhưng chưa thành công. Sau năm 1975, dù có cơ hội định cư và học tập trong môi trường quốc tế, ông vẫn quyết tâm gắn bó với quê hương, tiếp tục xây dựng sự nghiệp nghệ thuật vững bền tại Việt Nam.

Nguyễn Lâm, Chợ nổi

Nguyễn Lâm, Chợ nổi.

Sơ lược về giai đoạn sáng tác, ông tập trung vẽ tranh sơn dầu theo phong cách hiện thực lãng mạn, miêu tả cuộc sống đời thường. Đầu những năm 1970, ông chuyển sang tranh sơn mài truyền thống Việt Nam, tự học qua thầy Nguyễn Văn Tây. Giai đoạn 1975–2000, ông phát triển phong cách trừu tượng mang tính thiền định, tiêu biểu là tác phẩm “Tĩnh lặng” (1998), kết hợp truyền thống và hiện đại. Ông cũng tham gia phục chế tranh tiền bối và giúp đồng nghiệp học kỹ thuật sơn mài. 

Nguyễn Lâm là một trong những người tiên phong phát triển kỹ thuật sơn mài truyền thống, đồng thời kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật hiện đại và bản sắc dân tộc. Ông mở ra hướng đi mới cho nhiều thế hệ nghệ sĩ và có vị trí quan trọng trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Gia đình ông cũng là dòng họ hội họa, với nhiều con tiếp tục phát huy sự nghiệp nghệ thuật.

Ngôn ngữ nghệ thuật cá nhân

Trước giai đoạn 1980, ông thực hiện định hình phong cách với sơn dầu và thiên về tranh thiếu nữ, phong cảnh, chiến tranh,... theo phong cách hiện thực, lãng mạn và biểu hiệu. Chủ đề tranh của ông khá đa dạng nhưng tập trung nhiều vào hình ảnh thiếu nữ mảnh mai mặc áo dài trắng, phong cảnh thiên nhiên và những khoảnh khắc cuộc sống, phản ánh đời sống và tâm trạng xã hội thời kỳ đó. Qua thời gian, ông không cố định một đề tài duy nhất mà luôn linh hoạt khai thác đa dạng, từ chân dung đến phong cảnh, từ hiện thực đến trừu tượng, cho thấy sự thay đổi và mở rộng sáng tạo trong sự nghiệp. 

Nguyễn Lâm, Bầu trời không xác định, sơn mài, 1995

Nguyễn Lâm, Bầu trời không xác định, sơn mài, 1995. Nguồn: Báo Mới.

Sau giai đoạn 1980, Nguyễn Lâm chuyển hướng rõ nét sang trừu tượng biểu hiện, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nghệ thuật phương Tây. Tranh của ông trong thời kỳ này sử dụng kỹ thuật sơn mài truyền thống, vốn là một kỹ thuật cổ điển lâu đời của Việt Nam, nhưng được ông làm mới một cách sáng tạo và táo bạo. Ông thử nghiệm và tự học với nhiều vật liệu mới mẻ, khác biệt hoàn toàn so với sơn dầu truyền thống như ván gỗ, vải bồi gỗ, tre ép, cùng các hỗn hợp sơn thô trộn với đất, vôi, mùn cưa, than tro. Không ngừng sáng tạo, ông còn kết hợp tinh tế các nguyên liệu như kim loại, đế quý, các dòng sơn Nhật và sơn công nghiệp, tạo nên hiệu ứng ánh kim và chiều sâu độc đáo, hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Bố cục tranh ông thường linh hoạt, tận dụng các mảng màu và lớp sơn mỏng để tạo hiệu ứng mờ ảo, khiến tác phẩm thay đổi theo góc nhìn, phản ánh sự biến chuyển liên tục của cuộc sống. Đây là điểm sáng tạo độc đáo, giúp tranh có chiều sâu và sự phong phú về thị giác, mang lại trải nghiệm thú vị cho người xem.

Ông từng nhấn mạnh quan điểm nghệ thuật trong quá trình phục chế tranh bậc thầy Nguyễn Gia Trí năm 2014: "Không nắm giữ di sản văn hóa thì bước đi cũng không vững." Điều này cho thấy ông rất trân trọng và gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống trong sáng tạo. So với bậc thầy sơn mài đi trước, Nguyễn Lâm hướng tới trừu tượng và tâm linh và mang vào tranh những cách tân táo bạo.Như tạp chí Art Asia Pacific: "Nguyễn Lâm biến sơn mài thành ngôn ngữ toàn cầu – vừa đậm chất Việt, vừa đối thoại được với nghệ thuật phương Tây." (2015). Nguyễn Lâm dung hòa kỹ thuật trừu tượng phương Tây với truyền thống hội họa phương Đông, tạo ra những tác phẩm vừa mang tính thời thượng, vừa đậm đà bản sắc Việt Nam. 

Nguyễn Lâm, Di Tích, 1965

Nguyễn Lâm, Di Tích, 1965. Nguồn: Tạp chí Mỹ thuật.

Phong cách riêng của ông được bộc lộ rõ từ những năm 60–70. Tác phẩm “Vô định” (1964) là minh chứng đầu tay cho phong cách hiện thực lãng mạn. Năm 1965, “Di tích” là thử nghiệm sớm với chất liệu sơn mài và trở thành tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn chuyển đổi. Ông cũng thể hiện sự dịu dàng và tinh tế qua các bức chân dung thiếu nữ chịu ảnh hưởng của trường phái Ấn tượng phương Tây, giúp tranh mang hơi hướng nhẹ nhàng, mềm mại.

