Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Họa sĩ Trần Hữu Nhật cùng các tác phẩm tại xưởng vẽ. Nguồn: NNA Team.

Trần Hữu Nhật – “Gọi tôi là người nghiện Huế, tôi đồng ý, vì mê cái lam chiều vi diệu đó mãi”

Nhân một ngày tháng 3 sáng trời mà se lạnh, chúng tôi tranh thủ đến xưởng vẽ của họa sĩ Trần Hữu Nhật, muốn xem những năm qua, khi anh ít xuất hiện, có điều gì đổi khác không. May thay, anh vẫn miệt mài sáng tác, dẫn chúng tôi tham quan xưởng, vừa “quậy màu” vừa trò chuyện. Hóa ra, vẫn là một Trần Hữu Nhật vẫn “nghiện Huế” như vậy.

Họa sĩ Trần Hữu Nhật cùng các tác phẩm tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis.

Họa sĩ Trần Hữu Nhật cùng các tác phẩm tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis.

Xin chào họa sĩ Trần Hữu Nhật. Cảm ơn anh đã nhận lời tham gia buổi trò chuyện hôm nay. Trước hết, anh có thể chia sẻ đôi chút về xuất thân cũng như tiểu sử nghệ thuật của mình được không ạ?

Xin chào. Tôi là Trần Hữu Nhật, sinh năm 1981, quê ở Huế. Hiện tôi là họa sĩ tự do, sống và làm việc tại Huế. Gia đình tôi thì hầu hết đã định cư ở Mỹ, chỉ còn mình tôi ở lại. Tôi thực hành nghệ thuật đương đại, chủ yếu là hội họa giá vẽ.

Cơ duyên đến với hội họa chắc là từ…muôn lượng kiếp trước. Từ nhỏ tôi đã bộc lộ năng khiếu, rồi học các lớp năng khiếu ở Cung Thiếu nhi. Những năm đó nuôi dưỡng tình yêu rất lớn dành cho hội họa, nên tôi đi thẳng theo con đường chính thống: thi vào Đại học Nghệ thuật Huế. Tôi học khóa 2000 - 2005.

Ra trường, tôi từng dạy lớp cho người yêu hội họa và có tám năm luyện thi cho các em vào trường Mỹ thuật. Nhưng cuối cùng tôi muốn dồn toàn bộ năng lượng cho sáng tác, nên dừng việc dạy và theo đuổi hội họa cho đến bây giờ.

Vì sao gần như cả gia đình anh đều định cư ở nước ngoài, nhưng anh lại chọn ở Huế để sống và thực hành nghệ thuật?

Tôi hay đùa rằng mình “nghiện Huế”. Hồi mẹ còn sống, tôi cũng sống cùng bà ở đây. Khi bà mất, tôi từng phân vân có nên sang Mỹ ở hẳn với ba và các anh chị hay không. Nhưng rồi tôi chọn chỉ… đi thăm. Ở thì tôi chọn Huế. Với tôi, không nơi nào có được cái “chất liệu cuộc sống” giúp mình tạo nên tác phẩm như hôm nay. Nó thật sự vi diệu.

Góc bày tranh và dụng cụ vẽ trực họa cho khung cảnh Điện Hòn Chén của họa sĩ. Nguồn: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.

Góc bày tranh và dụng cụ vẽ trực họa cho khung cảnh Điện Hòn Chén của họa sĩ. Nguồn: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.

Được biết ngoài sáng tác trừu tượng và biểu hình - ý niệm, anh dành khá nhiều thời gian cho trực họa. Vì sao anh lại thường xuyên đi trực họa ở Huế và các vùng lân cận, và vì sao thiên nhiên luôn hiện hữu trong tranh anh mà không thấy chán?

Vì đó là niềm đam mê từ thời sinh viên, nên vẽ hoài vẫn mê. Khi đi trực họa, tôi học được rất nhiều, đặc biệt là từ “bậc thầy” lớn nhất: ánh sáng. Trực họa giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan; nó giống như một “trường đại học” rộng lớn hơn bất kỳ lớp học nào.

