Skip to content
Language/
Lê Bá Đảng – Người dệt không gian giữa hai bờ Đông - Tây (Kỳ 2)

Lê Bá Đảng – Người dệt không gian giữa hai bờ Đông - Tây (Kỳ 2)

Với Lê Bá Đảng, nghệ thuật không phát triển theo đường thẳng, mà là chuỗi chuyển động liên tục – nơi mỗi biến cố đời sống đều để lại một dấu ấn trong hình thức biểu đạt. Từ những nét vẽ ban đầu đến các thử nghiệm in ấn, điêu khắc và cuối cùng là những “Không gian” mang tính khái niệm, mỗi giai đoạn sáng tác của ông đều phản ánh một bước tiến trong tư duy nghệ thuật – sâu hơn, tự do hơn và cũng cá nhân hơn.

Giai đoạn hình thành (1950 - 1960)

Bắt đầu với những bức vẽ cổ điển, chân dung, hoa và động vật (đặc biệt là ngựa). Bước đầu gây chú ý tại các triển lãm ở Paris.

Năm 1950, Lê Bá Đảng kết hôn với bà Myshu (tên thật là Micheline Mourrieettee Louus Hai Nguyen). Bà Myshu không chỉ là người bạn đời mà còn được giới nghệ thuật ví như "cánh tay phải", một "người quản lý thiên tài" đứng sau sự thành công rực rỡ của Lê Bá Đảng tại phương Tây. Bà Myshu chính là "bệ đỡ thực tế" giúp nghệ thuật của ông bay xa. Cũng trong chính năm này, họa sĩ Lê Bá Đảng có cuộc triển lãm ra mắt đầu tiên tại Paris cũng như sáng tác bộ sưu tập “Mèo” thể theo bài bơ của Charles Baudelaire.  vẽ theo đường nét ký họa mực nho theo lối thư pháp phương Đông – đánh dấu cột mốc đầu tiên trong sự nghiệp.

Một tác phẩm trong bộ sưu tập "Mèo". Nguồn: Báo Thanh Niên

Một năm sau khi sự nghiệp vừa chớm nở, ông đối mặt với nỗi đau mất cha. Từ khi rời bỏ quê hương sang Pháp vào năm 18 tuổi, ông không còn cơ hội gặp lại cha mình lần nào nữa. Nỗi đau không thể trực tiếp phụng dưỡng và tiễn đưa người thân đã thôi thúc ông vẽ chân dung người cha đã khuất của mình như một cách kết nối và tỏ lòng biết ơn với đấng sinh thành. Cũng trong năm này, tại Paris, ngày 14 tháng 5, vợ chồng ông chào đón thành viên mới, một người con trai, đặt tên là Fabrice (tên thường gọi là Touty). 

Rất nhiều năm về sau, Touty chính là nguồn cảm hứng cho những sáng tác nghệ thuật, những nghiên cứu và phương pháp sáng tạo mới mang đậm dấu ấn cá nhân của nghệ sĩ Lê Bá Đảng. Khởi đầu mới trong cuộc sống riêng tư cũng là lúc ông bắt đầu sự nghiệp tại Paris, trên con đường la Montagne Ste Geneviève. Đây là thời kỳ ông sống ở khu phố Latin, phố Chat qui Pêche, phố Mouffetard và galerie Au Seuil Étroit, đối diện nhà thờ Đức Bà.

Năm 1953, với nỗi nhớ của người con xa quê, ông vẽ một loạt những tác phẩm bằng mực tàu và màu nước về quê hương đất nước, bắt đầu là vẽ thuyền và ngựa. Càng tìm hiểu về Lê Bá Đảng, công chúng càng thấy người nghệ sĩ này hiện lên với một sức sáng tạo dường như là vô tận. Chỉ ba năm sau những tác phẩm mực tàu về quê hương, trong giai đoạn từ năm 1956 đến năm 1960, những cuộc triển lãm của hoạ sĩ Lê Bá  tại Paris và các tỉnh thành được chào đón nồng nhiệt bởi giới báo chí Pháp.

Một bức tranh về ngựa trong “Tám chú ngựa”. Nguồn: LEBADANG Memory Space.

