Từ những thử nghiệm đầu tiên trong xưởng vẽ, cú sốc định mệnh tưởng chừng chấm dứt tất cả ở tuổi 30, cho đến sự kiên định kiến tạo ngôn ngữ riêng, đó là hành trình Phạm An Hải mang hơi thở Hà Nội vào vũ điệu của màu sắc, biến chúng thành hiện thực của trạng thái và nhịp điệu của “đời trừu tượng”.

Phạm An Hải, Bốn mùa, tranh sơn dầu, 120 x 240 cm. Nguồn: Chuyên mục Tác phẩm của họa sĩ Phạm An Hải, được đăng trên trang Green Palm Gallery.
Những mảng màu từng vỡ
Phạm An Hải sinh năm 1967 tại Hà Nội, trong một gia đình có nền văn hóa lâu đời. Tổ tiên ông, cụ Phạm Đình Hồ, từng là hiệu trưởng đầu tiên của Văn Miếu Quốc Tử Giám. Những buổi sáng sương mờ quanh hồ, tiếng rao vặt, sắc nâu của những ngôi nhà gỗ, “chất Hà Nội” ấy dường như đã ngấm vào cách ông nhìn thế giới. Ông theo học và tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam năm 1995, bảo vệ luận văn Thạc sĩ năm 2006. Vẽ, với ông, là cách nói năng tự nhiên của tâm hồn.
Những năm đầu thập niên 1990, mỹ thuật Việt vẫn bị bao phủ bởi Hiện thực và Ấn tượng. Trừu tượng gần như là “miền cấm”, xa lạ với cả giới sáng tác lẫn công chúng. Trong bối cảnh đó, Phạm An Hải chọn lối đi riêng, một sự dám khác biệt hiếm thấy ở tuổi hai mươi.
Cơ duyên gặp họa sĩ Đỗ Minh Tâm, người tiên phong thực hành Trừu tượng ở Việt Nam, đã định hướng mạnh mẽ cho ông. “May mắn là tôi được vẽ chung xưởng với thầy, coi như anh em, và từ đó tôi cảm nhận được sự tự do trong cách vẽ của mình,” ông kể. “Dù tôi vẽ nhiều thứ, nhưng tôi thấy trừu tượng mới là phong cách giúp tôi thể hiện cảm xúc rõ ràng và sâu sắc nhất.”

Họa sĩ Phạm An Hải bên tác phẩm. Nguồn: Bài viết Tìm hiểu sự nghiệp họa sĩ Phạm An Hải và những giải thưởng của ông, được đăng trên trang Viet China Business.
Sau hai năm giảng dạy, ông nghỉ việc để chọn con đường chỉ có màu và cảm xúc. Giai đoạn 1988 - 1992, ông thử nghiệm Hiện thực biểu hiện như một bước “khởi động” để hiểu chất liệu. Nhưng từ 1992, ông bắt đầu thử nghiệm trừu tượng, chịu ảnh hưởng từ nhạc jazz, thứ âm nhạc “tự do nhưng có trật tự” mà ông yêu đến say.
Năm 1997, tai họa ập đến khi họa sĩ bị tấn công, chấn thương nặng ở mắt phải, tưởng chừng không thể vẽ. “Buồn vì người tấn công mình chỉ một, nhưng buồn vì sợ không còn vẽ được là mười,” ông từng chia sẻ. Trong những tháng dài điều trị, ông sống giữa ranh giới sáng - tối, giữa những mảng màu vỡ ra. Giai đoạn này, ông quay lại Biểu hiện để lột tả nội tâm dữ dội, đối diện với biến cố quá lớn ở tuổi 30.
