Chuyện mở đầu hay khai phóng luôn không dễ dàng. Trên hành trình ấy, con người muốn lột kén, trở thành một thế hệ tiên phong thì không chỉ có tài năng, tinh thần ham học và còn phải có một ý chí kiên cường cho việc tạo ra giai thoại mới cho một nền văn hóa nào đó của dân tộc. Và đó là cụm từ khi dùng để nhắc tới bộ “tứ kiệt Đông Dương” tại Pháp, Phổ - Thứ - Lựu - Đàm. Mỗi người một vẻ, nhưng nếu chỉ nhắc riêng về Mai Trung Thứ, người ta sẽ nhớ ngay tới một Việt Nam thơ mộng trong tranh chất chứa nhiều tình cảm và ý niệm tình quê sâu sắc.
Tiểu sử cuộc đời và hành trình hội họa
Mai Trung Thứ (Mai Thứ) sinh năm 1906, quê ở làng Do Nha, huyện An Dương, tỉnh Kiến An (cũ) nay là xã Tân Tiến, huyện An Dương, Hải Phòng có cha là Mai Trung Cát, Tổng đốc Bắc Ninh, được gia phong hàm Thái tử Thiếu bảo Đông Các Đại học sĩ, tước Văn Tân nam và chính quyền Pháp phong tước hiệu Nam tước (Baron). Năm 19 tuổi, Mai Trung Thứ đỗ khóa đầu Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và là một trong những học trò đầu tiên tốt nghiệp ra trường năm 1930 cùng khóa với Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lê Văn Đệ,...Mai Thứ được Lê Phổ coi là người vẽ giỏi nhất khóa I. Sau đó, ông được bổ nhiệm trở thành giáo viên dạy vẽ tại trường Trung học Khải Định (nay là trường Quốc học Huế). Năm 1937, Mai Thứ đi Pháp dự Hội Chợ Triển Lãm Quốc Tế Thuộc Địa và quyết định sinh sống tại đây cho tới hết đời.
Phụ nữ và làng quê dung dị - chất liệu sáng tác chủ yếu
Trong bốn họa sỹ, Mai Thứ là người tụ hội nhiều ảnh hưởng Đông phương nhất mà cũng lưu giữ nhiều chất liệu thuần Việt nhất. Người ta gọi ông là họa sĩ của những mộng mơ. Suốt cuộc đời, ông đã miệt mài tìm kiếm và khắc họa những khoảnh khắc bình yên, dung dị của cuộc sống. Con đường hội họa của Mai Trung Thứ được chia thành hai giai đoạn: vẽ tranh sơn dầu và vẽ tranh lụa. Đối với các bức sơn dầu, đối tượng mà ông chọn sẽ là cảnh sinh hoạt bình dị của vùng quê Việt Nam, con người, nét trữ tình đằm thắm của cố đô Huế và một số nét trùng điệp, cổ kính của mái tình bến nước hoặc núi Ngũ Hành Sơn. Bức tranh nổi tiếng trong thời kì này của Mai Trung Thứ là bức "Chân dung Madam Phương" - một bức ảnh sơn dầu tái hiện lại hình ảnh một phụ nữ trẻ thuộc tầng lớp quý tộc Hà Nội. Bức tranh được Sotheby's miêu tả "là một tác phẩm hoành tráng nhưng rất dịu dàng và gần gũi. Bức tranh lôi cuốn này còn thể hiện sự ngưỡng mộ sâu sắc của Mai Thứ đối với người mẫu, một quý cô được đồn đại là người yêu của nghệ sĩ". (Vì sao tác phẩm của họa sỹ Mai Trung Thứ luôn có giá rất cao?, Tuệ Mỹ). Tổng giá trị ước chừng của bức "Chân dung Madam Phương" có giá là 3,1 triệu USD, trở thành kiệt tác đắt giá nhất của mỹ thuật Việt Nam trên thị trường giao dịch công khai.

Mai Trung Thứ, Chân dung cô Phương, sơn dầu, 1930. Nguồn: Le Auction House.
Thế nhưng, nổi nhất khi nói về Mai Trung Thứ phải là tranh lụa. Ông là danh họa chuyên về tranh lụa. “Hầu hết các bức tranh của ông đều gắn tới các đề tài phụ nữ, trẻ em, cuộc sống thường ngày dưới cái nhìn mang đầy màu sắc Á Đông. Cùng đề tài thiếu nữ, có họa sĩ khắc họa lên vẻ đẹp đài các, quý phái như Lê Phổ, có họa sĩ thổi vào tranh sự trong trẻo như Tô Ngọc Vân, còn Mai Trung Thứ chuộng vẻ nhẹ nhàng, thanh thoát. “Tranh thiếu nữ của Mai Trung Thứ gợi nhớ một nét đẹp duyên dáng, thùy mị với hình dáng mảnh mai, thon thả, yêu kiều, đặc biệt là đôi mắt. Ông diễn tả đôi mắt thiếu nữ mà nhiều người vẫn coi là cửa sổ tâm hồn thật đa sầu, đa cảm. Nhân vật trong tranh của ông đều có đôi mắt buồn vô cớ, tư lự mà những ai đã một lần xem tranh thiếu nữ của ông sẽ mãi mãi nhớ nhung.” (Vì sao tác phẩm của họa sỹ Mai Trung Thứ luôn có giá rất cao, Tuệ Mỹ).

