Từ những ngày vọc với bột than thuở thiếu thời cho đến khi định hình một phong cách hiện thực huyền ảo nơi hải ngoại, hành trình hội họa của Nguyễn Trọng Khôi là những suy tư lặng lẽ về thân phận con người. Nỗi hoài hương không bộc lộ trực diện, mà thấm dần vào từng viên đá cuội, từng lớp màu trầm, để rồi từ đó, ông ngẫm nghĩ mãi về những hỷ, nộ, ái, ố của một đời người.

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi trong buổi chuẩn bị triển lãm tại Tp. HCM 2025. Nguồn: Artonis.
Đi tìm những cái “mới”
Sinh năm 1947 tại Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ), Nguyễn Trọng Khôi theo gia đình vào Nam từ năm 1954. Ký ức về quê cũ vì thế trở thành một thứ đủ để nhớ nhưng không đủ để níu giữ trọn vẹn. Nó khiến ông mang trong mình cảm giác “ở giữa”, khi không hoàn toàn thuộc về một nơi chốn cụ thể nào. Ông vẽ từ rất sớm, trên bất cứ bề mặt nào có thể, từ gỗ, bảng cho đến phông sân khấu trường học.
Bột than đến với ông một cách tự nhiên, như một thói quen hình thành từ sự chỉ dẫn “chấm rồi vẽ thôi” của người khác rồi tự mày mò học lấy. Khi thi vào Trường Mỹ thuật Gia Định năm 1973, chính chất liệu thân quen ấy lại giúp ông tạo nên khác biệt trong một môi trường vốn nhiều thiên lệch. Dấu mốc này không đơn thuần là thứ hạng, mà là cái gật đầu chắc nịch cho con đường mình đã chọn.
Những năm học tại trường giúp ông hiểu rằng cái “mới” không đến từ việc đoạn tuyệt nền tảng. Trong một môi trường không áp đặt phong cách, ông được trang bị kỹ năng bài bản và sự tự do cần thiết để học lại mọi thứ với tâm thế chủ động hơn. Song song đó, ông tham gia minh họa cho báo chí từ những năm 1970, công việc tiếp tục khi ông sang Mỹ định cư năm 1988 và cộng tác lâu dài với nhật báo Người Việt tại California.

Tác phẩm Đá cuội và Sách, tranh sơn dầu. Nguồn: Văn Việt - Họa sĩ Đinh Cường.
Làm báo không chỉ là kế sinh nhai, mà còn mở ra cho ông một không gian quan sát đời sống cộng đồng người Việt xa xứ. Những ghi nhận âm thầm ấy dần tích tụ, trở thành nền tảng cho các suy tư về tâm hồn con người sống trong cảnh “đất khách quê người”. Từ kỹ thuật in typo tại Vàng Son đến môi trường làm báo hiện đại ở California, mỗi trải nghiệm đều mở rộng thêm tầm nhìn của ông. Với Nguyễn Trọng Khôi, kiến thức không chỉ đến từ màu sắc hay kỹ thuật hội họa, mà còn từ những yếu tố ngoài chuyên môn, giúp ông suy nghĩ sâu hơn và làm dày nhân sinh quan của chính mình.
Sống nơi xứ người, ông luôn nhận mình là người “bị bứng rễ khỏi quê hương”. Chính vì thế, ông không để tranh mình bám vào hình ảnh quê nhà một cách trực diện. Ông hiểu rằng nếu nỗi nhớ chỉ dừng ở minh họa, nó sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Ông biết mình phải đào sâu vào những trăn trở nội tâm, nơi cô đơn và thân phận con người hiện diện trong im lặng. Giai đoạn vẽ tĩnh vật gốm kéo dài gần mười năm là minh chứng cho lựa chọn ấy. Những chiếc bình, đồ vật cũ hiện lên lặng lẽ, như những mảnh ký ức văn hóa Việt Nam lắng đọng. Với ông, vẽ không phải để nhìn cho rõ, mà để cảm nhận một trạng thái tinh thần đã rời xa nhưng vẫn còn vương lại.
Theo thời gian, mỗi giai đoạn sáng tác của ông biến chuyển một cách hữu cơ cùng trải nghiệm sống. Cái “mới”, từng được hiểu là kỹ thuật hay màu sắc, dần nhường chỗ cho một nhận thức sâu hơn: biểu đạt nằm ở độ chín của trải nghiệm. Những năm sống tại New England, cái lạnh và sương mù khiến bảng màu trở nên trầm lắng; khi chuyển sang Texas, ánh sáng thay đổi, nhưng nỗi bịn rịn với quê cũ vẫn còn nguyên.

Tác phẩm Mã Pì Lèng thuộc loạt Cao Nguyên Đá. Nguồn: Doanh Nhân Plus.