Sau điều trị, ông trở lại với sức sáng tạo mạnh mẽ hơn. Cuối năm 1998, ông tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên tại Nam Sơn Gallery, đánh dấu một bản thể tái sinh trong dòng tranh trừu tượng chuyên nghiệp. Thời điểm đó, khủng hoảng kinh tế châu Á khiến thị trường nghệ thuật trầm lắng, dòng tranh này gần như không ai mua. Vậy mà triển lãm lại thành công bất ngờ: ông bán được gần hai mươi tác phẩm. Một phóng viên Hà Lan tình cờ ghé xem, rồi viết bài đăng báo Amsterdam, mở ra cơ duyên giúp công chúng quốc tế biết đến ông. “Từ đó, tôi được các gallery nước ngoài mời hợp tác và có thể sống được bằng nghề,” ông kể, giọng vẫn giữ chút ngạc nhiên và trân trọng nào đó sau bao năm.

Phạm An Hải, Incandescent rays of the sun, acrylic trên toan, 136.5 x 253.5 cm, 2016. Nguồn: Bài viết Họa sĩ Triệu đô Phạm An Hải: Bước đi mới lạ, đích đến thành công, được đăng trên trang Le House Art.
Những năm 2000, anh đi qua Bangkok, Hồng Kông, Singapore, London, rồi lại trở về Hà Nội. Dù ở đâu, hơi thở của những góc phố thân quen vẫn nằm trong tranh anh: những gam xám pha nâu, khoảng sáng loang như sương, vừa cũ vừa mới. Năm 2015 - 2016, tác phẩm của anh được Sotheby’s giới thiệu trong nhóm 20 họa sĩ trừu tượng tiêu biểu Đông Nam Á, một sự ghi nhận xứng đáng cho người bền bỉ đi gần ba mươi năm trên con đường ít người chọn.
Cảm xúc là hiện thực
“Trừu tượng, với tôi, đơn giản là hiện thực của cảm xúc, đánh thức tàng thức của người xem.”
Theo đuổi sự duy mỹ, tìm kiếm cái đẹp đích thực, thậm chí là cái “khó xem” nhưng có tiếng nói tự thân, là quan điểm xuyên suốt của anh. Anh không cố tình “làm khó người xem”, mà coi ngôn ngữ phi hình thể như cách diễn đạt trung thực nhất cho điều không thể nói bằng lời. Mỗi bức tranh là bản nhạc thị giác, có nhịp, có cao trào, có khoảng lặng. “Trừu tượng có nhiệm vụ kép: màu giải quyết tình cảm, cấu trúc giải quyết nhịp điệu,” anh chia sẻ.
Anh tin người xem bằng trực giác sẽ cảm nhận được năng lượng trong tranh, như cảm một bản nhạc dù không hiểu nhạc lý. Có lẽ thế, những góc phố Hà Nội, hơi nước ấm trong buổi trà sáng, hay cơn mưa bất chợt… đều có thể thành chất liệu. Nghệ thuật của anh không tách rời khỏi đời sống. Phong cảnh không còn để mô tả, mà là cái cớ để giải phóng năng lượng màu và nhịp điệu.

Phạm An Hải, Dream Life. Nguồn: Bài viết về Phạm An Hải, được đăng trên trang Nguyen Art Foundation.
Bên cạnh phong cảnh, loạt tranh chọn ấm trà làm motif sáng tác là một nét đặc trưng. Ấm trà không chỉ là biểu tượng văn hóa và thiền định đậm chất Á Đông, mà còn là hình ảnh phản chiếu nội tâm của họa sĩ. Anh từng đùa rằng mình như chiếc ấm “mong manh, dễ vỡ, dễ bị lãng quên”. Trong nụ cười hiền ấy vẫn ẩn nỗi niềm của người chứng kiến sự mai một của văn hóa trà Việt. Motif này trở thành phương tiện để anh trò chuyện với bản thân. Cách chuyển hóa của anh là đưa ấm trà vào trừu tượng như một biểu tượng hình học tối giản, một vết mực rơi nhẹ vào mặt hồ, hòa cùng những vòng tròn rung động của màu sắc.
“Tôi vẽ theo lối từ phong cảnh hiện thực mà ra, tức là khái quát hình... và theo trạng thái xúc cảm của mình nhiều hơn.”