Nguyễn Lâm, Vô đề 1, sơn dầu, 2018

Nguyễn Lâm,  đề 1, sơn dầu, 2018. Nguồn: Báo Mới.

Đến sau 1980, phong cách sơn mài trừu tượng của ông phát triển mạnh mẽ và rõ nét hơn. “Vô ngôn” (1995) kết hợp sơn mài và sơn Nhật tạo hiệu ứng ánh kim đặc biệt và màu sắc đục đậm chất biểu hiện. “Thiền định” (2005) mang phong cách trừu tượng, gợi liên tưởng đến triết lý Phật giáo qua các tông màu đỏ, đen, vàng trầm mặc. “Dòng sông ký ức” (2010) là tranh sơn mài khổ lớn, kỹ thuật mài nhiều lớp cho chiều sâu vượt trội, mang đậm tinh thần thiền định và sự tĩnh lặng. Các tác phẩm này thể hiện sự phát triển liên tục và sự hòa quyện giữa truyền thống với hiện đại trong tư duy nghệ thuật của ông.

So sánh với các họa sĩ cùng thời và cùng lĩnh vực, Nguyễn Lâm nổi bật nhờ sự kết hợp độc đáo giữa kỹ thuật cổ truyền và yếu tố trừu tượng phương Tây. Ông kế thừa truyền thống của bậc thầy Nguyễn Gia Trí nhưng phát triển theo hướng mới. Khác với nhiều họa sĩ chỉ theo trường phái hiện thực hay ấn tượng, ông chọn đi sâu vào trừu tượng biểu hiện, nhấn mạnh chiều sâu nội tâm và triết lý nhân sinh. Đây là điểm khác biệt lớn làm nên dấu ấn riêng cho phong cách Nguyễn Lâm. Họa sĩ như Lê Thiết Cương, Nguyễn Thế Sơn được xem là thế hệ tiếp nối được ông truyền cảm hứng và mở đường về mặt kỹ thuật cũng như tư duy sáng tạo trong tranh sơn mài trừu tượng.

Về thành tựu, ông từng đoạt Huy chương Bạc tại Triển lãm Mùa Xuân Sài Gòn năm 1962, một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp. Năm 2015, ông được trao Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội, ghi nhận đóng góp xuất sắc cho mỹ thuật nước nhà. Nguyễn Lâm cũng có mặt trong nhiều triển lãm quốc tế tiêu biểu, thể hiện vị thế của ông trên trường quốc tế. Nổi bật có Biennale de Paris các năm 1961 và 1963, là một trong số ít họa sĩ Việt Nam được mời tham dự. Các triển lãm “Sơn mài Đông Dương” (1990, Bảo tàng Nghệ thuật Singapore), triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia Hàn Quốc (2012) giới thiệu nghệ thuật trừu tượng Việt Nam, và triển lãm “Di sản & Đổi mới” (2019, Paris) – nơi ông trình diễn quá trình phục chế tranh Nguyễn Gia Trí – đều góp phần khẳng định vị trí quan trọng của ông trong lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam..

Tầm ảnh hưởng 

Hoạ sĩ Nguyễn Lâm đóng vai trò quan trọng trong dòng chảy nghệ thuật Việt Nam, là một trong những người đưa trường phái trừu tượng vào mỹ thuật đương đại. Ông truyền cảm hứng mạnh mẽ cho nhiều thế hệ họa sĩ trẻ, trong đó có những tên tuổi tiêu biểu như Trần Văn Hải, Lê Huy Hoàng, Nguyễn Minh Thành, Đỗng Hồng Quân. Nguyễn Lâm cũng từng giảng dạy tại Trường Trang trí Mỹ thuật Gia Định, góp phần đào tạo và thắp lửa đam mê cho lớp trẻ.

Giới chuyên môn trong và ngoài nước ghi nhận đóng góp to lớn của ông. Nhà phê bình Phạm Long nhận xét: “Nguyễn Lâm thuộc nhóm hiếm họa sĩ Việt Nam thành công cả về thương mại lẫn học thuật.” Các tờ báo quốc tế như Art Asia Pacific, The Straits Times, Artnet News đều ca ngợi chiều sâu triết lý và kỹ thuật sơn mài đặc sắc trong tranh của ông.

Tới nay, tranh của Nguyễn Lâm vẫn được săn đón, triển lãm hồi tưởng được tổ chức thường xuyên. Ông để lại di sản nghệ thuật mang tính kết nối giữa truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây – một biểu tượng bền vững của hội họa Việt Nam.

Con đường nghệ thuật của hoạ sĩ Nguyễn Lâm là hành trình đầy cảm hứng. Ông trở thành tấm gương cho người trẻ trong việc đi tìm bản sắc cá nhân – một hành trình đòi hỏi dấn thân và khát vọng khám phá không ngừng. Với hơn 400 tác phẩm, những tìm tòi táo bạo trong sơn mài trừu tượng, và dấu ấn tại các triển lãm quốc tế, ông đã mở ra một lối đi riêng biệt cho nghệ thuật Việt Nam. Di sản ông để lại không chỉ là tranh, mà còn là tinh thần tự do, sáng tạo và cống hiến bền bỉ. Như chính ông từng nói: Sơn mài không phải là chất liệu, mà là tâm thức Việt. Mỗi lớp sơn là một lớp tâm tưởng.

Previous Post Next Post