Với tôi, con người không tách rời thiên nhiên. Người, mùa, cảnh vật chứa một vũ trụ quan sống động. Mình nhìn thiên nhiên bằng con mắt vật lý, nhưng thông qua đó, tôi lại chiêm nghiệm và tìm cái “không thấy”. Dù sau này tôi vẽ trừu tượng phi hình, bóng dáng của những tháng năm trực họa vẫn còn trong tranh.

Nhân anh nói về dấu vết trực họa trong trừu tượng, vậy tranh của anh là trừu tượng hóa từ hình hay  thuần túy trừu tượng, và chúng thiên về biểu hiện hay trữ tình?

Tôi vẽ thuần túy trừu tượng, tức phi hình. Nhưng gốc rễ bên trong vẫn đến từ đời sống, từ thiên nhiên. Trong thế giới trừu tượng, tôi diễn dịch mọi thứ bằng giác quan tâm linh như bằng màu sắc, nhịp điệu, cảm xúc và sự vẽ nhanh nhất thời để tạo tác động trực diện về tâm lý.

Tôi từng đi qua trừu tượng có hình, rồi trừu tượng trữ tình. Nhưng hiện nay, tranh của tôi phi hình hoàn toàn và không dừng lại ở trữ tình. Tôi muốn đi sâu vào nội giới, những tầng sâu của nỗi buồn, những điều chưa thể lý giải bằng lời, nên phải vẽ. Thế giới đó đôi khi kỳ quặc, khó chấp nhận theo tiêu chuẩn mỹ miều của thị giác.

Trong quá trình thực hành hội họa, có trường phái hoặc họa sĩ nào ảnh hưởng đến anh không? Và liệu, anh có nghĩ tác phẩm của mình có thể đối thoại với những cái tên đó không?

Tôi đều kính trọng và yêu mến các bậc họa sĩ trong và ngoài nước. Ở Việt Nam, tôi mến mộ trừu tượng của các họa sĩ lớn các miền, như miền Nam là họa sĩ Nguyễn Trung, miền Trung thì của sự họa Vĩnh Phối và Trương Bé, còn miền Bắc sẽ là của họa sĩ Phạm An Hải. Về phía nước ngoài, tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ De Kooning và Jackson Pollock.

Thật tâm, tôi chỉ muốn là chính mình. Những ảnh hưởng ấy chỉ là chất xúc tác giúp làm dày thêm kiến thức và nhãn quan. Khi trở về với bản thể, tôi vẽ câu chuyện của riêng mình, vẽ bão lòng, vẽ thế giới nội tâm và tâm linh của tôi.

Họa sĩ đang trét màu cho một tác phẩm tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis.

Ngoài những dòng tranh trên, với dòng tranh liên văn hóa, anh khởi nguồn từ đâu để chọn các biểu tượng đưa vào tranh?

Thỉnh thoảng tôi tham gia các cuộc thi hay sự kiện nghệ thuật, và điều đó khơi gợi cái nhìn riêng về giao lưu văn hóa. Ví dụ như bức Vũ điệu Nongak, vũ điệu dân gian của người Hàn Quốc, tôi vẽ từ ấn tượng Festival Huế 2014. Khi ấy tôi còn vẽ có hình. Nhưng dần dần, tôi bước từ có hình sang phi hình. Điều đó cho thấy yếu tố hàn lâm vẫn rất quan trọng vì suy cho cùng, vẽ có hình đòi hỏi nền tảng hình họa và bảng màu thật vững.

Anh đã từng mang sáng tác của mình đến công chúng qua triển lãm cá nhân chưa?

Tôi đã có bốn triển lãm cá nhân từ khi mới ra trường, nhưng hơn 15 năm nay chưa có solo trở lại. Một trong những triển lãm đáng nhớ là Lụa của Nhật tại Sài Gòn Biennale và studio Thọ ở Mã Mây. Loạt tranh này mang tinh thần đương đại: lụa không bồi, đề tài đời thường với yếu tố giễu nhại, khá khác với lụa hàn lâm ở trường. Những triển lãm sau đó tôi bày nhiều dòng: Quê hương tôi, hay các thử nghiệm với chất liệu tổng hợp.