Nếu Andrew Wyeth vẽ nỗi u buồn của nông thôn Mỹ, thì Nguyễn Trọng Khôi mượn sự ảm đạm của New England để nhuộm màu cho cảm giác cô đơn viễn xứ. Hiện thực trong tranh ông không đứng yên, mà dần chuyển hóa sang biểu hiện, nơi hình ảnh chỉ còn là điểm tựa cho cảm xúc.
“Tâm hồn của người Việt Nam rời đi thì tâm hồn họ sẽ như thế nào, nhớ quê nhớ thế nào? Thành ra, tôi vẽ vật không phải để nhìn, mà để cảm thấy nó giống như thế.”
Từ những lời nhắc nhở của Nguyễn Trung về “thiếu không khí” đến lời răn của Văn Cao về việc “quá tính văn học”, Nguyễn Trọng Khôi đã trải qua nhiều năm quyết liệt gột bỏ ảnh hưởng. Ông xóa dần chi tiết, thu gọn hình ảnh để tìm ra một bản ngã độc lập. Đinh Cường nhìn nhận sự chuyển biến này như một quá trình quay vào bên trong, nơi cái “mới” không nằm ở hình thức mà ở chính con người ông.
“Tại sao tôi lại vẽ lúc nào màu nó cũng phớt phớt. Cái mờ đó ảnh hưởng nhiều lắm, như đất đai, như sự mộc mạc của quê hương nó lẫn trong đó.”
Nức nở những sắc độ
Nguyễn Trọng Khôi không xem các khuynh hướng sáng tác là ranh giới, mà như những miền đi qua. Tĩnh vật, con người hay trừu tượng đều là những trạng thái khác nhau của cùng một hành trình. Như nhận định của Huỳnh Hữu Ủy, đó là một quá trình di chuyển liên tục, để rồi trở về với hiện thực ở một cấp độ đã được chuyển hóa.
Tranh của ông luôn được xử lý kỹ, nhưng bao giờ cũng phủ một lớp mờ có chủ ý. Lớp mờ ấy giữ cho tranh không trượt sang cảm giác của ảnh chụp, đồng thời lưu lại nhịp điệu và cảm xúc cá nhân trong từng nét vẽ. Với ông, hội họa chỉ tồn tại khi còn giữ được “cái là mình” của người nghệ sĩ.

Tác phẩm Chân dung nhà văn Trần Doãn Nho, tranh bút chì trên giấy. Nguồn: Văn Việt - Nhà văn Trần Doãn Nho.
Cái u tịch trong tranh ông chịu ảnh hưởng rõ từ kỹ thuật ánh sáng tập trung của Rembrandt. Ánh sáng không chỉ chiếu vào vật thể mà còn soi rọi khoảng lặng xung quanh, tạo nên một độ “hẫng” cần thiết. Nếu Đỗ Quang Em đi đến tận cùng của sự nhẵn nhụi, thì Nguyễn Trọng Khôi chủ động giữ lại sự gồ ghề, để người xem chạm vào độ lắng của thời gian. Trong không gian ấy, như Trương Vũ và Đinh Cường từng nhận xét, luôn hiện diện một “hơi người” lẩn khuất trong ánh sáng hoài niệm.
Khi vẽ con người, ông không chú trọng diện mạo mà tập trung vào trạng thái tâm lý. Những hình thể mong manh hiện ra như đang đối diện với bất trắc đời sống. Trên nền tảng tay nghề vững chắc, ông lồng ghép các yếu tố “không thực”, tạo nên cảm giác lệch pha giữa hình ảnh và tinh thần. Loạt Cao nguyên đá cho thấy rõ điều này, khi lớp mây làm nhòe hiện thực thị giác, mở ra một không - thời gian khác cho tác phẩm.

Một số tác phẩm mới thuộc triển lãm Dõi bước nhân sinh tại Eight Gallery vào tháng 11 năm 2025. Nguồn: Artonis.
Càng về sau, ông càng chú trọng “không khí tranh” hơn là sự trung thành hình ảnh. Đứng ở vùng giao thoa giữa hiện thực, biểu hiện và trừu tượng, ông dùng hiện thực như điểm tựa để phóng thích cảm xúc. Với ông, trừu tượng không phải là phá hình, mà là một thái độ.
Cuối năm 2025, trong dịp trở lại Việt Nam, ông cùng họa sĩ Bùi Suối Hoa tổ chức triển lãm Dõi bước nhân sinh. Ở đó, người xem bắt gặp những hỷ nộ ái ố, những hoang mang trước điều phi lý của đời sống. Ông không đứng ngoài để phán xét, mà đi cùng con người, cảm nhận nhịp thở nặng nhọc rồi đưa lên mặt toan.
Bi thương và rực rỡ song hành trong loạt tranh này. Bi thương nằm trong dằn vật, cô đơn; rực rỡ đến từ niềm đam mê sáng tạo chưa từng cạn. Lớp màu được làm dịu như cố ý trì hoãn sự nhận diện, để cảm xúc có thời gian lắng lại. Đó cũng là cách Nguyễn Trọng Khôi nhìn con người và đời sống một cách lặng lẽ, không minh họa, không phán xét.
