Skip to content
Language/
Nguyễn Gia Trí, Vườn xuân, sơn mài, 1965

Nguyễn Gia Trí – Sự ảnh hưởng sâu sắc đối với nghệ thuật sơn mài Việt Nam

“Tôi làm sơn mài từ khi nó mới có, nên tuổi của tôi cùng tuổi với sơn mài. Tôi sống với nó như cá sống với nước nên không biết mình sống nữa”. Đó là lời mà họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã tâm sự, một câu nói ngắn gọn nhưng đã khái quát trọn vẹn cuộc đời ông, một cuộc đời sinh ra để dành trọn cho nghệ thuật. 

Những ảnh hưởng quan trọng của Nguyễn Gia Trí đối với nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại

Hành trình phát triển tranh sơn mài nói chung của Việt Nam là một hành trình mang nhiều biến chuyển. Nghệ thuật sơn mài Việt Nam bao hàm nhiều chất liệu sơn mài khác nhau như: Sơn mài mỹ nghệ, sơn ta Phú Thọ, sơn mài truyền thống, sơn mài Thủ Dầu Một, sơn mài Nam Vang,... Mỗi kiểu sơn được họa sĩ áp dụng có khác nhau, tạo ra hiệu quả và hiệu ứng khác nhau cho tác phẩm. Nghệ thuật vẽ tranh sơn mài đã được tìm tòi và khai phá từ thời kì Pháp thuộc, tuy nhiên sau khi hai miền chia cắt năm 1954, sơn mài ở từng miền có hướng đi khác nhau. 

Nguyễn Gia Trí, Vườn xuân, sơn mài, 1965

Nguyễn Gia Trí, Vườn xuân, sơn mài, 1965. Nguồn: Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật.

Ở phía Nam, nổi tiếng nhất chính là Nguyễn Gia Trí với chất liệu sơn ta. Sơn ta dù đã có từ lâu và được tìm thấy trong lòng thuyền, những ngôi mộ cổ. Sau đó các nghệ nhân Việt đã nhanh chóng tìm cho sơn ta một ngôn ngữ độc đáo từ những gì dùng đến sơn sống (nhựa cây sơn), để chế biến ra loại sơn then sử dụng vào việc trang trí hoành phi câu đối, các đồ thờ mâm bồng, ống hương, đài nến... Thế nhưng về căn bản sơn ta vẫn được dùng chính trong các sản phẩm mỹ nghệ. Nhưng chính Nguyễn Gia Trí là người đã  khiến cho thứ chất liệu mà người ta hay nói “tốn công, dễ bị dị ứng” trở nên tuyệt mỹ và chân thực tới vô cùng. Những bức tranh sơn mài từ trang trí đã thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó Nguyễn Gia Trí được mệnh danh là "cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam. Nhờ họa sĩ Nguyễn Gia Trí mà tranh sơn mài thực sự đã trở thành hội họa, không còn vấn vương chất mỹ nghệ, hay với những kĩ thuật tạo hình quen thuộc. Nó được khoác lên mình một chiếc áo rộng lớn hơn với một ngôn ngữ khoáng đạt tha thiết để phục vụ cho những cảm xúc nghệ thuật. Hay như cách Huy Cận đã nói “Gia Trí đã để lại một vẻ đẹp sơn mài lộng lẫy tôn giáo, cổ điển, bởi ông là người duy nhất đã khám phá cái linh biến của sơn mài truyền thống, biến nó, chuyển cả thể chất thành quý vật, không còn tầm thường nữa mà đài các, quí phái, khó tính.” (Khả năng tiềm ẩn của nghệ thuật sơn mài trong tranh của họa sĩ Nguyễn Gia Trí, Trần Tuyết Xoan)