Từ biến cố 1997, anh mang trong mình sự trầm lắng, nhưng không bi lụy. Giai đoạn ấy định hình phong cách: nét cọ mạnh, lớp sơn dày, bảng màu mộng mơ nhưng chứa độ sâu nội tâm. Tranh của anh mang “tinh thần chân thật”, thứ khiến người ta không thấy sự cố ý, chỉ thấy niềm tin nhất quán.
Nếu Pollock giải phóng hành vi, Kandinsky truy cầu tâm linh, thì Phạm An Hải lại đi theo hướng riêng với “trừu tượng tiết tấu”, nơi cảm xúc và trực giác Á Đông hòa vào cấu trúc chặt chẽ của màu và nhịp. Anh không xem hội họa là cuộc chơi lý thuyết, mà như một cuộc đối diện với chính ngôn ngữ mình đã chọn.
“Mình luôn luôn, khi đối diện với một bức tranh, thì suy nghĩ xem người ta đặt vấn đề như thế nào, giải quyết ra sao. Và mình học từ chính điều đó, để thể hiện cảm xúc của mình.”

Phạm An Hải, Dưới mặt nước, tranh acrylic, 100 x 200 cm. Nguồn: Bài viết Phạm An Hải - Trừu tượng của giai điệu và tiết tấu trong vòng xoáy thị giác, được đăng trên trang Tạp chí mỹ thuật.
Chính sự “đối diện” ấy khiến mỗi bức tranh làm người xem không rõ nó kể điều gì, nhưng vẫn đứng lại thật lâu, giữa màu và nhịp, giữa một thứ không thể gọi tên từ trong tiềm thức.
Nhà sử học nghệ thuật Shireen Naziree từng nhận xét: “Hà Nội của Hải gợi mở sự suy đoán thông qua sự căng thẳng tự sự hiếm thấy trong trừu tượng, một căng thẳng mang lại sức hấp dẫn khó giải mã.”
Phạm An Hải không ngừng học hỏi, không ngại thừa nhận ảnh hưởng, nhưng càng đi, anh càng tìm thấy giọng riêng. Bởi chính việc “học từ người khác để biểu đạt cảm xúc của mình” khiến anh luôn là chính mình, một người vẽ không vì khái niệm, mà vì nhu cầu biểu đạt thành thật nhất.
Và cũng từ tinh thần ấy, anh xem nghệ thuật là hành trình dài hơi: “Nếu anh không vẽ nổi vài chục bức thì không có đường. Như Lỗ Tấn từng nói, ‘Trên thế giới không có đường, đi mãi thì thành đường’, trừu tượng cũng vậy thôi.”
Tin bài liên quan
Phạm An Hải – Cảm xúc, bước ngoặt và những giai điệu (Kỳ 2)
Hành trình sáng tác của họa sĩ Phạm An Hải luôn đan cài giữa lý tính phương Tây và cảm giác Á Đông, nuôi dưỡng ông trong tâm thế người đi trước, kết nối các thế hệ và trong khát vọng tạo ra những tác phẩm có khả năng ‘ở lại’, đi cùng thời gian. Vẽ để “ở lại” Phạm An Hải là một trong số ít họa sĩ Việt Nam quốc tế hóa thành công hội họa trừu tượng, tạo dựng phong cách riêng bằng sự trung thực cảm xúc và bảng màu nhiệt đới rực rỡ. Nhà nghiên cứu Phạm Long từng nhận xét: “Bảng màu của Phạm An Hải ‘ngon’, bố cục vững vàng, bút pháp điêu luyện, vẽ kỹ lưỡng và tình cảm, tranh có chiều sâu không gian, cách đặt tên khơi gợi… nên dễ thu hút người xem, giới sưu tập.” Trong bối cảnh cuối thập niên 1990, khi nhiều họa sĩ cùng thời như Bùi Hữu Hùng, Nguyễn Thanh Bình vẫn trung thành với hình tượng và hiện thực, Phạm An Hải lại chọn một lối đi khác: tiên phong theo đuổi trừu tượng thuần túy, theo tinh thần “cấu trúc như cảm xúc”. Đó không chỉ là lựa chọn ngôn ngữ riêng, mà còn là sự dấn thân vào vùng chưa ai khai phá của mỹ thuật Việt lúc bấy giờ. Phạm An Hải, Sen mùa hạ, acrylic trên vải, 50 x 70 cm. Nguồn: Bài viết Chiêm ngưỡng 20 bức tranh sắp được đấu giá ủng hộ người dân vùng lũ, được đăng trên Báo Tiền Phong. Sẽ không nói quá khi nhận xét Phạm An Hải là họa sĩ hiếm hoi dung hòa được hai nguồn năng lượng tưởng như đối lập trong hội họa trừu tượng thế kỷ 20, khi ông thể hiện đồng thời tính cấu trúc hình học (rational abstraction) và tính biểu hiện cảm xúc (abstract expressionism) trong sáng tác của mình. Ông tiếp nhận tinh thần Piet Mondrian, người trừu tượng hóa cảnh vật thành trật tự nghiêm cẩn của những đường ngang dọc. Nhưng nếu Mondrian đi đến lạnh và lý tính, thì Phạm An Hải lại chọn hướng ngược lại. Ông khiến cấu trúc ấy chuyển động, tạo nên một thứ ‘trừu tượng khí hậu’, đượm hơi nóng và ánh sáng mờ của Hà Nội. Những loạt tranh như Phong cảnh hay Ấm trà trừu tượng thể hiện rõ tinh thần Á Đông ấy. Sau những năm đầu nghiêng về cấu trúc, ông bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nhịp điệu và cảm xúc nội tại của hình, của màu. Việc tìm hiểu các danh họa như Mark Rothko, Franz Kline hay Willem de Kooning mở ra cho ông một không gian tự do mới. Ông từng “mê mẩn lắm” loạt Woman I, Woman II của De Kooning, để rồi từ đó tìm ra cách sắp xếp mảng màu và nhịp điệu riêng. Phạm An Hải, Không giới hạn III, tranh sơn dầu, 136 x 105 cm. Nguồn: Chuyên mục Tác phẩm của họa sĩ Phạm An Hải, được đăng trên trang Green Palm Gallery. Nếu các bậc thầy phương Tây dùng trừu tượng để giải phóng năng lượng bản năng, thì ông lại điều tiết nó, cho nó tan vào dòng chảy vừa tĩnh, vừa dữ dội mà vẫn giữ nét Á Đông. Biến cố thị giác năm 1997, khi nhìn lại, như một chất xúc tác khiến mọi khung cảnh được “nhìn bằng ký ức”, hình khối trên toan biến dạng như đang đợi được bộc bạch những điều vụn vỡ, một thứ trừu tượng cảm giác mang dấu ấn Phạm An Hải. Các tác phẩm của ông từng được đấu giá tại Sotheby’s Hong Kong năm 2016, cùng phiên với những tên tuổi như Affandi và Fernando Zóbel, điều này minh chứng cho vị thế của ông trong dòng trừu tượng Đông Nam Á. Nhưng đằng sau vinh danh đó là một nghệ sĩ không ngừng hoàn thiện. Họa sĩ Phan Thiết từng nhận xét:“Phạm An Hải liên tục trải nghiệm nghề qua các chuyến đi quốc tế để học hỏi, đồng thời tự sàng lọc và tìm kiếm bút pháp riêng. Tranh trừu tượng của Hải dễ xem, dễ cảm, dễ rung động, vì không thiên về lý tính hay cảm tính mà khơi gợi cảm xúc trực tiếp. Hải cũng khéo léo gắn chủ đề cho tranh, pha trộn tinh tế yếu tố Đông - Tây, vừa có tính phổ quát, vừa mang nét riêng.” Với Phạm An Hải, một bức tranh được xem là “lớn” phải có nhiều tầng giá trị, từ triết học, tư tưởng, giáo dục, thẩm mỹ, đến khả năng đánh thức điều bị lãng quên trong tâm trí người xem. Ông cho rằng cái “lớn” không nằm ở kích thước hay độ ồn ào, mà