Đôi lời kết
Hơn năm mươi năm theo đuổi hội họa, Nguyễn Trọng Khôi như một người lữ hành miệt mài, dùng hội họa làm gậy chống để đi qua những khúc quanh của nhân sinh. Tranh ông không chỉ dừng ở cái đẹp, mà là một hành trình đào sâu không mệt mỏi để tìm câu trả lời cho cái chất riêng mà ông luôn khắc khoải.
Những lần trở về cố hương tổ chức triển lãm cũng là cách ông xoa dịu nỗi nhớ của người con xa xứ, để rồi khi còn sức sáng tác, ông vẫn tiếp tục góp thêm những mảnh vụn vào hành trình ấy, như một cách trả ơn hội họa đã đi cùng ông từ những ngày đầu vọc với bột than.
Tin bài liên quan
Nguyễn Trọng Khôi – Lăn viên đá cuội, ngẫm chuyện nhân sinh
Từ những ngày vọc với bột than thuở thiếu thời cho đến khi định hình một phong cách hiện thực huyền ảo nơi hải ngoại, hành trình hội họa của Nguyễn Trọng Khôi là những suy tư lặng lẽ về thân phận con người. Nỗi hoài hương không bộc lộ trực diện, mà thấm dần vào từng viên đá cuội, từng lớp màu trầm, để rồi từ đó, ông ngẫm nghĩ mãi về những hỷ, nộ, ái, ố của một đời người. Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi trong buổi chuẩn bị triển lãm tại Tp. HCM 2025. Nguồn: Artonis. Đi tìm những cái “mới” Sinh năm 1947 tại Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ), Nguyễn Trọng Khôi theo gia đình vào Nam từ năm 1954. Ký ức về quê cũ vì thế trở thành một thứ đủ để nhớ nhưng không đủ để níu giữ trọn vẹn. Nó khiến ông mang trong mình cảm giác “ở giữa”, khi không hoàn toàn thuộc về một nơi chốn cụ thể nào. Ông vẽ từ rất sớm, trên bất cứ bề mặt nào có thể, từ gỗ, bảng cho đến phông sân khấu trường học. Bột than đến với ông một cách tự nhiên, như một thói quen hình thành từ sự chỉ dẫn “chấm rồi vẽ thôi” của người khác rồi tự mày mò học lấy. Khi thi vào Trường Mỹ thuật Gia Định năm 1973, chính chất liệu thân quen ấy lại giúp ông tạo nên khác biệt trong một môi trường vốn nhiều thiên lệch. Dấu mốc này không đơn thuần là thứ hạng, mà là cái gật đầu chắc nịch cho con đường mình đã chọn. Những năm học tại trường giúp ông hiểu rằng cái “mới” không đến từ việc đoạn tuyệt nền tảng. Trong một môi trường không áp đặt phong cách, ông được trang bị kỹ năng bài bản và sự tự do cần thiết để học lại mọi thứ với tâm thế chủ động hơn. Song song đó, ông tham gia minh họa cho báo chí từ những năm 1970, công việc tiếp tục khi ông sang Mỹ định cư năm 1988 và cộng tác lâu dài với nhật báo Người Việt tại California. Tác phẩm Đá cuội và Sách, tranh sơn dầu. Nguồn: Văn Việt - Họa sĩ Đinh Cường. Làm báo không chỉ là kế sinh nhai, mà còn mở ra cho ông một không gian quan sát đời sống cộng đồng người Việt xa xứ. Những ghi nhận âm thầm ấy dần tích tụ, trở thành nền tảng cho các suy tư về tâm hồn con người sống trong cảnh “đất khách quê người”. Từ kỹ thuật in typo tại Vàng Son đến môi trường làm báo hiện đại ở California, mỗi trải nghiệm đều mở rộng thêm tầm nhìn của ông. Với Nguyễn Trọng Khôi, kiến thức không chỉ đến từ màu sắc hay kỹ thuật hội họa, mà còn từ những yếu tố ngoài chuyên môn, giúp ông suy nghĩ sâu hơn và làm dày nhân sinh quan của chính mình. Sống nơi xứ người, ông luôn nhận mình là người “bị bứng rễ khỏi quê hương”. Chính vì thế, ông không để tranh mình bám vào hình ảnh quê nhà một cách trực diện. Ông hiểu rằng nếu nỗi nhớ chỉ dừng ở minh họa, nó sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Ông biết mình phải đào sâu vào những trăn trở nội tâm, nơi cô đơn và thân phận con người hiện diện trong im lặng. Giai đoạn vẽ tĩnh vật gốm kéo dài gần mười năm là minh chứng cho lựa chọn ấy. Những chiếc bình, đồ vật cũ hiện lên lặng lẽ, như những mảnh ký ức văn hóa Việt Nam lắng đọng. Với ông, vẽ không phải để nhìn cho rõ, mà để cảm nhận một trạng thái tinh thần đã rời xa nhưng vẫn còn vương lại. Theo thời gian, mỗi giai đoạn sáng tác của ông biến chuyển một cách hữu cơ cùng trải nghiệm sống. Cái “mới”, từng được hiểu là kỹ thuật hay màu sắc, dần nhường chỗ cho một nhận thức sâu hơn: biểu đạt nằm ở độ chín của trải nghiệm. Những năm sống tại New England, cái lạnh và sương mù khiến bảng màu trở nên trầm lắng; khi chuyển sang Texas, ánh sáng thay đổi, nhưng nỗi bịn rịn với quê cũ vẫn còn nguyên. Tác phẩm Mã Pì Lèng thuộc loạt Cao Nguyên Đá. Nguồn: Doanh Nhân Plus. Nếu Andrew Wyeth vẽ nỗi u buồn của nông thôn Mỹ, thì Nguyễn Trọng Khôi mượn sự ảm đạm của New England để nhuộm màu cho cảm giác cô đơn viễn xứ. Hiện thực trong tranh ông không đứng yên, mà dần chuyển hóa sang biểu hiện, nơi hình ảnh chỉ còn là điểm tựa cho cảm xúc. “Tâm hồn của người Việt Nam rời đi thì tâm hồn họ sẽ như thế nào, nhớ quê nhớ thế nào? Thành ra, tôi vẽ vật không phải để nhìn, mà để cảm thấy nó giống như thế.” Từ những lời nhắc nhở của Nguyễn Trung về “thiếu không khí” đến lời răn của Văn Cao về việc “quá tính văn học”, Nguyễn Trọng Khôi đã trải qua nhiều năm quyết liệt gột bỏ ảnh hưởng. Ông xóa dần chi tiết, thu gọn hình ảnh để tìm ra một bản ngã độc lập. Đinh Cường nhìn nhận sự chuyển biến này như một quá trình quay vào bên trong, nơi cái “mới” không nằm ở hình thức mà ở chính con người ông. “Tại sao tôi lại vẽ lúc nào màu nó cũng phớt phớt. Cái mờ đó ảnh hưởng nhiều lắm, như đất đai, như sự mộc mạc của quê hương nó lẫn trong đó.” Nức nở những sắc độ Nguyễn Trọng Khôi không xem các khuynh hướng sáng tác là ranh giới, mà như những miền đi qua. Tĩnh vật, con người hay trừu tượng đều là những trạng thái khác nhau của cùng một hành trình. Như nhận định của Huỳnh Hữu Ủy, đó là một quá trình di chuyển liên tục, để rồi trở về với hiện thực ở một cấp độ đã được chuyển hóa. Tranh của ông luôn được xử lý kỹ, nhưng bao giờ cũng phủ một lớp mờ có chủ ý. Lớp mờ ấy giữ cho tranh không trượt sang cảm giác của ảnh chụp, đồng thời lưu lại nhịp điệu và cảm xúc cá nhân trong từng nét vẽ. Với ông, hội họa chỉ tồn tại khi còn giữ được “cái là mình” của người nghệ sĩ. Tác phẩm Chân dung nhà văn Trần Doãn Nho, tranh bút chì trên giấy. Nguồn: Văn Việt - Nhà văn Trần Doãn Nho. Cái u tịch trong tranh ông chịu ảnh hưởng rõ từ kỹ thuật ánh sáng tập trung của Rembrandt. Ánh sáng không chỉ chiếu vào vật thể mà còn soi rọi khoảng lặng xung quanh, tạo nên một độ “hẫng” cần thiết. Nếu Đỗ Quang Em đi đến tận cùng của sự nhẵn nhụi, thì Nguyễn Trọng Khôi chủ động giữ lại sự gồ ghề, để người xem chạm vào độ lắng của thời gian. Trong không gian ấy, như Trương Vũ và Đinh Cường từng nhận xét, luôn hiện diện một “hơi người” lẩn khuất trong ánh sáng hoài niệm. Khi vẽ con người, ông không chú trọng diện mạo mà tập trung vào trạng thái tâm lý. Những hình thể mong manh hiện ra như đang đối diện với bất trắc đời sống. Trên nền tảng tay nghề vững chắc, ông lồng ghép các yếu tố “không thực”, tạo nên cảm giác lệch pha giữa hình ảnh và tinh thần. Loạt Cao nguyên đá cho thấy rõ điều này, khi lớp mây làm nhòe hiện thực thị giác, mở ra một không - thời gian khác cho tác phẩm. Một số tác phẩm mới thuộc triển lãm Dõi bước nhân sinh tại Eight Gallery vào tháng 11 năm 2025. Nguồn: Artonis. Càng về sau, ông càng chú trọng “không khí tranh” hơn là sự trung thành hình ảnh. Đứng ở vùng giao thoa giữa hiện thực, biểu hiện và trừu tượng, ông dùng hiện thực như điểm tựa để phóng thích cảm xúc. Với ông, trừu tượng không phải là phá hình, mà là một thái độ. Cuối năm 2025, trong dịp trở lại Việt Nam, ông cùng họa sĩ Bùi Suối Hoa tổ chức triển lãm Dõi bước nhân sinh. Ở đó, người xem bắt gặp những hỷ nộ ái ố, những hoang mang trước điều phi lý của đời sống. Ông không đứng ngoài để phán xét, mà đi cùng con người, cảm nhận nhịp thở nặng nhọc rồi đưa lên mặt toan. Bi thương và rực rỡ song hành trong loạt tranh này. Bi thương nằm trong dằn vật, cô đơn; rực rỡ đến từ niềm đam mê sáng tạo chưa từng cạn. Lớp màu được làm dịu như cố ý trì hoãn sự nhận diện, để cảm xúc có thời gian lắng lại. Đó cũng là cách Nguyễn Trọng Khôi nhìn con người và đời sống một cách lặng lẽ, không minh họa, không phán xét. Đôi lời kết Hơn năm mươi năm theo đuổi hội họa, Nguyễn Trọng Khôi như một người lữ hành miệt mài, dùng hội họa làm gậy chống để đi qua những khúc quanh của nhân sinh. Tranh ông không chỉ dừng ở cái đẹp, mà là một hành trình đào sâu không mệt mỏi để tìm câu trả lời cho cái chất riêng mà ông luôn khắc khoải. Những lần trở về cố hương tổ chức triển lãm cũng là cách ông xoa dịu nỗi nhớ của người con xa xứ, để rồi khi còn sức sáng tác, ông vẫn tiếp tục góp thêm những mảnh vụn vào hành trình ấy, như một cách trả ơn hội họa đã đi cùng ông từ những ngày đầu vọc với bột than.
Nguyễn Trọng Khôi: “Đi trong hỷ nộ ái ố để thấy bóng mình trưởng thành”
Qua hơn nửa thế kỷ thực hành hội họa, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi không xem việc vẽ như một hành trình tìm kiếm phong cách, mà là quá trình đào sâu vào đời sống và nội tâm con người. Trong Dạo bước nhân sinh, những hình thể trần trụi và bất an không chỉ nói về người khác, mà còn là sự tự vấn của chính họa sĩ trước mất mát, cô đơn và giới hạn của kiếp người. Nhân dịp họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi cùng họa sĩ Bùi Suối Hoa tổ chức triển lãm chung tại Eight Gallery (TP.HCM) vào tháng 11 vừa qua, chúng tôi có dịp gặp gỡ và trò chuyện cùng ông, lắng nghe những chia sẻ về hành trình sáng tác, về hội họa như một cách đi sâu vào nhân sinh, hơn là tìm kiếm những hình thức bề ngoài. Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi trò chuyện tại không gian triển lãm Dạo bước nhân sinh vào tháng 11, 2025 vừa qua. Nguồn: Artonis. Q: Trong hơn 50 năm thực hành hội họa, ông đã đi qua nhiều phong cách khác nhau. Nếu nhìn lại toàn bộ hành trình ấy, đâu là mạch sáng tác mà ông cảm thấy gắn bó nhất? Thật ra tôi vốn là một họa sĩ theo hiện thực, và tôi rất mê hiện thực. Tôi theo hiện thực ngay từ khi mới ra trường, bởi vì tôi được xem là có tay nghề để xử lý chi tiết. Tuy nhiên, hiện thực trong tranh của tôi không phải là hiện thực thuần túy. Trong đó thường có lồng một phần mà người ta gọi là hiện thực huyền ảo, tức là có những yếu tố không hoàn toàn thực trong hình ảnh. Càng về sau, tôi càng nghiêng về một dạng hiện thực mang tính biểu hiện. Đôi khi hình ảnh trong tranh không còn đại diện trực tiếp cho không khí mà tôi muốn trình bày nữa. Vì vậy, dù có thể vẫn gọi tôi là họa sĩ hiện thực, nhưng thực chất tôi theo đuổi biểu hiện thông qua hiện thực. Q: Nhìn lại hành trình ấy, ông có thấy từng giai đoạn đời sống và cảm xúc đã âm thầm chi phối cách mình vẽ hay không? Điều đó thì tất nhiên. Khi mới ra trường, suy nghĩ của mình còn rất đơn giản. Nhà trường trang bị cho tôi kỹ thuật, màu sắc và các phương tiện để bước ra ngoài, và họ luôn ủng hộ lứa chúng tôi tạo nên một không gian mới. Nhưng lúc đó, “cái mới” thực sự là gì thì mình chưa hiểu rõ. Trong suốt nhiều năm, tôi vẫn vẽ những gì mình thấy trước mắt. Dần dần mới nhận ra rằng cái trước mắt chỉ là để nhìn, còn cái thể hiện thực sự lại nằm phía sau đó. Sự thay đổi này diễn ra theo từng độ tuổi, cùng với sự trưởng thành của con người và