Mai Trung Thứ, Phụ nữ đội nón lá bên sông, sơn dầu, 1937. Nguồn: Sotheby's.
Thậm chí, ngay khi đã sang Pháp, dù có nghiên cứu và vẽ thêm chân dung của người phương Tây trên chất liệu lụa Á châu thì sau một thời gian ông vẫn quay về lại những thứ xưa cũ, bám víu trong tâm trí của mình, và vẽ hoàn toàn chỉ dựa vào kí ức các khung cảnh nước nhà, tình mẫu tử, thú vui tao nhã và cảnh hiên nhà. Trong số đó có thể kể tới bộ tác phẩm thưởng trà. Đó là chuỗi các tranh mô tả lại một cách sinh động khung cảnh thưởng trà tĩnh tại, đầy thư thái trong lối sống của người Việt ở thế kỉ XX. Nổi danh bậc nhất trong bộ tác phẩm Thưởng trà là bức Lễ trà, sáng tác năm 1971. “Bức tranh nổi bật với những gam màu tươi sáng, con người và cảnh vật đều tươi sáng. Những người phụ nữ trong bức tranh này đại diện cho ba thế hệ: trẻ con, trưởng thành và người cao tuổi, mặc áo dài truyền thống gọn gàng với những màu sắc tươi tắn đầy sức sống. Vẫn là những nét vẽ nhẹ nhàng đặc trưng của chất liệu lụa và người phụ nữ, họa sĩ cho chúng ta một cảm giác thư thái trong không gian thưởng trà, có cảm giác sinh động, vui vẻ, tinh nghịch của những đứa trẻ xung quanh trong bố cục tranh.” (Hình tượng người phụ nữ trong tranh của họa sĩ Mai Trung Thứ, Ths Lê Thị Thanh Xuân).
Chất thơ ẩn chứa sẵn trong lòng hay chỉ là sự né tránh thời cuộc?
Đương thời, Mai Trung Thứ được coi là họa sĩ góp phần quan trọng tạo nên sự phong phú về màu sắc của chất liệu tranh lụa Việt Nam. Tranh của Mai Trung Thứ nổi bật với những mảng màu nguyên sắc như xanh, đỏ, vàng, lục,... đậm đà và tươi sáng để dẫn tới một cái nhìn thơ mộng, thanh thoát, như tan vào hư không. Hầu hết các chuyên gia thẩm định nghệ thuật và các nhà sưu tầm đều cho rằng tranh của cố danh họa Mai Trung Thứ với lối xử lý màu riêng biệt trên chất liệu lụa truyền thống như vậy là cực kì xuất sắc. “Ông thường vẽ tranh trên vải lụa (étoffe de soie), dùng màu nước trộn keo (gouache) rồi lấy bút cùn chấm mực mài, chà, tạo chiều sâu, vẽ chân dung bằng than màu (pastel) hay than chì.” (Chúng ta và Mỹ thuật Việt Nam: Mai Trung Thứ, May).
Vào thập niên 40 ở thế kỉ XX, tranh lụa của ông đặc trưng với kiểu vẽ nhân vật nữ với gương mặt kiều diễm, mũi cao, cằm nửa vầng trăng. Ở thời gian này bối cảnh ngoài trời được tập trung nhiều vào tính chuyển động như tấm rèm mỏng, gió lay cây, ngọn cỏ đung đưa đối lập lại với sự tĩnh lặng ở trong nhà. Đây là lối diễn họa giàu cảm xúc, đan xen hình ảnh con người giữa thiên nhiên sinh động, gây dựng nên một tổng thể đẹp bởi nhiều yếu tố và truyền tải góc nhìn lý tưởng về văn hóa Việt Nam. Từ những năm 1950 trở đi, tranh lụa của Mai Trung Thứ dần có sự thay đổi về giải phẫu tạo hình nhân vật. Tạo hình nhân vật được ông đơn giản hóa tối đa, mặt tròn, mũi ngắn, dáng hình rất thơ ngây và màu nền thiên về gam màu trung tính, không đặc tả nhiều như trước. Trong thời kì này, ông cũng có sự khắt khe hơn về bố cục, có sự thống nhất về màu sắc, đường nét và không gian. Có thể đây là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa nghệ thuật Tây phương với Mai Trung Thứ.

