Skip to content
Language/
Paul Cézanne, Les Joueurs de cartes (Người chơi), Metropolitan Museum of Art, New York

Chủ nghĩa Hậu Ấn tượng (Kỳ 1)

Hậu Ấn tượng (Post Impressionism) là một phong trào nghệ thuật chủ yếu của Pháp, phát triển mạnh mẽ trong khoảng thời gian từ năm 1886 đến năm 1905. Hậu Ấn tượng nổi lên như một phản ứng chống lại phong cách của trường phái Ấn tượng. Các nghệ sĩ Hậu Ấn tượng cho rằng việc miêu tả ánh sáng và màu sắc một cách tự nhiên của các bậc tiền bối là đang quá phụ thuộc vào cái nhìn tức thời của thị giác, mà bỏ quên những tầng sâu hơn của con người và thế giới.

Hậu Ấn tượng bao gồm nhiều nhóm nghệ sĩ, chủ nghĩa và trường phái khác nhau, trong đó có Les Nabis, Tân Ấn tượng (Neo-Impressionism), Chủ nghĩa Cloisonnism, Trường phái Pont-Aven, Chủ nghĩa Tổng hợp (Synthetism), Trường phái Biểu hiện (Expressionism), Trường phái Hoạ điểm (Pointillism), Trường phái Tượng trưng (Symbolism). Các nghệ sĩ chính của phong trào là Paul Cézanne – cha đẻ của Hậu Ấn tượng, Paul Gauguin, Vincent van Gogh và Georges Seurat. 

Paul Cézanne, Les Joueurs de cartes (Người chơi), Metropolitan Museum of Art, New York

Paul Cézanne, Les Joueurs de cartes (Người chơi). Nguồn: Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, New York, Hoa Kỳ.

Trong loạt bài về Chủ nghĩa Hậu Ấn tượng, chúng ta sẽ cùng nhìn lại những tìm tòi của các nghệ sĩ –  những người dù đến sau nhưng vẫn tạo nên bước ngoặt quan trọng cho lịch sử nghệ thuật thế giới.

Cái tên Hậu Ấn tượng

Chúng ta thường thấy, tên các trường phái ra đời, thường khác biệt hoàn toàn so với những thứ đã có trước đó. Cái tên khác biệt như một tuyên bố “chúng tôi không tiếp nối, chúng tôi rẽ hướng”. Đây chính là ranh giới cắt đứt sự nhập nhằng với truyền thống trước đó. Thế nhưng, khi nhìn vào Hậu Ấn tượng, tại sao nó chỉ khác biệt trường phái tồn tại trước đó một tiền tố?

Quay trở lại đầu thế kỷ XX, thuật ngữ Hậu Ấn tượng xuất hiện sau khi các nghệ sĩ thuộc trường phái này mất một thời gian. Vì vậy, không ai có thể biết được phải ứng của họ như thế nào đối với cái tên này. Cụm “Hậu Ấn tượng” lần đầu tiên được sử dụng là vào năm 1906 bởi nhà giám tuyển, phê bình nghệ thuật Roger Fry. Sau đó, nhà phê bình Frank Rutter đã dùng lại thuật ngữ này trong bài đánh giá về Salon d'Automne được đăng trên Art News ngày 15 tháng 10 năm 1910. Rutter đã mô tả Othon Friesz là một "nhà lãnh đạo hậu ấn tượng", bởi hoạ sĩ này cũng có một triển lãm mang tên “Những họa sĩ Hậu Ấn tượng của Pháp”. Ba tuần sau, Roger Fry lại sử dụng cụm từ “Hậu Ấn tượng” khi ông tổ chức triển lãm “Manet và những người theo trường phái Hậu ấn tượng” năm 1910. 

Áp phích triển lãm tranh năm 1889 của nhóm họa sĩ Ấn tượng và Tổng hợp tại Café des Arts, được biết đến với tên gọi Triển lãm Volpini, năm 1889.

Áp phích triển lãm tranh năm 1889 của nhóm họa sĩ Ấn tượng và Tổng hợp tại Café des Arts, được biết đến với tên gọi Triển lãm Volpini, năm 1889. Nguồn: National Gallery of Art.

Có rất nhiều ý kiến trái chiều xung quanh việc này bởi cụm “Hậu Ấn tượng” chỉ đúng về mặt thời gian, còn về mặt kỹ thuật và phát triển của các nghệ sĩ thì chưa thực sự phù hợp. Tuy vậy, cái tên gây xôn xao dư luận này cũng được coi là một sự phát triển của nghệ thuật Pháp kể từ khi hoạ sĩ Edouard Manet xuất hiện. Bởi lẽ cái tên của hoạ sĩ Ấn tượng Edouard Manet chỉ tham gia triển lãm này vì lý do thương mại, Roger Fry cho rằng khi đặt tên của Manet vào thì triển lãm sẽ thành công. 