Sau thành công vang dội ngay khi lần đầu ra mắt tại Paris, Lê Bá Đảng không coi đó là một thành tựu quá to lớn đến mức quên đi việc miệt mài sáng tạo. Ông vẫn tiếp tục làm việc cần mẫn mỗi ngày trong suốt một thập kỷ từ năm 1964 đến 1973. Năm 1964, ông vẽ “Tám chú ngựa”, tập tranh in nổi đầu tay của ông, trên những bài thơ và thư pháp của Chou Ling. Mở đầu cho những cuộc nghiên cứu về chất liệu và kỹ thuật tranh in.

Năm 1966, Bảo tàng Nghệ thuật The Cincinnati đã tổ chức cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên của ông tại Hoa Kỳ. Cùng năm đó, ông đã triển lãm tại nhà trưng bày Nghệ thuật The Newman Contemporary ở Philadelphia. Một năm sau, ông thực hiện tác phẩm in thạch bản với chủ đề “Thiên nhiên cầu nguyện không lời” theo một bài thơ của Lão Tử và tiếp tục cho ra đời tác phẩm “Ngựa in” năm 1968. 

Hai bức tranh với “kỹ thuật mạ vàng”. Nguồn: LEBADANG Memory Space.

Trong những năm 1969 - 1973, Lê Bá Đảng thực hiện bộ sưu tập “Phong cảnh bất khuất”. Đây là loạt tác phẩm hội hoạ và điêu khắc về chủ đề chiến tranh Việt Nam, bao gồm các ký họa về chiến dịch Điện Biên Phủ, loạt tranh về đường mòn Hồ Chí Minh, một số tác phẩm điêu khắc được làm từ xác máy bay B52 của Mỹ bị quân và dân ta bắn rơi như đầu ngựa, mặt người, tay và những chú chim – biểu tượng của hòa bình, hạnh phúc.

Giai đoạn định hình phong cách (1970 - 1980)

Biến cố cuộc đời và Sự xuất hiện của kỹ thuật “Lebadanggraphie” và loạt tác phẩm "Không gian Lê Bá Đảng". Ông bắt đầu thể nghiệm với kỹ thuật dập nổi trên giấy thủ công.

Năm 1971, Lê Bá Đảng đối mặt với sự ra đi đột ngột của người con trai duy nhất. Sự mất mát này đã tạo nên một chấn động tâm lý lớn, khiến ông bắt đầu đi sâu vào những chiêm nghiệm về sự sống, cái chết và sự vĩnh cửu. Nỗi đau của người cha mất con đẩy ông rời xa lối vẽ hình thể cụ thể để tìm đến sự trừu tượng hóa. Sau biến cố này, ông thường xuyên dùng hình tượng “cổ mẫu” mang biểu tượng văn hoá Việt Nam như “mẹ Âu Cơ” vừa là để sáng tác theo chủ đề, vừa là kể câu chuyện của kí ức cộng đồng vừa là nỗi niềm cá nhân. Đây là nền tảng cảm xúc thúc đẩy việc khai sinh ra kỹ thuật “Lebadanggraphie” và khái niệm "Không gian Lê Bá Đảng" – nơi ông tìm cách bất tử hóa ký ức và linh hồn qua những nếp gấp của giấy và địa tầng.

Tác phẩm điêu khắc một gia đình gồm bố, mẹ và người con. Tác phẩm sử dụng kỹ thuật cắt trực tiếp với những phần đầy và trống. Kỹ thuật này giống như những phần giấy cắt rời ở dạng 3D, đại diện cho những hình bóng. Nguồn: LEBADANG Memory Space.

Sau biến cố về tinh thần, sức sáng tạo của Lê Bá Đảng càng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Ông lao mình vào nghệ thuật, nghiêm túa làm việc miệt mài như một cách để chữa lành vết thương tâm lý. Trong khoảng thời gian từ năm 1974 đến 1978, Lê Bá Đảng sáng tác rất nhiều tranh trên nhiều chủ đề khác nhau như “Mười  chú ngựa” (1974), “Sự tưởng tượng tiếp theo” (1976), cho ra mắt bộ sưu tập “Hoa” (1977). Đồng thời, ông trình lành những phát minh mới trong kỹ thuật in ấn như phương pháp dập nổi hay in thạch bản trên giấy kép Nhật Bản. 