trí tuệ. Nó không tự nhiên mà biến đổi, mà là một quá trình tích lũy và chuyển biến dần dần mà tôi tự ngẫm thấy. Q: Được biết ông hoạt động báo chí và tiếp xúc với giới văn nghệ từ rất sớm. Những trải nghiệm đó đã âm thầm tác động đến tư tưởng sáng tác của ông ra sao? Đó là một may mắn lớn đối với tôi. Tôi gắn bó khá nhiều với báo chí, với các sinh hoạt báo chí, và cả những kỹ thuật liên quan đến ngành in. Từ thời in typo cho đến offset, rồi các công đoạn làm phim, chế bản, tôi đều có dịp tiếp xúc và học hỏi. Tôi học được ở đó sự chuyên cần và kỹ thuật của những người làm nghề. Bên cạnh đó, việc viết thơ, minh họa báo, đọc tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn… tất cả những thứ ấy dần dần thấm vào mình lúc nào không hay. Kiến thức của tôi vì thế không chỉ được bồi đắp từ màu sắc hay chuyên môn hội họa, mà còn từ những lĩnh vực khác, giúp tôi có tầm nhìn rộng hơn và những suy nghĩ sâu hơn. Đó là một lợi ích không phí chút nào. Quyển sách Artbook Thế giới Hội họa của Nguyễn Trọng Khôi, NXB Hội Nhà Văn. Nguồn: Artonis. Q: Trong tranh của ông, con người thường xuất hiện trong trạng thái trần trụi, bất an, mang nhiều ưu tư nguyên thủy. Đây có phải là cách ông đối diện trực tiếp với câu chuyện nhân sinh? Trong tranh của tôi luôn có những mô-típ và ký hiệu mà tôi gửi gắm, và để người xem tự tìm ra. Cũng như trong loạt tranh lần này tên Dạo bước nhân sinh, tôi xoáy vào một góc của đời sống. Cuộc sống này vô chừng lắm: hỉ, nộ, ái, ố, phần lớn là những điều chúng ta không kiểm soát được. Trong mỗi con người luôn tồn tại những mơ hồ, hoài nghi và bất trắc. Những hình ảnh tôi vẽ giống như sự phơi bày con người trước hiểm nguy và bất an của đời sống. Nỗi khổ của con người đôi khi rất mơ hồ, không nhìn thấy rõ, nhưng nó là một thực thể có thật. Mỗi bức tranh đều có cái đẹp riêng, rất khó nói bức nào đẹp nhất. Nhưng có một bức được chú ý vì đó là bức mới nhất, vừa vẽ xong chưa kịp khô đã mang đi trưng bày. Bức tranh đó mang một ưu tư, một bi kịch của đời sống. Tôi dùng hình ảnh con bê đi tìm mẹ, và thấy mẹ nó đã bị lột da trong phòng mổ. Cuộc sống có những tàn nhẫn như vậy. Tôi tạm gọi tinh thần chung của loạt tranh này bằng hai chữ: bi thương và rực rỡ. Trong đó có tất cả những lẩn khuất của đời sống. Con người không ai sống hoàn toàn trần trụi. Ai cũng mang mặt nạ, có cái giấu đi, có cái phô ra. Chúng ta đều có những vai diễn trong cuộc sống, và đó chính là điều tôi muốn nói tới. Q: Ông từng chia sẻ mình đến với trừu tượng từ hiện thực. Với ông, trừu tượng thực sự bắt đầu từ đâu? Trừu tượng không phải là biến cái này thành cái khác, hay làm nhòe hình ảnh. Trừu tượng là một ý kiến. Phóng một đường nét là một ý kiến, đổ màu hay tạo không gian cũng là một ý kiến. Trừu tượng xuất phát từ cảm xúc. Khi đang yêu, cảm xúc phấn chấn rất khác khi buồn, nhưng nó không cần hình ảnh cụ thể nào cả. Trừu tượng không phải là bóp méo hình ảnh, cái đó trong hội họa gọi là kiểu thức hóa, như Picasso bóp méo chân dung chẳng hạn. Với tôi, nó là thái độ, là hành động theo cảm xúc. Giống như buổi bình minh: nó không “vẽ” gì rõ ràng, nhưng tại sao ta lại thấy rạo rực? Đó chính là trừu tượng. Có lần tôi nghe hai người xem tranh cãi nhau: người thì bảo giống đám mây, người thì bảo giống con ngựa. Khi hỏi tôi vẽ gì, tôi nói là tôi không vẽ gì cả. Điều đó không có nghĩa là không có gì trong tranh. Người họa sĩ vẽ bằng tâm trạng. Người xem nếu xem nhiều, xem kỹ, có thể nhận ra chỗ nào họa sĩ đang căng thẳng, đang bế tắc hay đang hạnh phúc. Vì thế, tôi ngẫm ra, xem tranh cũng cần phải học. Trừu tượng không phải là vung vãi tùy tiện, mà là kết quả của nội