ở chiều sâu trải nghiệm và sức bền của thời gian: “Một tác phẩm lớn phải có giá trị của lịch sử, của thời gian.” Đó cũng là thước đo cho hành trình sáng tác của ông: không chạy theo thị hiếu tức thời, mà hướng đến giá trị bền vững, để mỗi bức tranh đều “ở lại” trong tâm trí người xem. Từ quan niệm ấy, Phạm An Hải mở rộng tầm nhìn khi sáng lập Viet Art Now, cộng đồng nghệ thuật tự do, nơi nghệ sĩ chia sẻ, lan tỏa tư tưởng sáng tạo và đưa nghệ thuật đến gần công chúng hơn. Một góc trưng bày các tác phẩm của các nghệ sĩ thành viên Viet Art Now trong Triển lãm Tỏa. Nguồn: Bài viết Họa sỹ Phạm An Hải: Mỹ thuật trẻ, TỎA và Viet Art Now, được đăng trên Hanoi Grapevine. Đi đường dài cùng cốt cách văn hóa Năm 2016, nhóm Viet Art Now ra đời với vai trò “cầu nối” và “giải quyết khoảng cách” cho nghệ sĩ trẻ. Trang được lập với tinh thần “rất mở và nhẹ nhàng”, cũng là cách ông nhìn đời. Mục tiêu là giới thiệu tác phẩm mới có chọn lọc, giúp người xem hiểu thêm về nghệ thuật đương đại Việt Nam qua những bài viết ngắn, dễ hiểu; đồng thời trở thành “bộ lọc đầu tiên” phát hiện tài năng. Người mua có thể tiếp cận trực tiếp với nghệ sĩ, không qua trung gian, không mất phụ phí, một nỗ lực phi lợi nhuận nhằm bảo đảm công bằng và giá trị thực cho người sáng tác. Với ông, đó là cách thế hệ trước “chung tay xây dựng nghệ thuật Việt đương đại”, không bằng lý thuyết mà bằng hành động cụ thể. Từ đây, các họa sĩ theo đuổi nhiều trường phái khác nhau có cơ hội đến gần hơn với công chúng, điều mà ông từng tâm niệm khi còn trẻ. Ông tin rằng nghệ thuật chỉ thực sự sống khi người xem không còn “cố hiểu tác giả vẽ gì”, mà để bản thân được thả lỏng, cảm nhận năng lượng và nhịp điệu của tranh. Chính điều đó khiến hội họa trừu tượng trở nên gần gũi, không còn là thứ “khó hiểu” như định kiến xưa. Mỹ thuật trừu tượng Việt cũng dần ấm lên, hình thành trào lưu khắp nơi, khuyến khích thử nghiệm cá nhân của nhiều nghệ sĩ trẻ. Tuy vậy, Phạm An Hải không ngại chỉ ra mặt trái của tốc độ sống nhanh, mạng xã hội và nhu cầu “đáp ứng thị giác tức thì” khiến không ít người trẻ sa vào lối sáng tác “mì ăn liền”. Người xem nay chủ yếu dừng lại trước tranh vài phút, chụp ảnh check-in, kéo theo nghệ sĩ cũng “làm nhanh để được xem nhanh”. Phạm An Hải, Year of the pig, tranh sơn dầu trên vải, 40 x 50cm. Nguồn: Bộ sưu tập trưng bày tác phẩm Phạm An Hải trên trang Le Art House. Với ông, nghệ thuật chân chính không thể chỉ dựa vào ý tưởng hay hình thức, mà phải bắt nguồn từ chiều sâu tư duy và nền tảng văn hóa. “Sống vội để kịp nhịp” khiến nghệ thuật Việt đôi khi bị nhìn nhận là mới dừng ở Hậu hiện đại, chưa đạt đến tính Đương đại thật sự. Muốn đi xa hơn, nghệ sĩ Việt cần hiểu căn cốt văn hóa của mình. “Nếu thừa nhận nguồn gốc văn hóa của mình, chúng ta không kém về chiều sâu. Trung Quốc có 4.000 năm lịch sử, Mỹ chỉ hơn 200 năm, nhưng họ vẫn tạo ra nghệ thuật vĩ đại