Với lượng lớn tác phẩm ra đời, cùng chất lượng nghệ thuật cao, năm 1974, hoạ sĩ Lê Bá Đảng thành công tổ chức triển lãm ở Circle Gallery tại Hoa Kỳ. Đây là bệ phóng cho một loạt triển lãm đặc biệt của một họa sĩ phương Đông trên khắp châu Mỹ. Bốn năm sau đó, ông ghi dấu một nghệ nghệ thuật Lê Bá Đảng đa dạng bằng những thiết kế và những bộ phục trang cho vở nhạc kịch “Mỵ Châu - Trọng Thuỷ” của nhà soạn nhạc Nguyễn Thiện Đạo tại Nhà hát Opera ở Paris.

Năm 1977 đánh dấu cột mốc phát triển kỹ thuật cá nhân của Lê Bá Đảng. Ông đã sáng chế, hoàn thiện và ứng dụng một kỹ thuật in tranh độc đáo mang tên “Kỹ thuật vàng”. Kỹ thuật này được hoàn thiện dưới sự giúp đỡ của các nghệ sĩ trong xưởng vẽ Circle Fine Art Gallery ở Chicago và New York tại Hoa Kỳ. Giới chuyên môn trân trọng gọi đây là kỹ thuật “lebadangraphie”.

Một tác phẩm trong bộ “Tấn tường nhân loại”. Nguồn: LEBADANG Memory Space.

Năm 1981, ông cho ra đời “Tấn tuồng nhân loại” đề cập đến tác phẩm của Honoré de Balzac. Loạt tác phẩm này bao gồm 12 điêu khắc, 24 bức tranh. Toàn bộ tranh trong bộ sưu tập này được hoạ sĩ Lê Bá Đảng sử dụng cả hai kỹ thuật in nổi và in thạch bản. Đến năm 1984, bộ sưu tập “Mỹ thuật để mà đeo”, gồm các mẫu thiết kế nữ trang được làm bằng vàng với ngọc trai và đá quý kiểu cách, được giới thiệu rộng rãi đến công chúng. 

Hai tác phẩm thuộc “Không gian”. Nguồn: LEBADANG Memory Space.

Năm 1985 chứng kiến bước ngoặt lớn trong nghệ thuật của Lê Bá Đảng. Ông bắt đầu thực hiện “Không gian”. Bộ tranh này được làm bằng giấy, kết hợp với nhiều kỹ thuật khác nhau như cắt dán và xếp chồng. Cách làm này như một sự tổng hợp giữa 2 dạng điêu khắc và phù điêu. Lê Bá Đảng đã tự làm ra loại giấy này ở Moulin de Larroque tại Couze, Dordogne. Một công trình được làm từ loại giấy thủ công, rất dày, sau đó tạo hình bằng tay và chồng lớp lên nhau cho đến khi đạt đến không gian “Đắp nổi”. Những “Không gian” này cho chúng ta thấy một sự phân tầng của thế giới, một trí nhớ địa chất, chứa đựng một tầm nhìn bao la hơn về sự tương quan giữa con người, vũ trụ, thiên nhiên và nghệ thuật.

Giai đoạn thăng hoa và chiêm nghiệm (Sau 1990)

Trở về nguồn cội với các chủ đề về lịch sử Việt Nam (Đường mòn Hồ Chí Minh), triết lý thiền đạo và những cấu trúc điêu khắc quy mô lớn.

Những năm đầu thập niên 1990, ông được giao nhiệm vụ tạo ra thanh kiếm cho viện sĩ Ngài Giáo sư Jacques Ruffié, người dàn dựng cảnh cho vở nhạc kịch “Mỵ Châu - Trọng Thủy” tại nhà hát Opéra Paris. Sự kiện này cho thấy Lê Bá Đảng đã thực sự trở thành một phần quan trọng đối với nghệ thuật hàn lâm Pháp. 

Năm 1997, ông quay trở lại với dự án cá nhân mang tên “Động Lê Bá Đảng”. Trong dự án này, ông tạo ra môi trường thiên nhiên to lớn hơn “Không gian”. Diện tích của “Động” rộng 300 m2 và cao 10m, được lấy cảm hứng từ các mỏ đá của “Thánh đường hình ảnh” ở ngôi làng thời trung cổ Beaux-de-Provence, nước Pháp.