lực và kinh nghiệm. Có thể nói, tôi đã đi trong hỷ nộ ái ố để thấy bóng mình trưởng thành trong hội họa là vậy. Một góc trưng bày những sáng tác mới của họa sĩ tại Eight Gallery. Nguồn: Artonis. Q: Nếu quay ngược lại quá khứ, khoảnh khắc nào đã khiến ông biết chắc rằng mình sẽ đi cùng hội họa suốt đời? Tôi bắt đầu vẽ từ rất sớm, từ hồi tiểu học, cũng không biết vì sao mà vẽ. Vẽ lên gỗ, vẽ đủ thứ, và tranh trong lớp hầu như toàn là của tôi, thầy giáo treo khắp nơi. Lên trung học cũng vậy. Hội họa là phần thưởng duy nhất tôi luôn có. Các môn tự nhiên thì kém, nhưng những dịp làm sân khấu cuối năm của trường, tôi luôn là người vẽ. Một lần, có người bạn cùng lớp thi đậu vào trường Mỹ thuật. Tôi nghĩ, nếu bạn ấy làm được thì chắc mình cũng có thể, thế là đi thi. Bài phỏng họa, người ta vẽ bằng bút chì, còn tôi vẽ bằng bột than, vì đã quen từ trước. Kết quả tôi đậu hạng ba, điều đó làm tôi rất vui. Vào trường rồi, tôi mới hiểu thế nào là nền tảng hội họa. Trước đó vẽ hoàn toàn tự phát, quen tay là chính. Còn danh xưng thì thường là người khác đặt cho mình. Tôi chỉ nghĩ mình là một người học hội họa, sinh hoạt hội họa: học vẽ, đi xa, thao thức về quê hương, rồi trở về triển lãm để chia sẻ. Tôi không nhớ đây là lần triển lãm thứ mấy ở Việt Nam, chỉ biết mỗi năm được về, có tác phẩm mới, tôi đều muốn chia sẻ trước hết với những người ở quê hương, trong một không gian gần gũi như Sài Gòn là vui rồi. Q: Trong quá trình học tập, có người thầy nào ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định ảnh hưởng mạnh mẽ đến ông không? Tôi rất quý mến các thầy, và các thầy cũng thương tôi. Nhưng về mặt hội họa, ngay từ trong trường, thầy đã nói rất rõ: nhà trường chỉ trang bị cho bạn phương tiện, còn khi ra ngoài, bạn phải mở ra một không khí mới. Vì vậy, khi ra ngoài, tôi không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi một thầy nào trong trường. Những người thầy ảnh hưởng đến tôi nhiều hơn lại là những bậc thầy của thế giới, chẳng hạn như Rembrandt, đặc biệt về hình họa và ánh sáng. Có lẽ vì thế mà cái nhìn của tôi hướng ngoại hơn, nghiêng nhiều hơn về hội họa phương Tây. Các sáng tác mới thuộc triển lãm Dạo bước nhân sinh (2025). Nguồn: Artonis. Q: Suốt quá trình học tập và thực hành từ những năm 70, quan niệm của ông về kỹ thuật và giá trị hội họa như thế nào? Trước khi vào trường, tôi vẽ bột than vì thấy người ta làm thế thì mình cũng làm, và làm được. Nhưng vào trường rồi mới biết, bút chì có sự uyển chuyển, chi tiết và khả năng phóng nét mà bột than không có. Vẽ kỹ không có nghĩa là vẽ giống máy ảnh. Hội họa quý ở chỗ thể hiện được tinh thần của người mẫu, chứ không phải sao chép hình ảnh. Một bức tranh có thể không giống ảnh chụp, nhưng nó có cái mà máy ảnh không có: tâm trạng và tài hoa của người họa sĩ. Tôi rất chạnh lòng khi người ta khen tranh bằng câu “vẽ như hình chụp”. Có lần tôi không bán tranh cho một người chỉ vì họ khen như vậy. Máy ảnh thì chụp đẹp hơn nhiều. Hội họa phải có bút pháp, phải có character, cái chất riêng của người vẽ. Tôi vẽ kỹ, nhưng không bao giờ vẽ nhuyễn, không thích mượt mà quá. Tôi chuộng cái thô mộc, và từng có một giai đoạn dài vẽ màu trầm, rất trầm. Điều đó chịu ảnh hưởng nhiều từ quãng thời gian tôi sống ở vùng New England, nơi quanh năm mây mù, ảm đạm, nhưng lại rất gợi cảm. Q: Được biết ông rời Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1988, nỗi hoài niệm về quê hương ảnh hưởng đến sáng tác của ông ra sao? Tôi từng nói với báo chí rằng mình là người bị “bứng rễ khỏi quê hương”. Nhưng khi sang bên kia, tôi không thể dùng trực tiếp hình ảnh quê hương để xây dựng tác phẩm như