Phong trào Tượng trưng / Biểu tượng xuất hiện cuối thế kỷ XIX ở Pháp, sau đó lan rộng và phát triển ở các nước châu Âu như Bỉ, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh. Đây là một trào lưu xuất phát từ thơ ca, rồi sau đó mới lan rộng sang các loại hình nghệ thuật khác, trong đó có hội hoạ. Có thể nói thơ ca chính là nguồn cảm hứng cho các nghệ sĩ thị giác tại châu Âu thời điểm này.
Tuy nhiên, ít ai biết rằng việc xác định niên đại của phong cách này khá khó khăn. Bởi đỉnh cao của Chủ nghĩa Tượng trưng được xác định vào khoảng từ năm 1885 đến năm 1905, nhưng ngay từ những năm 1860 đã có những tác phẩm hướng đến trường phái Tượng trưng. Một số ý kiến khác lại cho rằng sự thăng hoa của phong trào này là vào đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918). Mặt khác, việc phong trào này nổi lên từ thơ ca rồi sau đó mới từ từ ảnh hưởng tới nghệ thuật thị giác có lẽ cũng là một trong những yếu tố gây khó khăn cho việc xác định về mặt thời gian.
Được cho là cùng thời điểm với Chủ nghĩa Hậu Ấn tượng, liệu phong trào Tượng trưng có bị ảnh hưởng từ Hậu Ấn tượng? Hay đây là một phong trào độc lập, không có mối liên kết nào với những trường phái xung quanh? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu trong loạt bài viết về Chủ nghĩa Biểu tượng để đi tìm câu trả lời nhé!

Gustave Moreau, Jupiter and Semele (Jupiter và Semele), 1894 - 1895. Nguồn: Bảo tàng Musée Gustave Moreau, Paris, Pháp.
Lịch sử phong trào Tượng trưng tại châu Âu
Trước khi đi sâu vào chi tiết đặc điểm của trường phái này, chúng ta cần hiểu rõ về nguồn gốc của nó. Chủ nghĩa Tượng trưng là một phong cách kỳ ảo và mộng mơ xuất hiện như một phản ứng đối với Chủ nghĩa Tự nhiên của hội họa hiện thực và các xu hướng Ấn tượng. Nói cách khác, những nghệ sĩ ủng hộ và theo đuổi phong trào này không đồng tình với quan điểm của các tiền bối đi trước.

Fernand Khnopff, Art – Caress of the Sphinx (Art – Vuốt ve của Nhân sư), 1896. Nguồn: Bảo tàng Nghệ thuật Hoàng gia Bỉ, Brussels, Bỉ.
Nếu trong thơ ca, nhịp điệu của từ ngữ dùng để diễn đạt một ý nghĩa siêu việt, thì trong hội họa, các hoạ sĩ tìm cách để màu sắc và đường nét thể hiện ý tưởng. Thông qua việc nhấn mạnh vào thế giới của giấc mơ và những điều thần bí, các nghệ sĩ đang ngấm ngầm thể hiện một văn hóa phản kháng và được coi là lệch lạc lúc bấy giờ. Họ đưa những hình ảnh về Chủ nghĩa Huyền bí, Chủ nghĩa Satan, khủng bố, cái chết, tội lỗi, sự gợi cảm và trụy lạc trực tiếp vào trong tác phẩm mà không hề giấu giếm. Một minh chứng điển hình được hầu hết các nghệ sĩ Tượng trưng say mê là hình tượng người phụ nữ quyến rũ chết người (femme fatale).
Những điều trên là hạt mầm cho sự nảy sinh của Chủ nghĩa suy đồi (Decadentism) và Chủ nghĩa bi quan (Pessimism). Không chỉ vậy, phần nào đó, Chủ nghĩa Tượng trưng cũng có sự ảnh hưởng nhất định đến một trào lưu khác đó là chủ nghĩa thẩm mỹ (aestheticism). Có thể nói phong trào Tượng trưng đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới rất nhiều những phong cách tại thời điểm nó diễn ra. Vậy ở chiều ngược lại, điều gì đã thúc đẩy các họa sĩ phát triển Chủ nghĩa Biểu tượng một cách quyết liệt như vậy?