Tuy nhiên, trước khi cái tên triển lãm chính thức này xuất hiện, Roger Fry hẳn đã phải rất đau đầu để tìm ra một mẫu số chung giữa bốn nghệ sĩ trẻ cùng tham gia triển lãm với Manet. Bởi vì mỗi người họ đều có một lối rẽ nghệ thuật riêng và dường như càng ngày càng tách rời nhau. Trong khi Georges Seurat và Van Gogh theo đuổi trường phái Tân ấn tượng, thì Paul Cézanne là người đã từ bò trường phái Ấn tượng mà ông cho là lỗi thời. Hay một người bạn khác của Van Gogh là Paul Gauguin lại theo phong trào Tượng trưng. 

Roger Fry cho rằng không gì tuyệt hơn là thêm tiền tố “Hậu” vào trước cụm “Ấn tượng”. Theo nhà giám tuyển này, cả bốn nghệ sĩ trẻ kia dù đang theo đuổi những thứ rất khác biệt nhưng tất cả họ đều xuất phát từ trường phái Ấn tượng. Hậu Ấn tượng là một cái tên vô cũng phù hợp. 

Khởi đầu của trường phái Hậu Ấn tượng

Năm 1872, Claude Monet đã thay đổi hoàn toàn hướng đi của hội họa, mở ra một phương thức biểu đạt thị giác mang tính cách mạng, trong đó các nghệ sĩ phản ứng với môi trường hiện đại xung quanh họ. Điều này được thể hiện rõ trong bức tranh Ấn tượng, Mặt trời mọc (1872), trong đó Monet sử dụng từng nét cọ có thể nhìn thấy để ghi lại chính xác cách ánh sáng mặt trời chiếu xuống những con tàu hơi nước và mặt nước bên dưới. Nhà phê bình Louis Leroy đã chế giễu phong cách hội họa của họ là "Ấn tượng" vì những nét cọ có thể nhìn thấy, và vô tình tạo nên bản sắc chung cho nhóm. Mặc dù các thành viên cốt lõi bao gồm Claude Monet, Berthe Morisot, Auguste Renoir và Edgar Degas, nhưng còn nhiều nghệ sĩ khác có liên hệ với nhóm. Trong số đó có Paul Cézanne, người đã triển lãm cùng các họa sĩ Ấn tượng trong những năm 1870 và đầu những năm 1880. 

Henri Rousseau, The Centenary of Independence (Kỷ niệm trăm năm độc lập), 1892, Trung tâm Getty, Los Angeles

Henri Rousseau, The Centenary of Independence (Kỷ niệm trăm năm độc lập), 1892. Nguồn: Trung tâm Getty, Los Angeles, Hoa Kỳ.

Đến triển lãm cuối cùng của trường phái Ấn tượng năm 1886, các nghệ sĩ trẻ và các nhà phê bình đã yêu cầu sự thay đổi trọng tâm của nghệ thuật tả thực. Họ cảm thấy các họa sĩ trường phái Ấn tượng đã để cho sự chú trọng vào kỹ thuật và hiệu ứng ánh sáng tự nhiên lấn át tầm quan trọng của chủ đề. Cuối cùng, những nghệ sĩ bất đồng chính kiến này được gọi là trường phái Hậu Ấn tượng, một thuật ngữ dùng để chỉ nhiều phong cách nghệ thuật cá nhân khác nhau. Tuy vậy, nhiều nhân vật hàng đầu của phong trào này là đối thủ của nhau về phương pháp và cách tiếp cận. Gauguin và Seurat đều ghét nhau và có cái nhìn hơi coi thường về phong cách của nhau, còn Van Gogh thì lại hoài nghi về phong cách được sắp xếp chặt chẽ của Cézanne.

Mặc dù Paris chắc chắn là cái nôi của trường phái Hậu ấn tượng, nhưng việc nhấn mạnh vào nội dung mang tính biểu tượng và biểu cảm đã khiến cuộc sống thành phố không còn là chủ đề chính đối với các nghệ sĩ nữa. Sau đó, nhiều họa sĩ đã phát triển phong cách thẩm mỹ cá nhân của họ bên ngoài Paris. Cézanne dành phần lớn sự nghiệp của mình ở Provence, Van Gogh đạt đến đỉnh cao phong cách ở Arles tại miền nam nước Pháp và trong một nghệ sĩ từ bỏ Paris nổi tiếng – Gauguin đã di cư đến Tahiti.

Sau khi rời bỏ Paris, các nghệ sĩ đã làm gì để dù sáng tác ở những vùng đất hẻo lánh, tác phẩm của họ vẫn vang vọng tới trung tâm nghệ thuật nước Pháp và tiếp tục ảnh hưởng đến các thế hệ sau? Hãy cùng đón xem bài viết kỳ 2 và kỳ 3 của loạt bài về Chủ nghĩa Hậu Ấn tượng để khám phá câu trả lời nhé!

Previous Post Next Post