thuyền, đồng lúa, mái nhà tranh hay cô gái đội nón. Những hình ảnh đó không tạo được sự đồng cảm ở môi trường mới, và dễ khiến mình trì trệ. Tôi phải nghĩ khác đi: tâm hồn người Việt khi rời quê hương sẽ như thế nào? Nỗi nhớ ấy rất mơ hồ. Có lúc chỉ là cảm giác như tiếng sáo diều, hay sự khác biệt rất nhỏ giữa cây lúa ở đây và cây lúa ở bên kia. Có một giai đoạn dài tôi vẽ tĩnh vật, đặc biệt là gốm. Gốm của tôi không phải gốm ngoại quốc, mà mang tinh thần Á Đông, cụ thể là Việt Nam, không phải Trung Hoa, không phải Ấn Độ. Đó là cách tôi giữ lại quê hương trong hội họa của mình. Việc sinh sống tại Boston rồi sau này chuyển sang Texas mang lại những cảm hứng mới cho tôi. Nội dung và tâm hồn thì vẫn là của mình, nhưng cách trình bày, bố cục, màu sắc có thể hiện đại hơn, khác đi tùy theo môi trường sống. Tôi vẫn thường dùng màu trầm, nhưng trong cái trầm đó có thêm một chút u tịch. Tôi vẽ rất kỹ, nhưng luôn phủ lên một lớp mờ mờ. Lớp đó mang theo cảm giác đất đai, gốm, sự mộc mạc của quê hương, hòa vào một thế giới mới hiện đại hơn. Q: Có ý kiến cho rằng nghệ thuật không nên minh họa cho một tư tưởng sẵn có. Ông nhìn nhận điều này như thế nào? Quan điểm này tôi học được từ nhạc sĩ Văn Cao. Có lần ông xem tranh tôi và nói: “Tranh của cậu nhiều tính văn học quá. Thế thì đi làm nhà văn cho rồi.” Ý niệm trong tranh không phải để minh họa cho một điều gì đó. Hội họa không phải là chuyển dịch hay đại diện cho một tư tưởng sẵn có. Nó không chỉ làm đẹp, mà còn phải gửi gắm một điều gì đó vượt ra ngoài minh họa. Những triển lãm trước có phần dung dị, hiền hòa hơn. Lần này tôi xoáy mạnh vào vấn đề nhân sinh, rất đa dạng và phức tạp. Với 18 tác phẩm lần này, tôi tạm coi đó là một chặng, một cách nhìn về đời sống con người ở thời điểm hiện tại, có thể sang năm, cách nhìn ấy sẽ lại khác. Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi xem lại hành trình hội họa của mình trong Artbook. Nguồn: Artonis. Q: Từ trải nghiệm của mình, ông nhìn nhận thế nào về cơ hội, thách thức của nghệ sĩ Việt hôm nay, đặc biệt trong câu chuyện ảnh hưởng và ‘mặt nạ’? Việt Nam hôm nay đã tiến rất xa so với mười năm trước. Có nhiều họa sĩ vẽ rất hay, và có sự tiến bộ vượt mức, họ tìm ra những không gian mới, cách trình bày táo bạo, dám làm, điều đó rất đáng khen. Tuy nhiên, cũng có những sự táo bạo vay mượn từ bên ngoài. Nếu không thoát ra khỏi việc bắt chước đó thì sẽ dẫn đến trì trệ. Ảnh hưởng là điều không tránh khỏi, nhưng phải biến nó thành của mình. Tôi quan niệm như này: nếu đeo mặt nạ của người khác quá lâu, ta sẽ trở thành họ và đánh mất chính mình. Trong đời sống, ai cũng phải đeo mặt nạ. Ra ngoài xã hội, để bảo vệ bản thân hay tồn tại, chúng ta đều mang những vai diễn khác nhau. Điều đó vừa cần thiết, vừa nguy hiểm, và tôi nghĩ điều đó làm mình suy nghĩ khá nhiều, nên loạt tranh mới này, tôi cũng dành vài bức gửi gắm cái trăn trở đó. Q: Ông có cảm thấy khoảng cách thế hệ giữa mình và các nghệ sĩ trẻ sau năm 2000? Và nếu có thể, ông muốn nhắn gửi điều gì?Khoảng cách thì chắc chỉ nằm ở sự già nua (cười). Thật ra không thể cho lời khuyên gì cả, vì mỗi thế hệ có con đường riêng của họ. Tôi chỉ có thể nói một điều rất cũ nhưng luôn đúng: làm việc thật nhiều. Không làm việc thì không ra được gì cả. Trong quá trình làm việc, những bất ngờ và ngẫu hứng sẽ xuất hiện, và chính những điều đó có thể dẫn đến những kết quả mà mình không thể tưởng tượng trước. Chúng tôi không ảnh hưởng trực tiếp đến nhau, nhưng vẫn có thể nhìn nhau, hỗ trợ và khuyến khích nhau cùng đi tiếp. Cảm ơn ông đã chia sẻ, chúc ông luôn giữ sức khỏe và sớm trở lại Việt Nam với những triển lãm mới!