vì hiểu rõ bản sắc và biết cách kể lại nó. Nghệ sĩ Việt cũng cần như vậy, cần hiểu nền tảng triết học, lịch sử và văn hóa của chính mình.” Quan điểm của họa sĩ cũng rất rõ ràng: chỉ khi người nghệ sĩ biết mình đang đứng ở đâu trong dòng lịch sử nghệ thuật Việt Nam, họ mới thật sự tạo ra cái mới, chứ không chỉ mô phỏng cái mới của người khác. Theo ông, để có tác phẩm lớn, người nghệ sĩ cần những “khoảng lặng” đủ dài để tư duy, nghiền ngẫm, hiểu bản thân và chất liệu mình chọn. Nghệ thuật, với ông, phải được xây trên chiều sâu triết học, sự lặng lẽ chiêm nghiệm và trách nhiệm tư tưởng. Đôi lời kết Phạm An Hải là một trong những họa sĩ tiên phong của Việt Nam theo đuổi trừu tượng thuần túy từ thập niên 1990, mang những tâm tư nhòa trong lớp màu loang, lưu lại những chuyển động của Hà Nội qua những cảnh vật, cả những ấm trà, tách sứ mang hoài niệm của cuộc đời. Trong vai trò người mở đường, anh vẫn giữ sự tỉnh táo và chiêm nghiệm trước dòng chảy nghệ thuật mới. Với anh, nghệ thuật đích thực cần đầu tư chiều sâu triết lý, căn cốt văn hóa - những điều dễ bị lãng quên, nhưng chính là cốt lõi làm nên tầm vóc của một nghệ sĩ lớn.
Phạm An Hải – Cảm xúc, bước ngoặt và những giai điệu (Kỳ 1)
Từ những thử nghiệm đầu tiên trong xưởng vẽ, cú sốc định mệnh tưởng chừng chấm dứt tất cả ở tuổi 30, cho đến sự kiên định kiến tạo ngôn ngữ riêng, đó là hành trình Phạm An Hải mang hơi thở Hà Nội vào vũ điệu của màu sắc, biến chúng thành hiện thực của trạng thái và nhịp điệu của “đời trừu tượng”. Phạm An Hải, Bốn mùa, tranh sơn dầu, 120 x 240 cm. Nguồn: Chuyên mục Tác phẩm của họa sĩ Phạm An Hải, được đăng trên trang Green Palm Gallery. Những mảng màu từng vỡ Phạm An Hải sinh năm 1967 tại Hà Nội, trong một gia đình có nền văn hóa lâu đời. Tổ tiên ông, cụ Phạm Đình Hồ, từng là hiệu trưởng đầu tiên của Văn Miếu Quốc Tử Giám. Những buổi sáng sương mờ quanh hồ, tiếng rao vặt, sắc nâu của những ngôi nhà gỗ, “chất Hà Nội” ấy dường như đã ngấm vào cách ông nhìn thế giới. Ông theo học và tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam năm 1995, bảo vệ luận văn Thạc sĩ năm 2006. Vẽ, với ông, là cách nói năng tự nhiên của tâm hồn. Những năm đầu thập niên 1990, mỹ thuật Việt vẫn bị bao phủ bởi Hiện thực và Ấn tượng. Trừu tượng gần như là “miền cấm”, xa lạ với cả giới sáng tác lẫn công chúng. Trong bối cảnh đó, Phạm An Hải chọn lối đi riêng, một sự dám khác biệt hiếm thấy ở tuổi hai mươi. Cơ duyên gặp họa sĩ Đỗ Minh Tâm, người tiên phong thực hành Trừu tượng ở Việt Nam, đã định hướng mạnh mẽ cho ông. “May mắn là tôi được vẽ chung xưởng với thầy, coi như anh em, và từ đó tôi cảm nhận được sự tự do trong cách vẽ của mình,” ông kể. “Dù tôi vẽ nhiều thứ, nhưng tôi thấy trừu tượng mới là phong cách giúp tôi thể hiện cảm xúc rõ ràng và sâu sắc nhất.” Họa sĩ Phạm An Hải bên tác phẩm. Nguồn: Bài viết Tìm hiểu sự nghiệp họa sĩ Phạm An Hải và