Pierre Puvis de Chavannes, Young Girls by the Seaside (Những cô gái trẻ bên bờ biển), 1879. Nguồn: Bảo tàng Musée d'Orsay, Paris, Pháp.
Chủ nghĩa Tượng trưng trong hội họa được cho là bị ảnh hưởng bởi nhiều phong cách trước đó. Nổi bật như Chủ nghĩa Tiền Raphael thường được coi là tiền thân của phong trào này. Ngoài ra, mặc dù các nghệ sĩ Tượng trưng tuyên bố rằng họ đi ngược lại với những lý thuyết trường phái Ấn tượng đưa ra, nhưng họ lại chính là những hậu duệ thừa kế từ Tân Ấn tượng với kỹ thuật chấm màu – những lý thuyết phát triển từ cái gốc Ấn tượng.
Sau đó, vào đầu thế kỷ XX, trường phái Tượng trưng được liên kết với Chủ nghĩa Biểu hiện nhờ những nhân vật như Edvard Munch và James Ensor. Một số trường phái hoặc hiệp hội nghệ thuật như Trường phái Pont-Aven hoặc nhóm Nabis được coi là theo Chủ nghĩa Tượng trưng hoặc có liên quan trực tiếp đến phong trào này. Trong đó, họa sĩ Hậu Ấn tượng Paul Gauguin đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự khởi đầu của Chủ nghĩa Tượng trưng, nhờ mối liên hệ của ông với Trường phái Pont-Aven và Chủ nghĩa Cloisonnism.
Đặc điểm tranh Tượng trưng
Chủ nghĩa Tượng trưng xuất hiện như một phản ứng đối với nhiều xu hướng liên quan đến Chủ nghĩa Hiện thực trong lĩnh vực văn hóa trong suốt thế kỷ XIX. Vì thế, các nghệ sĩ thế hệ mới đã thể hiện một cách hiểu mới về cuộc sống: chủ quan và tâm linh hơn, phản ánh nỗi đau khổ hiện sinh của họ trong thời kỳ mất mát về cả giá trị đạo đức và tôn giáo. Giờ đây, họ không còn đơn thuần chỉ sao chép hiện thực nữa – điều mà máy ảnh đã thay họ đảm nhiệm.
Hội họa Biểu tượng có mối liên hệ chặt chẽ với văn học, do đó nhiều tác phẩm của các nhà văn Biểu tượng đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nghệ sĩ. Trong một tạp chí, nhà phê bình Gabriel-Albert Aurier vào năm 1891 đã định nghĩa hội họa Tượng trưng là duy tâm, tượng trưng, tổng hợp, chủ quan và trang trí. Nhà phê bình này cho rằng một tác phẩm thuộc phong trào tượng trưng khi nó có đủ các yếu tố:
1. Chủ nghĩa duy tâm – trong đó lý tưởng duy nhất của nó là sự thể hiện một ý niệm.
2. Chủ nghĩa Tượng trưng – ý niệm ấy được thể hiện thông qua hình thức.
3. Chủ nghĩa tổng hợp – trong đó các hình thức được trình bày theo một phương pháp có thể hiểu được bằng các thuật ngữ chung.
4. Chủ quan – chủ thể lúc này không còn được xem là bản thân sự vật, mà là dấu hiệu của một ý niệm được gợi lên từ sự vật đó.
5. Vì thế, mang tính trang trí – Ở đây, Aurier đã không có giải thích gì thêm. Nhưng qua những hiểu biết nhất định về Chủ nghĩa Biểu tượng, chúng ta có thể hiểu rằng trang trí lúc này không phải theo nghĩa làm đẹp đơn thuần. Đó là vẻ đẹp được sinh ra từ nhịp điệu của hình khối, đường nét và màu sắc, nơi cảm xúc và ý niệm hòa vào bề mặt tác phẩm, khiến nghệ thuật trở thành một không gian thị giác vừa gợi cảm, vừa giàu rung động.

