Từ những thử nghiệm đầu tiên trong xưởng vẽ, cú sốc định mệnh tưởng chừng chấm dứt tất cả ở tuổi 30, cho đến sự kiên định kiến tạo ngôn ngữ riêng, đó là hành trình Phạm An Hải mang hơi thở Hà Nội vào vũ điệu của màu sắc, biến chúng thành hiện thực của trạng thái và nhịp điệu của “đời trừu tượng”.

Phạm An Hải, Bốn mùa, tranh sơn dầu, 120 x 240 cm. Nguồn: Chuyên mục Tác phẩm của họa sĩ Phạm An Hải, được đăng trên trang Green Palm Gallery.
Những mảng màu từng vỡ
Phạm An Hải sinh năm 1967 tại Hà Nội, trong một gia đình có nền văn hóa lâu đời. Tổ tiên ông, cụ Phạm Đình Hồ, từng là hiệu trưởng đầu tiên của Văn Miếu Quốc Tử Giám. Những buổi sáng sương mờ quanh hồ, tiếng rao vặt, sắc nâu của những ngôi nhà gỗ, “chất Hà Nội” ấy dường như đã ngấm vào cách ông nhìn thế giới. Ông theo học và tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam năm 1995, bảo vệ luận văn Thạc sĩ năm 2006. Vẽ, với ông, là cách nói năng tự nhiên của tâm hồn.
Những năm đầu thập niên 1990, mỹ thuật Việt vẫn bị bao phủ bởi Hiện thực và Ấn tượng. Trừu tượng gần như là “miền cấm”, xa lạ với cả giới sáng tác lẫn công chúng. Trong bối cảnh đó, Phạm An Hải chọn lối đi riêng, một sự dám khác biệt hiếm thấy ở tuổi hai mươi.
Cơ duyên gặp họa sĩ Đỗ Minh Tâm, người tiên phong thực hành Trừu tượng ở Việt Nam, đã định hướng mạnh mẽ cho ông. “May mắn là tôi được vẽ chung xưởng với thầy, coi như anh em, và từ đó tôi cảm nhận được sự tự do trong cách vẽ của mình,” ông kể. “Dù tôi vẽ nhiều thứ, nhưng tôi thấy trừu tượng mới là phong cách giúp tôi thể hiện cảm xúc rõ ràng và sâu sắc nhất.”

Họa sĩ Phạm An Hải bên tác phẩm. Nguồn: Bài viết Tìm hiểu sự nghiệp họa sĩ Phạm An Hải và những giải thưởng của ông, được đăng trên trang Viet China Business.
Sau hai năm giảng dạy, ông nghỉ việc để chọn con đường chỉ có màu và cảm xúc. Giai đoạn 1988 - 1992, ông thử nghiệm Hiện thực biểu hiện như một bước “khởi động” để hiểu chất liệu. Nhưng từ 1992, ông bắt đầu thử nghiệm trừu tượng, chịu ảnh hưởng từ nhạc jazz, thứ âm nhạc “tự do nhưng có trật tự” mà ông yêu đến say.
Năm 1997, tai họa ập đến khi họa sĩ bị tấn công, chấn thương nặng ở mắt phải, tưởng chừng không thể vẽ. “Buồn vì người tấn công mình chỉ một, nhưng buồn vì sợ không còn vẽ được là mười,” ông từng chia sẻ. Trong những tháng dài điều trị, ông sống giữa ranh giới sáng - tối, giữa những mảng màu vỡ ra. Giai đoạn này, ông quay lại Biểu hiện để lột tả nội tâm dữ dội, đối diện với biến cố quá lớn ở tuổi 30.
Sau điều trị, ông trở lại với sức sáng tạo mạnh mẽ hơn. Cuối năm 1998, ông tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên tại Nam Sơn Gallery, đánh dấu một bản thể tái sinh trong dòng tranh trừu tượng chuyên nghiệp. Thời điểm đó, khủng hoảng kinh tế châu Á khiến thị trường nghệ thuật trầm lắng, dòng tranh này gần như không ai mua. Vậy mà triển lãm lại thành công bất ngờ: ông bán được gần hai mươi tác phẩm. Một phóng viên Hà Lan tình cờ ghé xem, rồi viết bài đăng báo Amsterdam, mở ra cơ duyên giúp công chúng quốc tế biết đến ông. “Từ đó, tôi được các gallery nước ngoài mời hợp tác và có thể sống được bằng nghề,” ông kể, giọng vẫn giữ chút ngạc nhiên và trân trọng nào đó sau bao năm.