những giải thưởng của ông, được đăng trên trang Viet China Business. Sau hai năm giảng dạy, ông nghỉ việc để chọn con đường chỉ có màu và cảm xúc. Giai đoạn 1988 - 1992, ông thử nghiệm Hiện thực biểu hiện như một bước “khởi động” để hiểu chất liệu. Nhưng từ 1992, ông bắt đầu thử nghiệm trừu tượng, chịu ảnh hưởng từ nhạc jazz, thứ âm nhạc “tự do nhưng có trật tự” mà ông yêu đến say. Năm 1997, tai họa ập đến khi họa sĩ bị tấn công, chấn thương nặng ở mắt phải, tưởng chừng không thể vẽ. “Buồn vì người tấn công mình chỉ một, nhưng buồn vì sợ không còn vẽ được là mười,” ông từng chia sẻ. Trong những tháng dài điều trị, ông sống giữa ranh giới sáng - tối, giữa những mảng màu vỡ ra. Giai đoạn này, ông quay lại Biểu hiện để lột tả nội tâm dữ dội, đối diện với biến cố quá lớn ở tuổi 30. Sau điều trị, ông trở lại với sức sáng tạo mạnh mẽ hơn. Cuối năm 1998, ông tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên tại Nam Sơn Gallery, đánh dấu một bản thể tái sinh trong dòng tranh trừu tượng chuyên nghiệp. Thời điểm đó, khủng hoảng kinh tế châu Á khiến thị trường nghệ thuật trầm lắng, dòng tranh này gần như không ai mua. Vậy mà triển lãm lại thành công bất ngờ: ông bán được gần hai mươi tác phẩm. Một phóng viên Hà Lan tình cờ ghé xem, rồi viết bài đăng báo Amsterdam, mở ra cơ duyên giúp công chúng quốc tế biết đến ông. “Từ đó, tôi được các gallery nước ngoài mời hợp tác và có thể sống được bằng nghề,” ông kể, giọng vẫn giữ chút ngạc nhiên và trân trọng nào đó sau bao năm. Phạm An Hải, Incandescent rays of the sun, acrylic trên toan, 136.5 x 253.5 cm, 2016. Nguồn: Bài viết Họa sĩ Triệu đô Phạm An Hải: Bước đi mới lạ, đích đến thành công, được đăng trên trang Le House Art. Những năm 2000, anh đi qua Bangkok, Hồng Kông, Singapore, London, rồi lại trở về Hà Nội. Dù ở đâu, hơi thở của những góc phố thân quen vẫn nằm trong tranh anh: những gam xám pha nâu, khoảng sáng loang như sương, vừa cũ vừa mới. Năm 2015 - 2016, tác phẩm của anh được Sotheby’s giới thiệu trong nhóm 20 họa sĩ trừu tượng tiêu biểu Đông Nam Á, một sự ghi nhận xứng đáng cho người bền bỉ đi gần ba mươi năm trên con đường ít người chọn. Cảm xúc là hiện thực “Trừu tượng, với tôi, đơn giản là hiện thực của cảm xúc, đánh thức tàng thức của người xem.” Theo đuổi sự duy mỹ, tìm kiếm cái đẹp đích thực, thậm chí là cái “khó xem” nhưng có tiếng nói tự thân, là quan điểm xuyên suốt của anh. Anh không cố tình “làm khó người xem”, mà coi ngôn ngữ phi hình thể như cách diễn đạt trung thực nhất cho điều không thể nói bằng lời. Mỗi bức tranh là bản nhạc thị giác, có nhịp, có cao trào, có khoảng lặng. “Trừu tượng có nhiệm vụ kép: màu giải quyết tình cảm, cấu trúc giải quyết nhịp điệu,” anh chia sẻ. Anh tin người xem bằng trực giác sẽ cảm nhận được năng lượng trong tranh, như cảm một bản nhạc dù không hiểu nhạc lý. Có lẽ thế, những góc phố Hà Nội, hơi nước ấm trong buổi trà