Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Trần Hữu Nhật, Xóm Chài (bãi đá Thuận An - Huế), tranh bột màu trên giấy me, 50 x 79 cm. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Trần Hữu Nhật – Rong ruổi đi tìm những điều “chưa lý giải được”

Mấy lọ màu, tấm bạt, bỏ vô ba lô rồi lên con “chiến mã” Cub 50, tới góc nào hay hay là bày đồ ra vẽ. Bảo sao nhắc tới “người hay vẽ vời tại chỗ” ở Huế, cái tên Trần Hữu Nhật nghe quen tai liền. Thể nghiệm từ trực họa đến trừu tượng phi hình, anh vẫn rong ruổi tìm kiếm những điều “chưa lý giải được” từ sâu trong nội tâm của mình, mà vẫn không quên nhắc rằng, bản thân thích được tặng danh hiệu “kẻ nghiện Huế.”

Họa sĩ Trần Hữu Nhật bên tác phẩm “Chim dưới lòng hồ” tại lễ trao giải UOB lần thứ 3 tại Việt Nam. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Họa sĩ Trần Hữu Nhật bên tác phẩm “Chim dưới lòng hồ” tại lễ trao giải UOB lần thứ 3 tại Việt Nam. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Hoài mãi không chán, một bóng hình

Sinh năm 1981 tại Huế, dù gia đình sang Mỹ định cư, Trần Hữu Nhật vẫn chọn ở lại cố đô, nơi anh “nghiện Huế hoài” vì những điều trầm lặng mà vi diệu.

“Nếu được gói Huế trong hai chữ, tôi chọn ‘sương khói’. Ở đâu cũng có sương, khói, nhưng khói lam chiều làm Huế man mác buồn mà lộng lẫy.”

Cơ duyên với vẽ đến rất sớm. Những môn học khác anh khó tiếp thu, chỉ hội họa là nơi anh tìm thấy mình. Từ lớp năng khiếu thiếu nhi đến Đại học Mỹ thuật Huế (2000 - 2005), mọi ngả đường của anh dường như đều đưa về hội họa. Ra trường, anh dạy vẽ tám năm, giúp các em thi vào trường, rồi quyết định dừng hẳn việc dạy, để tập trung cho sáng tác.

“Khi mẹ còn sống, tôi ở cùng bà ở đây. Sau khi bà mất, tôi từng nghĩ đến việc sang Mỹ cùng bố và các anh chị, nhưng cuối cùng tôi chỉ thăm họ thôi. Huế cho tôi ‘chất liệu cuộc sống’ không đâu sánh được.”

Một góc bày tranh và dụng cụ vẽ trực họa nơi cổ tự Từ Hiếu. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Một góc bày tranh và dụng cụ vẽ trực họa nơi cổ tự Từ Hiếu. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Chính mảnh đất ấy, với ánh sáng và sương khói đặc trưng, đã đưa anh đến với dòng trực họa phong cảnh, bước khởi đầu định hình phong cách riêng. Khi trực họa, anh học được ánh sáng, học được nhịp sống và cả những điều tinh tế, nhỏ nhặt mà chỉ trực tiếp chiêm nghiệm mới nhận ra.

“Trực họa giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan; nó giống như một ‘trường đại học’ rộng lớn hơn bất kỳ lớp học nào.”

Điều khiến anh vẫn “hoài không thấy chán” dòng vẽ này còn là sự đón nhận nồng nhiệt từ công chúng, những người đã nhận định tranh anh “chuẩn Huế, rất Huế”. Cái chất “rất Huế” ấy chính là nét nhận diện riêng biệt, làm nên giá trị của tác phẩm..

“Thú thật, nguồn nuôi nghề của tôi chủ yếu là tranh trực họa vì chúng vừa chiều thị hiếu, vừa giàu tính thị giác. Nhưng dù thế nào, nghệ sĩ vẫn phải có nội lực thì người ta mới trân trọng và muốn giữ tranh, còn cảm xúc thì thuộc về mỗi người cảm.”

Một sáng tác của họa sĩ Trần Hữu Nhật. Nguồn: Luxou Vietnam.

Một sáng tác của họa sĩ Trần Hữu Nhật. Nguồn: Luxou Vietnam.

Kể cả khi chuyển sang trừu tượng hay biểu hình ý niệm, thiên nhiên vẫn ẩn dưới những lớp màu, như ký ức không rời. “Nhìn thiên nhiên bằng con mắt vật lý, nhưng tôi tìm cái ‘không thấy’,” anh nói. Sự “nghiện Huế” và những ngày tháng rong ruổi với giá vẽ vẫn âm thầm len vào từng tác phẩm, dù anh có thay đổi ngôn ngữ thị giác đến đâu.

Những cuộc rong ruổi, vẫn kiếm tìm

Hành trình nghệ thuật của Trần Hữu Nhật là một chuỗi những cuộc rong ruổi và thử nghiệm. Từ những nét hiện thực được đào tạo bài bản, anh sớm bứt khỏi khuôn khổ để thử vật liệu thường nhật: rơm rạ, bong bóng, ổ kiến, chén đũa, nhang, vé số… Trong triển lãm “Quê hương tôi” (2006), chất liệu và ý tưởng hòa lại thành những hình ảnh vừa quen vừa lạ.

Sau đó, loạt “tranh lụa không bồi” trong triển lãm “Cười và khóc” (2008) đánh dấu thử nghiệm nổi bật của một cựu sinh viên chuyên khoa Lụa. Thay vì tuân thủ quy chuẩn, anh chọn vẽ lên bề mặt thô mộc, đưa vào những hình ảnh đời sống kèm chút giễu nhại, một cách để tách mình khỏi truyền thống và tìm tiếng nói riêng.

Những tác phẩm vẽ tranh Lụa của hoạ sĩ Trần Hữu Nhật tại triển lãm Cười và khóc (2008). Nguồn: Hanoi Grapevine.

Những tác phẩm vẽ tranh Lụa của hoạ sĩ Trần Hữu Nhật tại triển lãm Cười và khóc (2008). Nguồn: Hanoi Grapevine.

Đến 2011, anh bước vào vùng thử nguy hiểm hơn: tự họa nude bằng than củi, phô bày sự xấu xí và khắc khổ của cơ thể, ý niệm cho việc cảnh báo biến đổi khí hậu toàn cầu, đồng thời khẳng định nghệ thuật nude cần được nhìn nhận văn minh hơn.

Những thử nghiệm ấy, trong bối cảnh Á Đông còn dè dặt và đặc biệt ở Việt Nam, thực sự táo bạo. Xã hội vẫn mất nhiều thời gian để thoát khỏi sự lẫn lộn giữa nghệ thuật và ranh giới nhạy cảm; và câu hỏi đặt ra là liệu thế hệ họa sĩ như anh có tiếp tục mở lối cho cái nhìn cởi mở hơn hay không?

Sau những khúc quanh ấy, anh lựa chọn dấn thân đi sâu vào trừu tượng phi hình, nơi anh có thể trình bày toàn bộ nội giới. “Giống như nhận một tín hiệu từ cõi hư vô… không nói bằng lời được nên tôi vẽ,” anh miêu tả. Anh muốn vẽ những thứ mơ hồ, khó chịu, điều ẩn sâu mà “cái đẹp đèm đẹp” không chạm tới. Tranh của anh, vì vậy, không nhắm vào thị giác mà hướng đến cảm giác.

“Đôi khi tôi không thỏa mãn với chính mình bởi sự đèm đẹp… tôi vẽ bằng nội giới, những tầng sâu nhất của nỗi buồn hoặc những điều chưa lý giải.”

Họa sĩ Trần Hữu Nhật đang trộn màu cho tác phẩm đang sáng tác. Nguồn: Artonis.

Họa sĩ Trần Hữu Nhật đang trộn màu cho tác phẩm đang sáng tác. Nguồn: Artonis.