Hơn nữa, họa sư Nguyễn Gia Trí còn có một số kỹ thuật làm tranh sơn mài riêng biệt, khó ai có thể bắt chước và học theo. “Ví dụ như khi vẽ tranh, nét sơn viền đen quanh hình tượng (contour) phải có chiều dày để khi mài mới lộ ra. Đối với tranh trang trí thì contour cố ý không thành vấn đề nhưng nếu là tác phẩm hội họa thì những viền đen lộ rõ trông cứng. Ông Nguyễn Gia Trí nghĩ ra cách: vẽ nét trên tấm giấy bóng xong, lật ngược lại và đồ bằng màu đen nét vẽ đó, đợi sơn hơi se lại thì quay tờ giấy lại, úp xuống tranh. Nét vẽ viền đó in xuống mặt vóc, khi mài ra sẽ thành những nét đứt đoạn chỗ cao chỗ thấp, chỗ mất chỗ còn, rất tự nhiên.” (Một thời làm tranh sơn mài ở Sài Gòn, Phạm Công Luận)

Nguyễn Gia Trí, Vườn xuân Trung Nam Bắc, sơn mài

Nguyễn Gia Trí, Vườn xuân Trung Nam Bắc, sơn mài. Nguồn: Người Đô thị.

Cùng lúc đó, Nguyễn Gia Trí cũng thoát khỏi lối vẽ hình họa theo kiểu Pháp đã tồn tại như một kiểu mẫu ở trường Mỹ thuật Đông Dương. Ông tạo ra một màu sắc riêng biệt cho mình. Tranh của ông giàu yếu tố tượng trưng, siêu thực và trừu tượng. Người ta có thể cảm nhận được chúng nhưng thật khó để gọi tên, nó chỉ là thứ cảm xúc lay động trái tim khi nhìn vào từng bức tranh nửa thật nửa ảo ấy. Sơn mài dưới bàn tay của Nguyễn Gia trí mang một giá trị độc lập cho nền hội họa Việt Nam. Trong nhiều thế kỉ trước, có rất nhiều họa sĩ cũng đã nghiên cứu và tìm tòi về sơn mài trong khoảng thời gian theo học tại trường Mỹ thuật Đông Dương, nhưng nó dường như vẫn còn mang đậm những dấu ấn hàn lâm của mỹ thuật châu Âu. Chính Nguyễn Gia Trí là người rẽ hướng và mở ra một con đường độc lập cho sơn mài Việt Nam. 

Một số tác phẩm sơn mài tiêu biểu của họa sư Nguyễn Gia Trí

Những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Gia Trí từ 1938 đến trước 1945 thường được nhắc đến là: “Chợ Bờ”, “Bên Hồ Gươm”, “Chùa Thầy”, “Đèn Trung thu”, “Đêm Bồ Tùng Linh”, ”Khoả thân”, “Cảnh Thiên Thai”. Độc đáo nhất, có thể kể đến bức Bình phong sơn mài hai mặt Thiếu nữ trong vườn và Phong cảnh (còn được gọi là Dọc mùng) của Nguyễn Gia Trí hiện thuộc sưu tập các tác phẩm sơn mài của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Mỗi bức tranh đều mang giá trị như một tác phẩm hội họa riêng biệt, song khi kết hợp lại đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật đặc trưng của Nguyễn Gia Trí. Ở các tác phẩm này, ông đã đạt đến đỉnh cao về kỹ thuật xử lý chất liệu sơn mài. Nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật đánh giá, tấm bình phong có giá trị nghệ thuật đặc biệt, góp phần quan trọng cho việc tìm hiểu quá trình giao lưu văn hóa Đông – Tây trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình. Tác phẩm đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2089/QĐ-TTg ban hành ngày 25/12/2017. Mỗi giai đoạn sáng tác của Nguyễn Gia Trí đều sẽ có đề tài và tinh thần chủ đạo riêng. Đối với thời kì này hoa và thiếu nữ trở thành niềm cảm hứng bất tận cho ông. Trong tranh luôn có chất thơ, chất nhạc, ẩn chứa một không gian nghệ thuật vừa cổ điển Việt Nam nhưng vừa có nét tân thời khỏe khoắn. 

Giai đoạn thứ hai của sự nghiệp Nguyễn Gia Trí kéo dài gần 40 năm sau của đời ông gắn bó với Sài Gòn – TPHCM kể từ năm 1954 đến khi ông qua đời (20/6/1993). Đây là giai đoạn mà ông chủ yếu vẽ về lịch sử và các khung cảnh trong chiến tranh. Nổi tiếng và thành danh nhất phải kể tới bức tranh “Vườn xuân Trung Nam Bắc”. Tác phẩm “Vườn xuân Trung Nam Bắc” được xem là kết tinh mọi thành quả mà Nguyễn Gia Trí đạt được trong hơn nửa thế kỷ sáng tạo và tìm tòi với sơn mài. Sự kết hợp hài hòa giữa chất liệu vàng, son, vỏ trứng cùng bố cục giàu tiết tấu đã khiến bức tranh hội tụ đầy đủ các nét thăng, trầm, bổng như một bản ca giao hưởng. Trung tâm tác phẩm là hình ảnh ba thiếu nữ đại diện ba miền trong trang phục cổ, bên cạnh là hình ảnh hai đứa trẻ cưỡi kỳ lân, gợi không khí tranh dân gian. Phía sau hiện lên một ngôi miếu nhỏ mang vẻ cổ kính, trang nghiêm. Nếu nhóm thiếu nữ bên trái giữ nhịp điệu nhẹ nhàng, thì nhóm ba thiếu nữ bên phải được thể hiện với những chuyển động quay nhanh, tạo cảm giác như một vũ điệu cuốn hút, mê hoặc, dễ khiến người xem bị cuốn theo.

Nguyễn Gia Trí, Trừu tượng, sơn mài, 1967

Nguyễn Gia Trí, Trừu tượng, sơn mài, 1967. Nguồn: Lanvu Gallery.

Thể loại trừu tượng cũng được Nguyễn Gia Trí đặc biệt quan tâm đến. Thể loại trừu tượng ông đã thực nghiệm từ những năm đầu tiên của sự nghiệp mình. Sau 1954, ông cũng vẽ một số tranh trừu tượng và nửa trừu tượng, trong đó có bức vẽ cho ông Diệm để làm quà cưới Thái tử Nhật. Thuở đầu vẽ sơn mài Nguyễn Gia Trí đã vẽ về trừu tượng. Trừu tượng là không ràng buộc, nó là thứ nghệ thuật cho người ta thỏa sức được vẽ về những điều trong lòng. Cái hình, nét, màu sắc, chất dù trong có vẻ rời rạc, nhưng nó là sự hợp nhất cho một cái nhất. Đó là tính “tâm từ”. Bức trừu tượng ở thư viện là bức lớn nhất (1,2 m x 2,4 m) và tiêu biểu nhất. Trong tác phẩm này, nét vẽ của Nguyễn Gia Trí thể hiện sự phóng khoáng, tự do, tạo cảm giác như những đường nét tuôn chảy liền mạch theo cảm hứng của người họa sĩ, gợi nhớ đến “hội họa hành động” (action painting) của Jackson Pollock, chứ khó hình dung đây là kết quả của quá trình sáng tác sơn mài vốn nhiều công đoạn, đòi hỏi sự kiên nhẫn. Các nét vẽ mềm mại, uyển chuyển như đường bút lông, đôi khi mảnh nhẹ như nét mực tàu, song vẫn giữ được chiều sâu và độ bền chắc đặc trưng của chất liệu sơn mài, tạo nên một hiệu ứng thị giác vừa thanh thoát vừa giàu sức sống. 

Rõ ràng thấy, đời Nguyễn Gia Trí hầu như chỉ có một đam mê duy nhất là ở bên những tấm vóc sơn mài. Và thật khó ngờ hơn rằng, bên trong con người tài hoa nghệ thuật ấy lại là trái tim của một nhà cách mạng chống Pháp quả cảm vì nghĩa lớn của dân tộc. Và có lẽ vì thế nên “sự tiên phong”, “dám thử” đã trở thành một ngôn từ dành riêng cho Nguyễn Gia Trí khi nhắc tới nghệ thuật sơn mài Việt Nam. Nguyễn Gia Trí thực sự là một “bậc thầy” đối với những người xem nghệ thuật là lĩnh vực thiêng liêng và dành trọn tâm huyết tìm kiếm con đường phát triển cho văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.

Previous Post Next Post