sáng, hay cơn mưa bất chợt… đều có thể thành chất liệu. Nghệ thuật của anh không tách rời khỏi đời sống. Phong cảnh không còn để mô tả, mà là cái cớ để giải phóng năng lượng màu và nhịp điệu. Phạm An Hải, Dream Life. Nguồn: Bài viết về Phạm An Hải, được đăng trên trang Nguyen Art Foundation. Bên cạnh phong cảnh, loạt tranh chọn ấm trà làm motif sáng tác là một nét đặc trưng. Ấm trà không chỉ là biểu tượng văn hóa và thiền định đậm chất Á Đông, mà còn là hình ảnh phản chiếu nội tâm của họa sĩ. Anh từng đùa rằng mình như chiếc ấm “mong manh, dễ vỡ, dễ bị lãng quên”. Trong nụ cười hiền ấy vẫn ẩn nỗi niềm của người chứng kiến sự mai một của văn hóa trà Việt. Motif này trở thành phương tiện để anh trò chuyện với bản thân. Cách chuyển hóa của anh là đưa ấm trà vào trừu tượng như một biểu tượng hình học tối giản, một vết mực rơi nhẹ vào mặt hồ, hòa cùng những vòng tròn rung động của màu sắc. “Tôi vẽ theo lối từ phong cảnh hiện thực mà ra, tức là khái quát hình... và theo trạng thái xúc cảm của mình nhiều hơn.” Từ biến cố 1997, anh mang trong mình sự trầm lắng, nhưng không bi lụy. Giai đoạn ấy định hình phong cách: nét cọ mạnh, lớp sơn dày, bảng màu mộng mơ nhưng chứa độ sâu nội tâm. Tranh của anh mang “tinh thần chân thật”, thứ khiến người ta không thấy sự cố ý, chỉ thấy niềm tin nhất quán. Nếu Pollock giải phóng hành vi, Kandinsky truy cầu tâm linh, thì Phạm An Hải lại đi theo hướng riêng với “trừu tượng tiết tấu”, nơi cảm xúc và trực giác Á Đông hòa vào cấu trúc chặt chẽ của màu và nhịp. Anh không xem hội họa là cuộc chơi lý thuyết, mà như một cuộc đối diện với chính ngôn ngữ mình đã chọn. “Mình luôn luôn, khi đối diện với một bức tranh, thì suy nghĩ xem người ta đặt vấn đề như thế nào, giải quyết ra sao. Và mình học từ chính điều đó, để thể hiện cảm xúc của mình.” Phạm An Hải, Dưới mặt nước, tranh acrylic, 100 x 200 cm. Nguồn: Bài viết Phạm An Hải - Trừu tượng của giai điệu và tiết tấu trong vòng xoáy thị giác, được đăng trên trang Tạp chí mỹ thuật. Chính sự “đối diện” ấy khiến mỗi bức tranh làm người xem không rõ nó kể điều gì, nhưng vẫn đứng lại thật lâu, giữa màu và nhịp, giữa một thứ không thể gọi tên từ trong tiềm thức. Nhà sử học nghệ thuật Shireen Naziree từng nhận xét: “Hà Nội của Hải gợi mở sự suy đoán thông qua sự căng thẳng tự sự hiếm thấy trong trừu tượng, một căng thẳng mang lại sức hấp dẫn khó giải mã.” Phạm An Hải không ngừng học hỏi, không ngại thừa nhận ảnh hưởng, nhưng càng đi, anh càng tìm thấy giọng riêng. Bởi chính việc “học từ người khác để biểu đạt cảm xúc của mình” khiến anh luôn là chính mình, một người vẽ không vì khái niệm, mà vì nhu cầu biểu đạt thành thật nhất. Và cũng từ tinh thần ấy, anh xem nghệ thuật là hành trình dài hơi: “Nếu anh không vẽ nổi vài chục bức thì không có đường. Như Lỗ Tấn từng nói, ‘Trên thế giới không có đường, đi mãi thì thành đường’, trừu tượng cũng vậy thôi.”