Có thể nói tôi thuộc về nghệ thuật đương đại. Những solo đầu tiên thiên về tranh có hình, hiện thực và siêu thực. Còn hiện tại, tôi chưa làm triển lãm cá nhân mới vì cảm thấy… chưa đến lúc. Tôi chưa thấy điều gì thật sự mới hoặc đủ thú vị để mở một triển lãm cá nhân. Tôi vẫn đang miệt mài tìm kiếm.

Trần Hữu Nhật, Một tác phẩm sáng tác thời kỳ Covid. Nguồn: Navigator.

Trần Hữu Nhật, một tác phẩm sáng tác thời kỳ Covid. Nguồn: Navigator.

Hội họa trừu tượng khởi từ Kandinsky đến nay đã hơn trăm năm, đặc biệt ở phương Tây, và du nhập vào Việt Nam không dưới 70 năm. Nhưng hội họa trừu tượng vẫn là đề tài tranh cãi trong cộng đồng học thuật cũng như công chúng: “Ở Việt Nam có hay không có nghệ thuật trừu tượng?” Anh thấy cái tranh cãi này thế nào?

Tất nhiên, tranh cãi đều có căn nguyên. Đa số mọi người muốn hiểu một bức tranh trừu tượng, nhưng theo tôi, trừu tượng không nhằm để hiểu, mà để cảm. Trong nghệ thuật có hai thứ: cảm thụ và cảm nhận. Cảm thụ đòi hỏi kiến thức, còn cảm nhận thuộc về tâm hồn mỗi người, họa sĩ không can thiệp được. Khi nhìn một bức trừu tượng phi hình, tín hiệu thị giác đầu tiên là người xem tự cảm nhận có thích hay không, rồi mới đi tới tìm hiểu và cảm thụ.

Tôi nghĩ Việt Nam cũng có một trừu tượng rất riêng. Dù bạn ở đâu, dòng máu Việt tạo ra sự ý nhị, màu sắc, và cách truyền tải trên toan hay giấy vẫn thể hiện rõ cái tảng thể của người Á Đông, người Việt.

Với góc độ một nghệ sĩ thực hành hội họa, quan sát đồng nghiệp, anh thấy tranh trừu tượng Việt Nam đã đủ để gọi tên bản sắc riêng chưa?

Tôi nghĩ là đủ, thậm chí thừa nội lực. Có thể đi sau, nhưng ai cũng đang tìm kiếm con đường riêng, nhiều thứ rất hay và rất Việt Nam. Bản sắc nằm ở sáng tạo và tinh thần truyền tải trong tác phẩm, không thể mượn đất nước nào khác.

Khi nhà sưu tập hay người chơi tranh đến với anh, họ hay mua dòng nào và họ có những đánh giá gì không ạ?

Thành thật mà nói, dòng nuôi nghề chính của tôi là tranh trực họa, vì đáp ứng đám đông, thỏa mãn thẩm mỹ thị giác. Nhưng trên hết, bạn phải có tài năng để người ta yêu mến và sưu tập. Tôi chủ yếu vẽ trực họa phong cảnh Huế, và nhận nhiều đánh giá là “vẽ trực họa Huế rất Huế, rất thành công.”

Cái “rất Huế” này cũng giúp họ nhận ra tranh Huế của Trần Hữu Nhật, còn cảm nhận chi tiết thì tùy người thôi.  Nếu được gói Huế trong hai chữ, tôi chọn “sương khói”. Ở đâu cũng có sương, khói, nhưng khói lam chiều làm Huế man mác buồn mà lộng lẫy. Màu trầm ấm, hoài niệm, đó là tinh thần Huế mà làm tôi nghiện hoài.

Họa sĩ phẩy cọ màu trên toan tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis.

Họa sĩ phẩy cọ màu trên toan tại xưởng vẽ. Nguồn: Artonis.

Vậy các dòng trừu tượng, anh giữ lại để lưu trữ hay sẽ triển lãm cá nhân?

