Mấy lọ màu, tấm bạt, bỏ vô ba lô rồi lên con “chiến mã” Cub 50, tới góc nào hay hay là bày đồ ra vẽ. Bảo sao nhắc tới “người hay vẽ vời tại chỗ” ở Huế, cái tên Trần Hữu Nhật nghe quen tai liền. Thể nghiệm từ trực họa đến trừu tượng phi hình, anh vẫn rong ruổi tìm kiếm những điều “chưa lý giải được” từ sâu trong nội tâm của mình, mà vẫn không quên nhắc rằng, bản thân thích được tặng danh hiệu “kẻ nghiện Huế.”

Họa sĩ Trần Hữu Nhật bên tác phẩm “Chim dưới lòng hồ” tại lễ trao giải UOB lần thứ 3 tại Việt Nam. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.
Hoài mãi không chán, một bóng hình
Sinh năm 1981 tại Huế, dù gia đình sang Mỹ định cư, Trần Hữu Nhật vẫn chọn ở lại cố đô, nơi anh “nghiện Huế hoài” vì những điều trầm lặng mà vi diệu.
“Nếu được gói Huế trong hai chữ, tôi chọn ‘sương khói’. Ở đâu cũng có sương, khói, nhưng khói lam chiều làm Huế man mác buồn mà lộng lẫy.”
Cơ duyên với vẽ đến rất sớm. Những môn học khác anh khó tiếp thu, chỉ hội họa là nơi anh tìm thấy mình. Từ lớp năng khiếu thiếu nhi đến Đại học Mỹ thuật Huế (2000 - 2005), mọi ngả đường của anh dường như đều đưa về hội họa. Ra trường, anh dạy vẽ tám năm, giúp các em thi vào trường, rồi quyết định dừng hẳn việc dạy, để tập trung cho sáng tác.
“Khi mẹ còn sống, tôi ở cùng bà ở đây. Sau khi bà mất, tôi từng nghĩ đến việc sang Mỹ cùng bố và các anh chị, nhưng cuối cùng tôi chỉ thăm họ thôi. Huế cho tôi ‘chất liệu cuộc sống’ không đâu sánh được.”

Một góc bày tranh và dụng cụ vẽ trực họa nơi cổ tự Từ Hiếu. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.
Chính mảnh đất ấy, với ánh sáng và sương khói đặc trưng, đã đưa anh đến với dòng trực họa phong cảnh, bước khởi đầu định hình phong cách riêng. Khi trực họa, anh học được ánh sáng, học được nhịp sống và cả những điều tinh tế, nhỏ nhặt mà chỉ trực tiếp chiêm nghiệm mới nhận ra.
“Trực họa giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan; nó giống như một ‘trường đại học’ rộng lớn hơn bất kỳ lớp học nào.”
Điều khiến anh vẫn “hoài không thấy chán” dòng vẽ này còn là sự đón nhận nồng nhiệt từ công chúng, những người đã nhận định tranh anh “chuẩn Huế, rất Huế”. Cái chất “rất Huế” ấy chính là nét nhận diện riêng biệt, làm nên giá trị của tác phẩm..
“Thú thật, nguồn nuôi nghề của tôi chủ yếu là tranh trực họa vì chúng vừa chiều thị hiếu, vừa giàu tính thị giác. Nhưng dù thế nào, nghệ sĩ vẫn phải có nội lực thì người ta mới trân trọng và muốn giữ tranh, còn cảm xúc thì thuộc về mỗi người cảm.”

Một sáng tác của họa sĩ Trần Hữu Nhật. Nguồn: Luxou Vietnam.
Kể cả khi chuyển sang trừu tượng hay biểu hình ý niệm, thiên nhiên vẫn ẩn dưới những lớp màu, như ký ức không rời. “Nhìn thiên nhiên bằng con mắt vật lý, nhưng tôi tìm cái ‘không thấy’,” anh nói. Sự “nghiện Huế” và những ngày tháng rong ruổi với giá vẽ vẫn âm thầm len vào từng tác phẩm, dù anh có thay đổi ngôn ngữ thị giác đến đâu.
Những cuộc rong ruổi, vẫn kiếm tìm
Hành trình nghệ thuật của Trần Hữu Nhật là một chuỗi những cuộc rong ruổi và thử nghiệm. Từ những nét hiện thực được đào tạo bài bản, anh sớm bứt khỏi khuôn khổ để thử vật liệu thường nhật: rơm rạ, bong bóng, ổ kiến, chén đũa, nhang, vé số… Trong triển lãm “Quê hương tôi” (2006), chất liệu và ý tưởng hòa lại thành những hình ảnh vừa quen vừa lạ.