“Chất liệu được sử dụng để làm nên tác phẩm là các thành phần đặc trưng của nghệ sĩ để bước tới gần hơn với các bức tường mỏ và tạo sự kỳ diệu ở nơi độc nhất vô nhị này”.

Tác phẩm thuộc bộ sưu tập “Không gian Lê Bá Đảng”. Nguồn: LEBADANG Foundation.

Thập niên 2000, ông quay lại sáng tác những bức tranh sơn dầu, màu nước qua bộ sưu tập “Mắt”.  Tiếp đó, ông bắt đầu vẽ các bức họa “Thiền xanh” với những mặt người, nửa Thiền nửa Phật. Ông từng nói rằng: “

“...không phải là Thiền là Phật mà đó là chính cái tâm của tôi, cái tâm luôn hướng Thiền, hướng Phật.”

Năm 2006, tên tuổi Lê Bá Đảng trở về với quê hương sau nhiều năm bôn ba và vang danh xứ người. Thành phố Huế và các nhà lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế đã khánh thành Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng tọa lạc bên bờ sông Hương thơ mộng. Trung tâm hiện đang bảo quản và trưng bày hơn 400 tác phẩm, phản ánh hơn 70 năm sáng tác của họa sĩ. Đồng thời, Lê Bá Đảng cũng đem văn hoá Việt đến gần hơn với công chúng thế giới. Ông xuất bản quyển sách trường ca “H’Mong, người yêu của dòng sông đen”. Quyển sách này được phát hành trên Éditions Alternatives và được chuyển thể bởi Mireille Gansel với sự cắt dán giấy những nhân vật và các loài thú, tái hiện lại mô típ dệt vải của người H’Mong và những cảnh sinh hoạt hằng ngày trên những bản làng miền Bắc Việt Nam.

Công trình "Nhớ ơn 20.000 công nhân người Việt Nam đã bị trưng dụng từ năm 1939 đến 1952" tại chi nhánh tòa thị chính Arles ở Salin-de-Giraud, Pháp. Nguồn: RFI.

Những năm cuối đời, ông dành sự hoài niệm cho những người lính thợ. Năm 2014, ông hoàn thành một tấm bia tưởng niệm 20.000 lính thợ Việt Nam theo yêu cầu của Chính phủ Pháp trong Thế chiến thứ II. Công trình này được khánh thành vào ngày 5 tháng 10 năm 2014 tại Salin-de-Giraud. Sau đó, Hiệp hội M.O.I khánh thành “Đài tưởng niệm những công nhân Đông Dương”. Công trình được thực hiện dựa trên ý tưởng ban đầu của họa sĩ Lê Bá Đảng dưới hình thức của một người nông dân Việt Nam đi trên ruộng lúa và tay đang cuốc đất.

Năm 2015, nghệ thuật Việt Nam và thế giới phải nói lời tạm biệt với một người nghệ sĩ đại tài. Sau sự ra đi của chồng, bà Myshu Lebadang, vợ của họa sĩ Lê Bá Đảng, đã tặng cho bảo tàng Cernuschi – bảo tàng Nghệ thuật Châu Á ở thủ đô Paris – toàn bộ những tác phẩm trên giấy của ông. Món quà bao gồm 33 bản in, một danh mục 17 bức in thạch bản, 2 tranh màu nước và 2 tranh sơn dầu. Những tác phẩm này phản ánh nghiên cứu nghệ thuật và những cải tiến kỹ thuật của nghệ sĩ trong lĩnh vực tranh in, đồng thời đánh dấu cuộc đời nghệ thuật của một danh họa không chỉ lừng lẫy ở Việt Nam, mà là một tên tuổi lớn vươn tầm thế giới.

Qua từng giai đoạn, có thể thấy Lê Bá Đảng là một nghệ sĩ không ngừng dịch chuyển. Nghệ thuật lúc này không còn là hội họa theo nghĩa truyền thống, mà là sự hòa trộn giữa vật chất, ký ức và triết lý. Ở bài viết Kỳ 3, chúng ta sẽ bước vào thế giới ấy – nơi nghệ thuật không chỉ để nhìn, mà để cảm nhận, suy tưởng và thậm chí là “đi vào bên trong”.

Previous Post Next Post