Phạm An Hải, Incandescent rays of the sun, acrylic trên toan, 136.5 x 253.5 cm, 2016. Nguồn: Bài viết Họa sĩ Triệu đô Phạm An Hải: Bước đi mới lạ, đích đến thành công, được đăng trên trang Le House Art.
Những năm 2000, anh đi qua Bangkok, Hồng Kông, Singapore, London, rồi lại trở về Hà Nội. Dù ở đâu, hơi thở của những góc phố thân quen vẫn nằm trong tranh anh: những gam xám pha nâu, khoảng sáng loang như sương, vừa cũ vừa mới. Năm 2015 - 2016, tác phẩm của anh được Sotheby’s giới thiệu trong nhóm 20 họa sĩ trừu tượng tiêu biểu Đông Nam Á, một sự ghi nhận xứng đáng cho người bền bỉ đi gần ba mươi năm trên con đường ít người chọn.
Cảm xúc là hiện thực
“Trừu tượng, với tôi, đơn giản là hiện thực của cảm xúc, đánh thức tàng thức của người xem.”
Theo đuổi sự duy mỹ, tìm kiếm cái đẹp đích thực, thậm chí là cái “khó xem” nhưng có tiếng nói tự thân, là quan điểm xuyên suốt của anh. Anh không cố tình “làm khó người xem”, mà coi ngôn ngữ phi hình thể như cách diễn đạt trung thực nhất cho điều không thể nói bằng lời. Mỗi bức tranh là bản nhạc thị giác, có nhịp, có cao trào, có khoảng lặng. “Trừu tượng có nhiệm vụ kép: màu giải quyết tình cảm, cấu trúc giải quyết nhịp điệu,” anh chia sẻ.
Anh tin người xem bằng trực giác sẽ cảm nhận được năng lượng trong tranh, như cảm một bản nhạc dù không hiểu nhạc lý. Có lẽ thế, những góc phố Hà Nội, hơi nước ấm trong buổi trà sáng, hay cơn mưa bất chợt… đều có thể thành chất liệu. Nghệ thuật của anh không tách rời khỏi đời sống. Phong cảnh không còn để mô tả, mà là cái cớ để giải phóng năng lượng màu và nhịp điệu.

Phạm An Hải, Dream Life. Nguồn: Bài viết về Phạm An Hải, được đăng trên trang Nguyen Art Foundation.
Bên cạnh phong cảnh, loạt tranh chọn ấm trà làm motif sáng tác là một nét đặc trưng. Ấm trà không chỉ là biểu tượng văn hóa và thiền định đậm chất Á Đông, mà còn là hình ảnh phản chiếu nội tâm của họa sĩ. Anh từng đùa rằng mình như chiếc ấm “mong manh, dễ vỡ, dễ bị lãng quên”. Trong nụ cười hiền ấy vẫn ẩn nỗi niềm của người chứng kiến sự mai một của văn hóa trà Việt. Motif này trở thành phương tiện để anh trò chuyện với bản thân. Cách chuyển hóa của anh là đưa ấm trà vào trừu tượng như một biểu tượng hình học tối giản, một vết mực rơi nhẹ vào mặt hồ, hòa cùng những vòng tròn rung động của màu sắc.
“Tôi vẽ theo lối từ phong cảnh hiện thực mà ra, tức là khái quát hình... và theo trạng thái xúc cảm của mình nhiều hơn.”
Từ biến cố 1997, anh mang trong mình sự trầm lắng, nhưng không bi lụy. Giai đoạn ấy định hình phong cách: nét cọ mạnh, lớp sơn dày, bảng màu mộng mơ nhưng chứa độ sâu nội tâm. Tranh của anh mang “tinh thần chân thật”, thứ khiến người ta không thấy sự cố ý, chỉ thấy niềm tin nhất quán.
Nếu Pollock giải phóng hành vi, Kandinsky truy cầu tâm linh, thì Phạm An Hải lại đi theo hướng riêng với “trừu tượng tiết tấu”, nơi cảm xúc và trực giác Á Đông hòa vào cấu trúc chặt chẽ của màu và nhịp. Anh không xem hội họa là cuộc chơi lý thuyết, mà như một cuộc đối diện với chính ngôn ngữ mình đã chọn.
“Mình luôn luôn, khi đối diện với một bức tranh, thì suy nghĩ xem người ta đặt vấn đề như thế nào, giải quyết ra sao. Và mình học từ chính điều đó, để thể hiện cảm xúc của mình.”

Phạm An Hải, Dưới mặt nước, tranh acrylic, 100 x 200 cm. Nguồn: Bài viết Phạm An Hải - Trừu tượng của giai điệu và tiết tấu trong vòng xoáy thị giác, được đăng trên trang Tạp chí mỹ thuật.
Chính sự “đối diện” ấy khiến mỗi bức tranh làm người xem không rõ nó kể điều gì, nhưng vẫn đứng lại thật lâu, giữa màu và nhịp, giữa một thứ không thể gọi tên từ trong tiềm thức.
Nhà sử học nghệ thuật Shireen Naziree từng nhận xét: “Hà Nội của Hải gợi mở sự suy đoán thông qua sự căng thẳng tự sự hiếm thấy trong trừu tượng, một căng thẳng mang lại sức hấp dẫn khó giải mã.”
Phạm An Hải không ngừng học hỏi, không ngại thừa nhận ảnh hưởng, nhưng càng đi, anh càng tìm thấy giọng riêng. Bởi chính việc “học từ người khác để biểu đạt cảm xúc của mình” khiến anh luôn là chính mình, một người vẽ không vì khái niệm, mà vì nhu cầu biểu đạt thành thật nhất.
Và cũng từ tinh thần ấy, anh xem nghệ thuật là hành trình dài hơi: “Nếu anh không vẽ nổi vài chục bức thì không có đường. Như Lỗ Tấn từng nói, ‘Trên thế giới không có đường, đi mãi thì thành đường’, trừu tượng cũng vậy thôi.”