Sau đó, loạt “tranh lụa không bồi” trong triển lãm “Cười và khóc” (2008) đánh dấu thử nghiệm nổi bật của một cựu sinh viên chuyên khoa Lụa. Thay vì tuân thủ quy chuẩn, anh chọn vẽ lên bề mặt thô mộc, đưa vào những hình ảnh đời sống kèm chút giễu nhại, một cách để tách mình khỏi truyền thống và tìm tiếng nói riêng.

Những tác phẩm vẽ tranh Lụa của hoạ sĩ Trần Hữu Nhật tại triển lãm Cười và khóc (2008). Nguồn: Hanoi Grapevine.
Đến 2011, anh bước vào vùng thử nguy hiểm hơn: tự họa nude bằng than củi, phô bày sự xấu xí và khắc khổ của cơ thể, ý niệm cho việc cảnh báo biến đổi khí hậu toàn cầu, đồng thời khẳng định nghệ thuật nude cần được nhìn nhận văn minh hơn.
Những thử nghiệm ấy, trong bối cảnh Á Đông còn dè dặt và đặc biệt ở Việt Nam, thực sự táo bạo. Xã hội vẫn mất nhiều thời gian để thoát khỏi sự lẫn lộn giữa nghệ thuật và ranh giới nhạy cảm; và câu hỏi đặt ra là liệu thế hệ họa sĩ như anh có tiếp tục mở lối cho cái nhìn cởi mở hơn hay không?
Sau những khúc quanh ấy, anh lựa chọn dấn thân đi sâu vào trừu tượng phi hình, nơi anh có thể trình bày toàn bộ nội giới. “Giống như nhận một tín hiệu từ cõi hư vô… không nói bằng lời được nên tôi vẽ,” anh miêu tả. Anh muốn vẽ những thứ mơ hồ, khó chịu, điều ẩn sâu mà “cái đẹp đèm đẹp” không chạm tới. Tranh của anh, vì vậy, không nhắm vào thị giác mà hướng đến cảm giác.
“Đôi khi tôi không thỏa mãn với chính mình bởi sự đèm đẹp… tôi vẽ bằng nội giới, những tầng sâu nhất của nỗi buồn hoặc những điều chưa lý giải.”

Họa sĩ Trần Hữu Nhật đang trộn màu cho tác phẩm đang sáng tác. Nguồn: Artonis.
Đối với họa sĩ, dòng tranh trừu tượng ở Việt Nam vẫn còn lẩn quẩn quanh một kỳ vọng: người xem muốn hiểu trừu tượng như hiểu một câu chuyện có logic. Nhưng anh tin, trừu tượng sinh ra để cảm trước hết.
“Nghệ thuật có cảm thụ và cảm nhận: một dựa vào tri thức, một thuộc về nội tâm. Khi nhìn tranh phi hình, người xem trước hết sẽ cảm xem mình có thích hay không, rồi mới tìm hiểu sâu hơn."
Anh học cách nhìn nhận trừu tượng như Willem de Kooning, diễn đạt cảm xúc tức thời, không phụ thuộc logic hình ảnh. Đồng thời, anh cũng chịu ảnh hưởng từ các bậc tiền bối Việt Nam, mang tinh thần Á Đông nhẹ nhàng nhưng trầm sâu. Ở Nhật, điều ấy hiện lên qua nét thơ thẩn, man mác buồn của Huế, hòa cùng triết lý sống kiên nhẫn và nhiệt huyết: “Nếu mình không yêu mình thì không làm được việc gì.”
Từng có bốn triển lãm khi mới ra trường, anh lại chấp nhận âm thầm không tổ chức thêm suốt 15 năm. Đây là khoảng lặng cần thiết để “tìm độ chín” cho bản thân. Hiện tại, anh vẫn tiếp tục sáng tác trong cả trực họa lẫn trừu tượng phi hình, chuẩn bị cho những dự án mới.
“Một năm tôi quậy mấy trăm bức, nhưng thích được hai bức. Độ chín không nằm ở bề mặt tranh nữa, mà ở bên trong. Riêng với hội họa, tôi không xem đó là nghề hay nghiệp nữa, mà là số phận. Tôi chẳng làm điều gì tốt hơn ngoài việc được sống với hội họa.”

Trần Hữu Nhật, Xóm Chài (bãi đá Thuận An - Huế), tranh bột màu trên giấy me, 50 x 79 cm. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.
Anh cũng mong công chúng đừng xem “Nghệ thuật là ánh trăng lừa dối.” Vì với anh, nghệ thuật phải là “ánh sáng của lương tri, ánh sáng của lương tính.” Cái Đẹp (Mỹ) phải đi qua Chân (sự thật) và Thiện (lương thiện), vẹn nguyên tiêu chuẩn “chân - thiện - mỹ” mà anh luôn theo đuổi.