Arnold Böcklin, Isle of the Dead (Hòn đảo của người chết), 1880. Nguồn: Bảo tàng nghệ thuật Kunstmuseum Basel, Đức.
Mặt khác, nhà thơ Gustave Kahn từng nhận xét vào năm 1886 rằng: “Mục tiêu cốt lõi của nghệ thuật chúng tôi là khách thể hóa cái chủ quan (tức là đưa ý niệm ra bên ngoài), chứ không phải chủ quan hóa cái khách quan (thiên nhiên được nhìn qua lăng kính của một cá tính).”
Trường phái Tượng trưng là một phong trào chiết trung. Các nghệ sĩ thực hành kết hợp nhiều phong cách được nhóm lại bởi một loạt các yếu tố chung như chủ đề, cách hiểu về cuộc sống và nghệ thuật, ảnh hưởng văn học và âm nhạc, và sự phản đối chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa thực chứng khoa học. Song song đó, họ thể hiện nỗi hoài niệm về quá khứ, sự xấu xí của chủ nghĩa suy đồi với vẻ đẹp của chủ nghĩa thẩm mỹ, sự thanh thản với sự hưng phấn, lý trí với sự điên rồ. Tất cả có thể coi là một sự pha trộn của khát vọng hiện đại và sự đoạn tuyệt với truyền thống.
Thế kỷ XIX là thời điểm bùng nổ của các phong trào nghệ thuật và hội hoạ. Không chỉ riêng Chủ nghĩa Tượng trưng, mà hầu hết các trường phái hay phong trào khác đều diễn ra sự chồng chéo giữa các phong cách khác nhau cùng tồn tại đồng thời: Tân Ấn tượng và Hậu Ấn tượng, Chủ nghĩa Hiện đại, Chủ nghĩa Tượng trưng, Chủ nghĩa Tổng hợp, Chủ nghĩa Tài tình; cũng như giữa các loại hình nghệ thuật tạo hình: hội họa, điêu khắc, minh họa, nghệ thuật trang trí và giữa những loại hình này với thơ ca, sân khấu và âm nhạc.

Maurice Denis, September Evening (Buổi tối tháng Chín), 1891. Nguồn: Bảo tàng Musée d'Orsay, Paris, Pháp.
Nhưng điều khiến phong trào Tượng trưng khác biệt và có thể đứng độc lập và tách khỏi những trường phái khác đó là bởi phong trào này đề cao tính chủ quan và những trải nghiệm nội tâm. Theo Amy Dempsey: "Các nghệ sĩ theo Chủ nghĩa Tượng trưng là những nghệ sĩ đầu tiên tuyên bố rằng mục đích thực sự của nghệ thuật là thế giới nội tâm của tâm trạng và cảm xúc, chứ không phải thế giới khách quan của vẻ bề ngoài." Họ đã sử dụng biểu tượng như một phương tiện để thể hiện cảm xúc của mình, bằng những hình ảnh có nội dung chủ quan và phi lý mạnh mẽ. Trong đó, những giấc mơ, ảo ảnh, thế giới kỳ ảo được nghệ sĩ tái tạo chiếm ưu thế, với một xu hướng nhất định, hướng tới sự bệnh hoạn và biến thái, sự đau khổ, sự cô đơn và nỗi đau khổ hiện sinh.
Không dừng lại ở đó, biểu tượng còn là "tác nhân giao tiếp với sự bí ẩn", cho phép thể hiện những trực giác và quá trình tư duy tiềm ẩn theo cách không thể thực hiện được trong một phương tiện biểu đạt thông thường. Việc này làm cho những điều mơ hồ, bí ẩn, không thể diễn tả, ẩn giấu trở nên rõ ràng hơn. Liên quan đến sở thích đối với những điều bí ẩn và vô thức, những người theo Chủ nghĩa Biểu tượng thể hiện sự ưa thích đặc biệt đối với phép ẩn dụ, đối với việc thể hiện các ý tưởng thông qua những hình ảnh gợi lên những ý tưởng đó. Chính vì vậy, các nghệ sĩ thường sử dụng biểu tượng, thần thoại và hình tượng liên quan đến truyền thuyết thời Trung cổ và các nhân vật từ văn hóa dân gian phổ biến, đặc biệt là ở các nước Đức và Scandinavia.