Mai Trung Thứ, Trẻ tắm, mực và gouache trên lụa, 1971. Nguồn: Bảo Thế giới và Việt Nam.
Nhìn chung dù sống dưới thời Pháp thuộc nhưng “tranh của Mai Thứ không giống bất cứ điều gì đã thấy về xã hội Việt Nam tan nát vì chiến tranh, thù hận. Tranh ông cho ta lại một thế giới khác về con người, con người Việt Nam yêu thương, trong sáng, nguyên thủy.” (Bộ tứ Đông Dương bên trời Âu (Kỳ 1): Họa sỹ Mai Trung Thứ, Thụy Khuê). Điều này được giải thích bởi rất nhiều lí do. Như đã nói ở trên, họa sĩ Lê Phổ từng khẳng định rằng trong những họa sĩ của khóa đầu tiên của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thời đó, Mai Thứ là người vẽ giỏi nhất. Sở dĩ có được điều này vì ông lĩnh hội được tất cả các bút pháp và kĩ thuật phối màu của trường phái hội họa Ấn tượng Pháp từ người thầy vĩ đại Đông Dương - họa sĩ Tardieu. Cũng từ đó những ảnh hưởng của nghệ thuật Tây phương có sự len lỏi và tác động mạnh mẽ tới tư duy và cách vẽ của Mai Trung Thứ. Mai Trung Thứ yêu mọi thứ dưới con mắt lãng mạn và thơ mộng của mình hay như các nhà phê bình rằng tranh của ông “mang hòa sắc lung linh huyền ảo của chủ nghĩa ấn tượng nhưng lại tránh sa vào thái độ duy lý thẩm mỹ của chủ nghĩa này”. Thế nhưng việc lựa chọn theo đuổi trường phái này còn xuất phát từ một nguyên nhân sâu xa hơn đó là việc không chịu nổi không khí thời Pháp thuộc. Có lẽ bởi vì đã sống quá lâu trong cái cảnh chiến tranh thuộc địa và có cha gần như là một người trong “ngành” nên Mai Trung Thứ đã quá thấu hiểu những gì đang thật sự diễn ra trên quê hương mình. Ông thật sự đã đắm mình vào một Việt Nam trong mơ, nhẹ nhàng, trữ tình và êm đềm như cái cách nó đã từng có. Và sau đó ông đã bỏ lại “xe hơi, du thuyền trên đất Thần kinh” và sang Pháp vào năm 1937 như để tìm một lối thoát. Sau dần, Mai Thứ cũng không trở lại quê nhà mà quyết định ở lại, vẽ những bức tranh về Việt Nam dựa vào kí ức.
Vì một mình một cõi với những chiêm nghiệm riêng, tách biệt hoàn toàn với dòng chảy lúc bấy giờ của hội họa thế giới, hơn nửa cuộc đời sống trên đất Pháp, Mai Thứ đã bị giới hội hoạ nước Pháp lãng quên, không được xếp loại, còn xa với đối với danh hiệu những họa sĩ tiên phong. Phải mãi đến sau này, khi tranh của ông được trưng bày lần đầu tiên tại bảo tàng Ursulines tại Macon, nơi đã dành một sự hồi cổ cho người hoạ sĩ tài năng này, ông mới thật sự được công nhận, săn đón và biết đến.
Những di sản lớn của một thế hiện tiên phong
Mai Trung Thứ được các nhà sử học nghệ thuật Việt Nam ngày nay xem là một trong những người tiên phong của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Theo nhận định của giới chuyên môn, họa sĩ Mai Trung Thứ là người đã góp phần rất lớn cho sự phát triển màu sắc của tranh lụa. Bảng màu của ông trở lại những mảng phẳng, trong, tĩnh lặng giống như âm hồn người Việt vốn khao khát sự bình yên, trong trẻo. Tranh lụa Mai Trung Thứ không chỉ được người Pháp yêu quý mà còn được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) chọn như một biểu tượng nghệ thuật của tình yêu dành cho trẻ em trên toàn thế giới.
Ngoài những cống hiến cho nền hội họa Việt Nam, ông còn có nhiều đóng góp quý báu cho nền điện ảnh Việt Nam. Một số tài liệu vẫn còn ghi nhận: Năm 1946, ông gửi về nước bộ phim tài liệu ông quay được với nhan đề “Sức sống của 25.000 Việt kiều tại Pháp” do chính ông đứng tên hãng sản xuất. Cũng năm 1946, nhận lời mời của Tổng thống Cộng hòa Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn đại biểu cấp cao sang thăm Cộng hòa Pháp. Khi đó, họa sĩ Mai Trung Thứ là Giám đốc một hãng phim đã được cử đi cùng Bác Hồ 4 tháng để ghi lại các hoạt động của Hồ Chủ tịch trên đất Pháp. Đây thật sự là những đóng góp to lớn của ông cho sự nghệ thuật nước nhà mà chúng ta cần trân trọng, ghi công.