Một lý tưởng thú vị, nhưng cũng mở ra những trăn trở còn bỏ ngõ. Liệu Nghệ thuật vẫn nhập nhằng giữa hai vị thế của lương tri và cả… sự lừa dối, cố “làm ngọt” những điều không có thật? Có lẽ không có câu trả lời chính xác, vì dường như "lương tri" của người nghệ sĩ và "sự tỉnh táo" của người thưởng thức sẽ quyết định tác phẩm đó nghiêng về phía ánh sáng hay sự lừa dối, phù hợp với những hỷ, nộ, ái, ố mà mối duyên của họ được hình thành, thông qua tác phẩm.
Đôi lời kết
Trần Hữu Nhật vẫn luôn trân trọng cái tên “kẻ nghiện Huế,” mang những vẻ đẹp vừa thơ vừa ngộ của cố đô vào từng tác phẩm. Anh vẫn miệt mài tìm kiếm sự “chín” về tâm thức, thử nghiệm với chất liệu, hình thức và nội giới.
Và có lẽ, công chúng yêu nghệ thuật rất mong chờ được nhìn thấy và tham dự vào những thực hành thú vị hơn trong lần trở lại sắp tới của anh, với những sáng tác trực họa đong đầy cảm xúc hay trừu tượng phi hình được cảm thụ đa chiều hơn, tiếp tục khai mở những chân trời mới cho nền nghệ thuật Việt Nam đương đại.
Tin bài liên quan
Trần Hữu Nhật – Rong ruổi đi tìm những điều “chưa lý giải được”
Mấy lọ màu, tấm bạt, bỏ vô ba lô rồi lên con “chiến mã” Cub 50, tới góc nào hay hay là bày đồ ra vẽ. Bảo sao nhắc tới “người hay vẽ vời tại chỗ” ở Huế, cái tên Trần Hữu Nhật nghe quen tai liền. Thể nghiệm từ trực họa đến trừu tượng phi hình, anh vẫn rong ruổi tìm kiếm những điều “chưa lý giải được” từ sâu trong nội tâm của mình, mà vẫn không quên nhắc rằng, bản thân thích được tặng danh hiệu “kẻ nghiện Huế.” Họa sĩ Trần Hữu Nhật bên tác phẩm “Chim dưới lòng hồ” tại lễ trao giải UOB lần thứ 3 tại Việt Nam. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ. Hoài mãi không chán, một bóng hình Sinh năm 1981 tại Huế, dù gia đình sang Mỹ định cư, Trần Hữu Nhật vẫn chọn ở lại cố đô, nơi anh “nghiện Huế hoài” vì những điều trầm lặng mà vi diệu.“Nếu được gói Huế trong hai chữ, tôi chọn ‘sương khói’. Ở đâu cũng có sương, khói, nhưng khói lam chiều làm Huế man mác buồn mà lộng lẫy.” Cơ duyên với vẽ đến rất sớm. Những môn học khác anh khó tiếp thu, chỉ hội họa là nơi anh tìm thấy mình. Từ lớp năng khiếu thiếu nhi đến Đại học Mỹ thuật Huế (2000 - 2005), mọi ngả đường của anh dường như đều đưa về hội họa. Ra trường, anh dạy vẽ tám năm, giúp các em thi vào trường, rồi quyết định dừng hẳn việc dạy, để tập trung cho sáng tác.“Khi mẹ còn sống, tôi ở cùng bà ở đây. Sau khi bà mất, tôi từng nghĩ đến việc sang Mỹ cùng bố và các anh chị, nhưng cuối cùng tôi chỉ thăm họ thôi. Huế cho tôi ‘chất liệu cuộc sống’ không đâu sánh được.” Một góc bày tranh và dụng cụ vẽ trực họa nơi cổ tự Từ Hiếu. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ. Chính mảnh đất ấy, với ánh sáng và sương khói đặc trưng, đã đưa anh đến với dòng trực họa phong cảnh, bước khởi đầu định hình phong cách riêng. Khi trực họa, anh học được ánh sáng, học được nhịp sống và cả những điều tinh tế, nhỏ nhặt mà chỉ trực tiếp chiêm nghiệm mới nhận ra. “Trực họa giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan; nó giống như một ‘trường đại học’ rộng lớn hơn bất kỳ lớp học nào.” Điều khiến anh vẫn “hoài không thấy chán” dòng vẽ này còn là sự đón nhận nồng nhiệt từ công chúng, những người đã nhận định tranh anh “chuẩn Huế, rất Huế”. Cái chất “rất Huế” ấy chính là nét nhận