Chắc chắn sẽ có triển lãm cá nhân về trừu tượng, nhưng chưa phải lúc này. Tôi cần độ chín, độ sâu trong nội giới. Một năm có thể “quậy” mấy trăm bức, nhưng để thật sự thích đôi khi chỉ hai bức. Tôi không muốn làm ăn sổi, cần độ chín thực sự, không chỉ bề mặt tranh mà cả bên trong suy nghĩ. Bức tranh phải gợi khám phá sâu, không chỉ là chiều cao, chiều rộng 2D.

Là họa sĩ có tranh bán chạy như vậy thì thường khách hàng tìm đến tác phẩm của anh thông qua Gallery, hay anh trực tiếp trao đổi với nhà sưu tập?

Tôi có cách riêng. Từ khi ra trường chưa từng ký gửi tranh với gallery. Đa số qua bạn bè, giới thiệu, hoặc người yêu thích tranh đến xưởng mua trực tiếp.

Giờ đây, nhà sưu tập có nhiều kênh thông tin, họ không cần xem trực tiếp mà vẫn có thể mua tranh giá cao và chuyển khoản ngay. “Thế giới phẳng” và truyền thông giúp nghệ sĩ nhiều. Nhiều người bán tranh online vẫn sống tốt 10 năm dù chưa triển lãm chính thức.

Như vậy thì anh nhìn nhận mức độ chuyên nghiệp của thị trường nghệ thuật Việt Nam hiện nay so với khu vực và thế giới như thế nào? Chúng ta sẽ xét về cách thức vận hành như cơ chế luật pháp, mối quan hệ giữa nghệ sĩ, các bên trung gian (Gallery, Art dealer) và nhà sưu tập, bên cạnh câu chuyện về giá cả nhé. Anh thấy cơ chế này ở Việt Nam đã đủ chuyên nghiệp chưa?

Tôi thấy thị trường nghệ thuật thế giới có tín hiệu mừng là đang lên. Còn về độ chuyên nghiệp, tôi nghĩ phải cần thêm thời gian. Chỉ riêng về giá, so với nghệ sĩ đương đại ở những nước như Indonesia hay Thái Lan, giá tranh của họ đã cao hơn mình cả nửa. Đó rõ ràng là một điều khiến chúng ta phải chạnh lòng.

Còn về cơ chế như bạn đề cập thì tôi nghĩ là cũng đủ rồi. Như tín hiệu mừng tôi vừa nhắc tới là Việt Nam đã và đang có những dự án, những cơ sở, những bước đi rõ ràng, giúp cho thị trường nghệ thuật của mình phát triển hơn rồi.

Trần Hữu Nhật, Giấc mơ tĩnh lặng. Nguồn Art Việt

Trần Hữu Nhật, Giấc mơ tĩnh lặng. Nguồn Art Việt

Trong tương lai gần, anh có dự định triển lãm cá nhân hay dự án nào không?

Chắc chắn. Ai cũng muốn đưa tác phẩm ra công chúng, để họ thấy quá trình sống và thở với nghề. Với tôi, hội họa không còn là nghề, không phải nghiệp, mà là số phận. Tôi không làm tốt điều gì khác ngoài hội họa.

Để khép lại buổi trò chuyện hôm nay, anh chia sẻ thêm một chút về quan điểm cá nhân của mình đối với nghệ thuật nhé?

Nghệ thuật phải là làm việc hăng say, có trách nhiệm. Tôi không thích câu “nghệ thuật là ánh trăng lừa dối”. Thật ra, nghệ thuật là ánh sáng của lương tri, lương tính. 

Dù nghệ thuật là cái Đẹp, nhưng cái Đẹp phải đi qua Chân (sự thật) và Thiện (lòng tốt), rồi mới tới Mỹ. Người ta gọi là Chân - Thiện - Mỹ, chứ không phải Mỹ - Chân - Thiện. Mỹ là cuối cùng, phải qua Chân, Thiện mới đạt đến.

Cảm ơn anh rất nhiều vì những chia sẻ chân thành này!

Bài trước Bài tiếp theo