Odilon Redon, The Cyclops (Người khổng lồ một mắt), 1914. Nguồn: Bảo tàng Kröller-Müller, Otterlo, Hà Lan.
Một biến thể khác của chủ nghĩa huyền bí là sự hấp dẫn đối với chủ nghĩa gợi cảm. Điều này dễ dàng tìm thấy trong tác phẩm của các nghệ sĩ như Moreau hoặc Radeon và dễ thấy nhất ở Rops, Stuck, Klimt, Beardsley hoặc Mossa. Điều này cũng dẫn đến việc khám phá cái chết hoặc bệnh tật, như Munch, Ensor và Strindberg. Với Chủ nghĩa Biểu tượng, nghệ thuật là phá vỡ truyền thống và xây dựng một vũ trụ song song, mở ra một vùng đất nguyên sơ. Đây chính là nền tảng cho những cách hiểu mới về nghệ thuật vào đầu thế kỷ XX mang tên chủ nghĩa tiên phong lịch sử (the historical avant-garde).
Nghệ thuật Tượng trưng dường như đã vượt xa khỏi khuôn khổ của một tác phẩm thị giác thông thường. Chúng ta đã được chứng kiến Gauguin nói về "khía cạnh âm nhạc" trong nghệ thuật của mình; Rimbaud liên hệ các nguyên âm với màu sắc (A-đen, E-xanh lam, I-đỏ, O-vàng, U-xanh lục); Baudelaire áp dụng màu sắc cho nước hoa; Mikalojus Konstantinas Čiurlionis, một họa sĩ kiêm nhà soạn nhạc, đã tạo ra một lý thuyết trong đó màu sắc là điểm kết nối giữa các loại hình nghệ thuật khác nhau, trong hội họa là liên kết giữa các họa tiết khác nhau và trong âm nhạc là hình ảnh của trật tự vũ trụ thiêng liêng. Vì vậy, nghệ thuật lúc này còn là mối liên hệ giữa các đặc điểm hội họa (đường nét, màu sắc, nhịp điệu) và những cảm giác khác như âm thanh và mùi hương.

William Degouve de Nuncques, Angels in the Night (Những thiên thần trong đêm), 1891. Nguồn: Bảo tàng Kröller-Müller, Otterlo, Hà Lan.
Hội họa Tượng trưng đề cao lối sáng tác dựa trên ký ức và nội tâm, đối lập với phương pháp vẽ trực tiếp ngoài trời (à plein air) của trường phái Ấn tượng. Một trong những đặc trưng cốt lõi của nó là đường nét – những đường cong uốn lượn mang dáng vẻ hữu cơ, mềm mại, giàu nhịp điệu và được cách điệu. Ở đó, việc tái hiện không còn nhằm sao chép tự nhiên, mà chuyển sang lối gợi ý, ẩn dụ. Hội họa tượng trưng khẳng định tính hai chiều vốn có của mặt tranh, từ bỏ phối cảnh, trọng lực và ảo giác không gian ba chiều.
Các họa sĩ trường phái biểu tượng ưa chuộng những chủ đề truyền thống, nhưng thường được diễn giải lại với ngôn ngữ riêng của nghệ sĩ thông qua những chủ đề mới mẻ. Tranh chân dung theo trường phái Biểu tượng là một hình thức tự soi chiếu tâm lý, thường được lý tưởng hóa, đặc biệt là khuôn mặt phụ nữ. Baudelaire đã so sánh đôi mắt của các quý cô với những viên ngọc quý và mái tóc với một bản giao hưởng của hương thơm hoặc một biển sóng. Còn đôi mắt được coi là cửa sổ tâm hồn, thường mang vẻ hoài niệm và u sầu. Trong khi đó, miệng lại có thể to như một bông hoa hoặc nhỏ như một biểu tượng của sự im lặng, như trong tác phẩm của Fernand Khnopff.
Với đề tài phong cảnh, các nghệ sĩ tượng trưng ưa thích những thứ có vẻ hao hao những họa sĩ thời kỳ Lãng mạn – những không gian cô độc, hoài niệm và giàu tính gợi. Đó là những miền cảnh quan hoang dã, bị bỏ quên, chưa bị bàn tay con người làm vẩn đục, mở ra những đường chân trời rộng lớn, gần như vô tận. Những phong cảnh này hiếm khi hoàn toàn vắng bóng con người. Ngược lại, sự hiện diện của con người thường được sử dụng như một phương tiện gợi cảm, để cảnh vật trở thành nơi phản chiếu và phóng chiếu các trạng thái tâm lý.
Tóm lại, những nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Tượng trưng đó chính là chống lại Chủ nghĩa Tự nhiên, bảo vệ sự giả tạo; chống lại hiện đại thể hiện nguyên thủy; chống lại khách quan nhấn mạnh chủ quan; chống lại lý tính ủng hộ phi lý tính, chống lại trật tự xã hội, tôn vinh sự tự do, bất quy tắc; chống lại ý thức theo đuổi điều bí ẩn. Lúc này, những nghệ sĩ không còn tái tạo thiên nhiên, mà xây dựng thế giới của riêng mình, tự giải phóng bản thân một cách biểu đạt và sáng tạo, khao khát tác phẩm nghệ thuật toàn diện. Các nghệ sĩ tượng trưng tin rằng: nếu đạt được những điều trên, họ sẽ trở thành một người sáng tạo tuyệt đối.