diện riêng biệt, làm nên giá trị của tác phẩm.. “Thú thật, nguồn nuôi nghề của tôi chủ yếu là tranh trực họa vì chúng vừa chiều thị hiếu, vừa giàu tính thị giác. Nhưng dù thế nào, nghệ sĩ vẫn phải có nội lực thì người ta mới trân trọng và muốn giữ tranh, còn cảm xúc thì thuộc về mỗi người cảm.” Một sáng tác của họa sĩ Trần Hữu Nhật. Nguồn: Luxou Vietnam. Kể cả khi chuyển sang trừu tượng hay biểu hình ý niệm, thiên nhiên vẫn ẩn dưới những lớp màu, như ký ức không rời. “Nhìn thiên nhiên bằng con mắt vật lý, nhưng tôi tìm cái ‘không thấy’,” anh nói. Sự “nghiện Huế” và những ngày tháng rong ruổi với giá vẽ vẫn âm thầm len vào từng tác phẩm, dù anh có thay đổi ngôn ngữ thị giác đến đâu. Những cuộc rong ruổi, vẫn kiếm tìm Hành trình nghệ thuật của Trần Hữu Nhật là một chuỗi những cuộc rong ruổi và thử nghiệm. Từ những nét hiện thực được đào tạo bài bản, anh sớm bứt khỏi khuôn khổ để thử vật liệu thường nhật: rơm rạ, bong bóng, ổ kiến, chén đũa, nhang, vé số… Trong triển lãm “Quê hương tôi” (2006), chất liệu và ý tưởng hòa lại thành những hình ảnh vừa quen vừa lạ. Sau đó, loạt “tranh lụa không bồi” trong triển lãm “Cười và khóc” (2008) đánh dấu thử nghiệm nổi bật của một cựu sinh viên chuyên khoa Lụa. Thay vì tuân thủ quy chuẩn, anh chọn vẽ lên bề mặt thô mộc, đưa vào những hình ảnh đời sống kèm chút giễu nhại, một cách để tách mình khỏi truyền thống và tìm tiếng nói riêng. Những tác phẩm vẽ tranh Lụa của hoạ sĩ Trần Hữu Nhật tại triển lãm Cười và khóc (2008). Nguồn: Hanoi Grapevine. Đến 2011, anh bước vào vùng thử nguy hiểm hơn: tự họa nude bằng than củi, phô bày sự xấu xí và khắc khổ của cơ thể, ý niệm cho việc cảnh báo biến đổi khí hậu toàn cầu, đồng thời khẳng định nghệ thuật nude cần được nhìn nhận văn minh hơn. Những thử nghiệm ấy, trong bối cảnh Á Đông còn dè dặt và đặc biệt ở Việt Nam, thực sự táo bạo. Xã hội vẫn mất nhiều thời gian để thoát khỏi sự lẫn lộn giữa nghệ thuật và ranh giới nhạy cảm; và câu hỏi đặt ra là liệu thế hệ họa sĩ như anh có tiếp tục mở lối cho cái nhìn cởi mở hơn hay không? Sau những khúc quanh ấy, anh lựa chọn dấn thân đi sâu vào trừu tượng phi hình, nơi anh có thể trình bày toàn bộ nội giới. “Giống như nhận một tín hiệu từ cõi hư vô… không nói bằng lời được nên tôi vẽ,” anh miêu tả. Anh muốn vẽ những thứ mơ hồ, khó chịu, điều ẩn sâu mà “cái đẹp đèm đẹp” không chạm tới. Tranh của anh, vì vậy, không nhắm vào thị giác mà hướng đến cảm giác.“Đôi khi tôi không thỏa mãn với chính mình bởi sự đèm đẹp… tôi vẽ bằng nội giới, những tầng sâu nhất của nỗi buồn hoặc những điều chưa lý giải.” Họa sĩ Trần Hữu Nhật đang trộn màu cho tác phẩm đang sáng tác. Nguồn: Artonis. Đối với họa sĩ, dòng tranh trừu tượng ở Việt Nam vẫn còn lẩn quẩn quanh một kỳ vọng: người xem muốn hiểu trừu tượng như hiểu một câu chuyện có logic. Nhưng anh tin, trừu tượng sinh ra để cảm trước hết.