Đối với họa sĩ, dòng tranh trừu tượng ở Việt Nam vẫn còn lẩn quẩn quanh một kỳ vọng: người xem muốn hiểu trừu tượng như hiểu một câu chuyện có logic. Nhưng anh tin, trừu tượng sinh ra để cảm trước hết.

Nghệ thuật có cảm thụ và cảm nhận: một dựa vào tri thức, một thuộc về nội tâm. Khi nhìn tranh phi hình, người xem trước hết sẽ cảm xem mình có thích hay không, rồi mới tìm hiểu sâu hơn."

Anh học cách nhìn nhận trừu tượng như Willem de Kooning, diễn đạt cảm xúc tức thời, không phụ thuộc logic hình ảnh. Đồng thời, anh cũng chịu ảnh hưởng từ các bậc tiền bối Việt Nam, mang tinh thần Á Đông nhẹ nhàng nhưng trầm sâu. Ở Nhật, điều ấy hiện lên qua nét thơ thẩn, man mác buồn của Huế, hòa cùng triết lý sống kiên nhẫn và nhiệt huyết: “Nếu mình không yêu mình thì không làm được việc gì.”

Từng có bốn triển lãm khi mới ra trường, anh lại chấp nhận âm thầm không tổ chức thêm suốt 15 năm. Đây là khoảng lặng cần thiết để “tìm độ chín” cho bản thân. Hiện tại, anh vẫn tiếp tục sáng tác trong cả trực họa lẫn trừu tượng phi hình, chuẩn bị cho những dự án mới. 

“Một năm tôi quậy mấy trăm bức, nhưng thích được hai bức. Độ chín không nằm ở bề mặt tranh nữa, mà ở bên trong. Riêng với hội họa, tôi không xem đó là nghề hay nghiệp nữa, mà là số phận. Tôi chẳng làm điều gì tốt hơn ngoài việc được sống với hội họa.”

Trần Hữu Nhật, Xóm Chài (bãi đá Thuận An - Huế), tranh bột màu trên giấy me, 50 x 79 cm. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Trần Hữu Nhật, Xóm Chài (bãi đá Thuận An - Huế), tranh bột màu trên giấy me, 50 x 79 cm. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Anh cũng mong công chúng đừng xem “Nghệ thuật là ánh trăng lừa dối.” Vì với anh, nghệ thuật phải là “ánh sáng của lương tri, ánh sáng của lương tính.” Cái Đẹp (Mỹ) phải đi qua Chân (sự thật) và Thiện (lương thiện), vẹn nguyên tiêu chuẩn “chân - thiện - mỹ” mà anh luôn theo đuổi.

Một lý tưởng thú vị, nhưng cũng mở ra những trăn trở còn bỏ ngõ. Liệu Nghệ thuật vẫn nhập nhằng giữa hai vị thế của lương tri và cả… sự lừa dối, cố “làm ngọt” những điều không có thật? Có lẽ không có câu trả lời chính xác, vì dường như "lương tri" của người nghệ sĩ và "sự tỉnh táo" của người thưởng thức sẽ quyết định tác phẩm đó nghiêng về phía ánh sáng hay sự lừa dối, phù hợp với những hỷ, nộ, ái, ố mà mối duyên của họ được hình thành, thông qua tác phẩm.

Đôi lời kết

Trần Hữu Nhật vẫn luôn trân trọng cái tên “kẻ nghiện Huế,” mang những vẻ đẹp vừa thơ vừa ngộ của cố đô vào từng tác phẩm. Anh vẫn miệt mài tìm kiếm sự “chín” về tâm thức, thử nghiệm với chất liệu, hình thức và nội giới. 

Và có lẽ, công chúng yêu nghệ thuật rất mong chờ được nhìn thấy và tham dự vào những thực hành thú vị hơn trong lần trở lại sắp tới của anh, với những sáng tác trực họa đong đầy cảm xúc hay trừu tượng phi hình được cảm thụ đa chiều hơn, tiếp tục khai mở những chân trời mới cho nền nghệ thuật Việt Nam đương đại.

Bài trước Bài tiếp theo