“Nghệ thuật có cảm thụ và cảm nhận: một dựa vào tri thức, một thuộc về nội tâm. Khi nhìn tranh phi hình, người xem trước hết sẽ cảm xem mình có thích hay không, rồi mới tìm hiểu sâu hơn." Anh học cách nhìn nhận trừu tượng như Willem de Kooning, diễn đạt cảm xúc tức thời, không phụ thuộc logic hình ảnh. Đồng thời, anh cũng chịu ảnh hưởng từ các bậc tiền bối Việt Nam, mang tinh thần Á Đông nhẹ nhàng nhưng trầm sâu. Ở Nhật, điều ấy hiện lên qua nét thơ thẩn, man mác buồn của Huế, hòa cùng triết lý sống kiên nhẫn và nhiệt huyết: “Nếu mình không yêu mình thì không làm được việc gì.” Từng có bốn triển lãm khi mới ra trường, anh lại chấp nhận âm thầm không tổ chức thêm suốt 15 năm. Đây là khoảng lặng cần thiết để “tìm độ chín” cho bản thân. Hiện tại, anh vẫn tiếp tục sáng tác trong cả trực họa lẫn trừu tượng phi hình, chuẩn bị cho những dự án mới. “Một năm tôi quậy mấy trăm bức, nhưng thích được hai bức. Độ chín không nằm ở bề mặt tranh nữa, mà ở bên trong. Riêng với hội họa, tôi không xem đó là nghề hay nghiệp nữa, mà là số phận. Tôi chẳng làm điều gì tốt hơn ngoài việc được sống với hội họa.” Trần Hữu Nhật, Xóm Chài (bãi đá Thuận An - Huế), tranh bột màu trên giấy me, 50 x 79 cm. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ. Anh cũng mong công chúng đừng xem “Nghệ thuật là ánh trăng lừa dối.” Vì với anh, nghệ thuật phải là “ánh sáng của lương tri, ánh sáng của lương tính.” Cái Đẹp (Mỹ) phải đi qua Chân (sự thật) và Thiện (lương thiện), vẹn nguyên tiêu chuẩn “chân - thiện - mỹ” mà anh luôn theo đuổi. Một lý tưởng thú vị, nhưng cũng mở ra những trăn trở còn bỏ ngõ. Liệu Nghệ thuật vẫn nhập nhằng giữa hai vị thế của lương tri và cả… sự lừa dối, cố “làm ngọt” những điều không có thật? Có lẽ không có câu trả lời chính xác, vì dường như "lương tri" của người nghệ sĩ và "sự tỉnh táo" của người thưởng thức sẽ quyết định tác phẩm đó nghiêng về phía ánh sáng hay sự lừa dối, phù hợp với những hỷ, nộ, ái, ố mà mối duyên của họ được hình thành, thông qua tác phẩm. Đôi lời kết Trần Hữu Nhật vẫn luôn trân trọng cái tên “kẻ nghiện Huế,” mang những vẻ đẹp vừa thơ vừa ngộ của cố đô vào từng tác phẩm. Anh vẫn miệt mài tìm kiếm sự “chín” về tâm thức, thử nghiệm với chất liệu, hình thức và nội giới. Và có lẽ, công chúng yêu nghệ thuật rất mong chờ được nhìn thấy và tham dự vào những thực hành thú vị hơn trong lần trở lại sắp tới của anh, với những sáng tác trực họa đong đầy cảm xúc hay trừu tượng phi hình được cảm thụ đa chiều hơn, tiếp tục khai mở những chân trời mới cho nền nghệ thuật Việt Nam đương đại.
Trần Hữu Nhật – “Gọi tôi là người nghiện Huế, tôi đồng ý, vì mê cái lam chiều vi diệu đó mãi”
Nhân một ngày tháng 3 sáng trời mà se lạnh, chúng tôi tranh thủ đến xưởng vẽ của họa sĩ Trần Hữu Nhật, muốn xem những năm qua, khi anh ít xuất hiện, có điều gì đổi khác không. May thay, anh vẫn miệt mài sáng tác, dẫn chúng tôi tham quan xưởng, vừa “quậy màu” vừa trò chuyện. Hóa ra, vẫn là một Trần Hữu Nhật vẫn “nghiện Huế” như vậy. Họa sĩ Trần Hữu Nhật cùng các tác phẩm tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis. Xin chào họa sĩ Trần Hữu Nhật. Cảm ơn anh đã nhận lời tham gia buổi trò chuyện hôm nay. Trước hết, anh có thể chia sẻ đôi chút về xuất thân cũng như tiểu sử nghệ thuật của mình được không ạ? Xin chào. Tôi là Trần Hữu Nhật, sinh năm 1981, quê ở Huế. Hiện tôi là họa sĩ tự do, sống và làm việc tại Huế. Gia đình tôi thì hầu hết đã định cư ở Mỹ, chỉ còn mình tôi ở lại. Tôi thực hành nghệ thuật đương đại, chủ yếu là hội họa giá vẽ. Cơ duyên đến với hội họa chắc là từ…muôn lượng kiếp trước. Từ nhỏ tôi đã bộc lộ năng khiếu, rồi học các lớp năng khiếu ở Cung Thiếu nhi. Những năm đó nuôi dưỡng tình yêu rất lớn dành cho hội họa, nên tôi đi thẳng theo con đường chính thống: thi vào Đại học Nghệ thuật Huế. Tôi học khóa 2000 - 2005. Ra trường, tôi từng dạy lớp cho người yêu hội họa và có tám năm luyện thi cho các em vào trường Mỹ thuật. Nhưng cuối cùng tôi muốn dồn toàn bộ năng lượng cho sáng tác, nên dừng việc dạy và theo đuổi hội họa cho đến bây giờ. Vì sao gần như cả gia đình anh đều định cư ở nước ngoài, nhưng anh lại chọn ở Huế để sống và thực hành nghệ thuật? Tôi hay đùa rằng mình “nghiện Huế”. Hồi mẹ còn sống, tôi cũng sống cùng bà ở đây. Khi bà mất, tôi từng phân vân có nên sang Mỹ ở hẳn với ba và các anh chị hay không. Nhưng rồi tôi chọn chỉ… đi thăm. Ở thì tôi chọn Huế. Với tôi, không nơi nào có được cái “chất liệu cuộc sống” giúp mình tạo nên tác phẩm như hôm nay. Nó thật sự vi diệu. Góc bày tranh và dụng cụ vẽ trực họa cho khung cảnh Điện Hòn Chén của họa sĩ. Nguồn: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Được biết ngoài sáng tác trừu tượng và biểu hình - ý niệm, anh dành khá nhiều thời gian cho trực họa. Vì sao anh lại thường xuyên đi trực họa ở Huế và các vùng lân cận, và vì sao thiên nhiên luôn hiện hữu trong tranh anh mà không thấy chán? Vì đó là niềm đam mê từ thời sinh viên, nên vẽ hoài vẫn mê. Khi đi trực họa, tôi học được rất nhiều, đặc biệt là từ “bậc thầy” lớn nhất: ánh sáng. Trực họa giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan; nó giống như một “trường đại học” rộng lớn hơn bất kỳ lớp học nào. Với tôi, con người không tách rời thiên nhiên. Người, mùa, cảnh vật chứa một vũ trụ quan sống động. Mình nhìn thiên nhiên bằng con mắt vật lý, nhưng thông qua đó, tôi lại chiêm nghiệm và tìm cái “không thấy”. Dù sau này tôi vẽ trừu tượng phi hình, bóng dáng của những tháng năm trực họa vẫn còn trong tranh. Nhân anh nói về dấu vết trực họa trong trừu tượng, vậy tranh của anh là trừu tượng hóa từ hình hay thuần túy trừu tượng, và chúng thiên về biểu hiện hay trữ tình? Tôi vẽ thuần túy trừu tượng, tức phi hình. Nhưng gốc rễ bên trong vẫn đến từ đời sống, từ thiên nhiên. Trong thế giới trừu tượng, tôi diễn dịch mọi thứ bằng giác quan tâm linh như bằng màu sắc, nhịp điệu, cảm xúc và sự vẽ nhanh nhất thời để tạo tác động trực diện về tâm lý. Tôi từng đi qua trừu tượng có hình, rồi trừu tượng trữ tình. Nhưng hiện nay, tranh của tôi phi hình hoàn toàn và không dừng lại ở trữ tình. Tôi muốn đi sâu vào nội giới, những tầng sâu của nỗi buồn, những điều chưa thể lý giải bằng lời, nên phải vẽ. Thế giới đó đôi khi kỳ quặc, khó chấp nhận theo tiêu chuẩn mỹ miều của thị giác.Trong quá trình thực hành hội họa, có trường phái hoặc họa sĩ nào ảnh hưởng đến anh không? Và liệu, anh có nghĩ tác phẩm của mình có thể đối thoại với những cái tên đó không? Tôi đều kính trọng và yêu mến các bậc họa sĩ trong và ngoài nước. Ở Việt Nam, tôi mến mộ trừu tượng của các họa sĩ lớn các miền, như miền Nam là họa sĩ Nguyễn Trung, miền Trung thì của sự họa Vĩnh Phối và Trương Bé, còn miền Bắc sẽ là của họa sĩ Phạm An Hải. Về phía nước ngoài, tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ De Kooning và Jackson Pollock.Thật tâm, tôi chỉ muốn là chính mình. Những ảnh hưởng ấy chỉ là chất xúc tác giúp làm dày thêm kiến thức và nhãn quan. Khi trở về với bản thể, tôi vẽ câu chuyện của riêng mình, vẽ bão lòng, vẽ thế giới nội tâm và tâm linh của tôi. Họa sĩ đang trét màu cho một tác phẩm tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis. Ngoài những dòng tranh trên, với dòng tranh liên văn hóa, anh khởi nguồn từ đâu để chọn các biểu tượng đưa vào tranh? Thỉnh thoảng tôi tham gia các cuộc thi hay sự kiện nghệ thuật, và điều đó khơi gợi cái nhìn riêng về giao lưu văn hóa. Ví dụ như bức Vũ điệu Nongak, vũ điệu dân gian của người Hàn Quốc, tôi vẽ từ ấn tượng Festival Huế 2014. Khi ấy tôi còn vẽ có hình. Nhưng dần dần, tôi bước từ có hình sang phi hình. Điều đó cho thấy yếu tố hàn lâm vẫn rất quan trọng vì suy cho cùng, vẽ có hình đòi hỏi nền tảng hình họa và bảng màu thật vững. Anh đã từng mang sáng tác của mình đến công chúng qua triển lãm cá nhân chưa? Tôi đã có bốn triển lãm cá nhân từ khi mới ra trường, nhưng hơn 15 năm nay chưa có solo trở lại. Một trong những triển lãm đáng nhớ là Lụa của Nhật tại Sài Gòn Biennale và studio Thọ ở Mã Mây. Loạt tranh này mang tinh thần đương đại: lụa không bồi, đề tài đời thường với yếu tố giễu nhại, khá khác với lụa hàn lâm ở trường. Những triển lãm sau đó tôi bày nhiều dòng: Quê hương tôi, hay các thử nghiệm với chất liệu tổng hợp. Có thể nói tôi thuộc về nghệ thuật đương đại. Những solo đầu tiên thiên về tranh có hình, hiện thực và siêu thực. Còn hiện tại, tôi chưa làm triển lãm cá nhân mới vì cảm thấy… chưa đến lúc. Tôi chưa thấy điều gì thật sự mới hoặc đủ thú vị để mở một triển lãm cá nhân. Tôi vẫn đang miệt mài tìm kiếm. Trần Hữu Nhật, một tác phẩm sáng tác thời kỳ Covid. Nguồn: Navigator. Hội họa trừu tượng khởi từ Kandinsky đến nay đã hơn trăm năm, đặc biệt ở phương Tây, và du nhập vào Việt Nam không dưới 70 năm. Nhưng hội họa trừu tượng vẫn là đề tài tranh cãi trong cộng đồng học thuật cũng như công chúng: “Ở Việt Nam có hay không có nghệ thuật trừu tượng?” Anh thấy cái tranh cãi này thế nào? Tất nhiên, tranh cãi đều có căn nguyên. Đa số mọi người muốn hiểu một bức tranh trừu tượng, nhưng theo tôi, trừu tượng không nhằm để hiểu, mà để cảm. Trong nghệ thuật có hai thứ: cảm thụ và cảm nhận. Cảm thụ đòi hỏi kiến thức, còn cảm nhận thuộc về tâm hồn mỗi người, họa sĩ không can thiệp được. Khi nhìn một bức trừu tượng phi hình, tín hiệu thị giác đầu tiên là người xem tự cảm nhận có thích hay không, rồi mới đi tới tìm hiểu và cảm thụ. Tôi nghĩ Việt Nam cũng có một trừu tượng rất riêng. Dù bạn ở đâu, dòng máu Việt tạo ra sự ý nhị, màu sắc, và cách truyền tải trên toan hay giấy vẫn thể hiện rõ cái tảng thể của người Á Đông, người Việt. Với góc độ một nghệ sĩ thực hành hội họa, quan sát đồng nghiệp, anh thấy tranh trừu tượng Việt Nam đã đủ để gọi tên bản sắc riêng chưa? Tôi nghĩ là đủ, thậm chí thừa nội lực. Có thể đi sau, nhưng ai cũng đang tìm kiếm con đường riêng, nhiều thứ rất hay và rất Việt Nam. Bản sắc nằm ở sáng tạo và tinh thần truyền tải trong tác phẩm, không thể mượn đất nước nào khác. Khi nhà sưu tập hay người chơi tranh đến với anh, họ hay mua dòng nào và họ có những đánh giá gì không ạ? Thành thật mà nói, dòng nuôi nghề chính của tôi là tranh trực họa, vì đáp ứng đám đông, thỏa mãn thẩm mỹ thị giác. Nhưng trên hết, bạn phải có tài năng để người ta yêu mến và sưu tập. Tôi chủ yếu vẽ trực họa phong cảnh Huế, và nhận nhiều đánh giá là “vẽ trực họa Huế rất Huế, rất thành công.”Cái “rất Huế” này cũng giúp họ nhận ra tranh Huế của Trần Hữu Nhật, còn cảm nhận chi tiết thì tùy người thôi. Nếu được gói Huế trong hai chữ, tôi chọn “sương khói”. Ở đâu cũng có sương, khói, nhưng khói lam chiều làm Huế man mác buồn mà lộng lẫy. Màu trầm ấm, hoài niệm, đó là tinh thần Huế mà làm tôi nghiện hoài. Họa sĩ phẩy cọ màu trên toan tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis. Vậy các dòng trừu tượng, anh giữ lại để lưu trữ hay sẽ triển lãm cá nhân? Chắc chắn sẽ có triển lãm cá nhân về trừu tượng, nhưng chưa phải lúc này. Tôi cần độ chín, độ sâu trong nội giới. Một năm có thể “quậy” mấy trăm bức, nhưng để thật sự thích đôi khi chỉ hai bức. Tôi không muốn làm ăn sổi, cần độ chín thực sự, không chỉ bề mặt tranh mà cả bên trong suy nghĩ. Bức tranh phải gợi khám phá sâu, không chỉ là chiều cao, chiều rộng 2D. Là họa sĩ có tranh bán chạy như vậy thì thường khách hàng tìm đến tác phẩm của anh thông qua Gallery, hay anh trực tiếp trao đổi với nhà sưu tập? Tôi có cách riêng. Từ khi ra trường chưa từng ký gửi tranh với gallery. Đa số qua bạn bè, giới thiệu, hoặc người yêu thích tranh đến xưởng mua trực tiếp. Giờ đây, nhà sưu tập có nhiều kênh thông tin, họ không cần xem trực tiếp mà vẫn có thể mua tranh giá cao và chuyển khoản ngay. “Thế giới phẳng” và truyền thông giúp nghệ sĩ nhiều. Nhiều người bán tranh online vẫn sống tốt 10 năm dù chưa triển lãm chính thức. Như vậy thì anh nhìn nhận mức độ chuyên nghiệp của thị trường nghệ thuật Việt Nam hiện nay so với khu vực và thế giới như thế nào? Chúng ta sẽ xét về cách thức vận hành như cơ chế luật pháp, mối quan hệ giữa nghệ sĩ, các bên trung gian (Gallery, Art dealer) và nhà sưu tập, bên cạnh câu chuyện về giá cả nhé. Anh thấy cơ chế này ở Việt Nam đã đủ chuyên nghiệp chưa? Tôi thấy thị trường nghệ thuật thế giới có tín hiệu mừng là đang lên. Còn về độ chuyên nghiệp, tôi nghĩ phải cần thêm thời gian. Chỉ riêng về giá, so với nghệ sĩ đương đại ở những nước như Indonesia hay Thái Lan, giá tranh của họ đã cao hơn mình cả nửa. Đó rõ ràng là một điều khiến chúng ta phải chạnh lòng. Còn về cơ chế như bạn đề cập thì tôi nghĩ là cũng đủ rồi. Như tín hiệu mừng tôi vừa nhắc tới là Việt Nam đã và đang có những dự án, những cơ sở, những bước đi rõ ràng, giúp cho thị trường nghệ thuật của mình phát triển hơn rồi. Trần Hữu Nhật, Giấc mơ tĩnh lặng. Nguồn Art Việt Trong tương lai gần, anh có dự định triển lãm cá nhân hay dự án nào không? Chắc chắn. Ai cũng muốn đưa tác phẩm ra công chúng, để họ thấy quá trình sống và thở với nghề. Với tôi, hội họa không còn là nghề, không phải nghiệp, mà là số phận. Tôi không làm tốt điều gì khác ngoài hội họa. Để khép lại buổi trò chuyện hôm nay, anh chia sẻ thêm một chút về quan điểm cá nhân của mình đối với nghệ thuật nhé? Nghệ thuật phải là làm việc hăng say, có trách nhiệm. Tôi không thích câu “nghệ thuật là ánh trăng lừa dối”. Thật ra, nghệ thuật là ánh sáng của lương tri, lương tính. Dù nghệ thuật là cái Đẹp, nhưng cái Đẹp phải đi qua Chân (sự thật) và Thiện (lòng tốt), rồi mới tới Mỹ. Người ta gọi là Chân - Thiện - Mỹ, chứ không phải Mỹ - Chân - Thiện. Mỹ là cuối cùng, phải qua Chân, Thiện mới đạt đến. Cảm ơn anh rất nhiều vì những chia sẻ chân thành này!
