Từ những ngày vọc với bột than thuở thiếu thời cho đến khi định hình một phong cách hiện thực huyền ảo nơi hải ngoại, hành trình hội họa của Nguyễn Trọng Khôi là những suy tư lặng lẽ về thân phận con người. Nỗi hoài hương không bộc lộ trực diện, mà thấm dần vào từng viên đá cuội, từng lớp màu trầm, để rồi từ đó, ông ngẫm nghĩ mãi về những hỷ, nộ, ái, ố của một đời người.

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi trong buổi chuẩn bị triển lãm tại Tp. HCM 2025. Nguồn: Artonis.
Đi tìm những cái “mới”
Sinh năm 1947 tại Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ), Nguyễn Trọng Khôi theo gia đình vào Nam từ năm 1954. Ký ức về quê cũ vì thế trở thành một thứ đủ để nhớ nhưng không đủ để níu giữ trọn vẹn. Nó khiến ông mang trong mình cảm giác “ở giữa”, khi không hoàn toàn thuộc về một nơi chốn cụ thể nào. Ông vẽ từ rất sớm, trên bất cứ bề mặt nào có thể, từ gỗ, bảng cho đến phông sân khấu trường học.
Bột than đến với ông một cách tự nhiên, như một thói quen hình thành từ sự chỉ dẫn “chấm rồi vẽ thôi” của người khác rồi tự mày mò học lấy. Khi thi vào Trường Mỹ thuật Gia Định năm 1973, chính chất liệu thân quen ấy lại giúp ông tạo nên khác biệt trong một môi trường vốn nhiều thiên lệch. Dấu mốc này không đơn thuần là thứ hạng, mà là cái gật đầu chắc nịch cho con đường mình đã chọn.
Những năm học tại trường giúp ông hiểu rằng cái “mới” không đến từ việc đoạn tuyệt nền tảng. Trong một môi trường không áp đặt phong cách, ông được trang bị kỹ năng bài bản và sự tự do cần thiết để học lại mọi thứ với tâm thế chủ động hơn. Song song đó, ông tham gia minh họa cho báo chí từ những năm 1970, công việc tiếp tục khi ông sang Mỹ định cư năm 1988 và cộng tác lâu dài với nhật báo Người Việt tại California.

Tác phẩm Đá cuội và Sách, tranh sơn dầu. Nguồn: Văn Việt - Họa sĩ Đinh Cường.
Làm báo không chỉ là kế sinh nhai, mà còn mở ra cho ông một không gian quan sát đời sống cộng đồng người Việt xa xứ. Những ghi nhận âm thầm ấy dần tích tụ, trở thành nền tảng cho các suy tư về tâm hồn con người sống trong cảnh “đất khách quê người”. Từ kỹ thuật in typo tại Vàng Son đến môi trường làm báo hiện đại ở California, mỗi trải nghiệm đều mở rộng thêm tầm nhìn của ông. Với Nguyễn Trọng Khôi, kiến thức không chỉ đến từ màu sắc hay kỹ thuật hội họa, mà còn từ những yếu tố ngoài chuyên môn, giúp ông suy nghĩ sâu hơn và làm dày nhân sinh quan của chính mình.
Sống nơi xứ người, ông luôn nhận mình là người “bị bứng rễ khỏi quê hương”. Chính vì thế, ông không để tranh mình bám vào hình ảnh quê nhà một cách trực diện. Ông hiểu rằng nếu nỗi nhớ chỉ dừng ở minh họa, nó sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Ông biết mình phải đào sâu vào những trăn trở nội tâm, nơi cô đơn và thân phận con người hiện diện trong im lặng. Giai đoạn vẽ tĩnh vật gốm kéo dài gần mười năm là minh chứng cho lựa chọn ấy. Những chiếc bình, đồ vật cũ hiện lên lặng lẽ, như những mảnh ký ức văn hóa Việt Nam lắng đọng. Với ông, vẽ không phải để nhìn cho rõ, mà để cảm nhận một trạng thái tinh thần đã rời xa nhưng vẫn còn vương lại.
Theo thời gian, mỗi giai đoạn sáng tác của ông biến chuyển một cách hữu cơ cùng trải nghiệm sống. Cái “mới”, từng được hiểu là kỹ thuật hay màu sắc, dần nhường chỗ cho một nhận thức sâu hơn: biểu đạt nằm ở độ chín của trải nghiệm. Những năm sống tại New England, cái lạnh và sương mù khiến bảng màu trở nên trầm lắng; khi chuyển sang Texas, ánh sáng thay đổi, nhưng nỗi bịn rịn với quê cũ vẫn còn nguyên.

Tác phẩm Mã Pì Lèng thuộc loạt Cao Nguyên Đá. Nguồn: Doanh Nhân Plus.
Nếu Andrew Wyeth vẽ nỗi u buồn của nông thôn Mỹ, thì Nguyễn Trọng Khôi mượn sự ảm đạm của New England để nhuộm màu cho cảm giác cô đơn viễn xứ. Hiện thực trong tranh ông không đứng yên, mà dần chuyển hóa sang biểu hiện, nơi hình ảnh chỉ còn là điểm tựa cho cảm xúc.
“Tâm hồn của người Việt Nam rời đi thì tâm hồn họ sẽ như thế nào, nhớ quê nhớ thế nào? Thành ra, tôi vẽ vật không phải để nhìn, mà để cảm thấy nó giống như thế.”
Từ những lời nhắc nhở của Nguyễn Trung về “thiếu không khí” đến lời răn của Văn Cao về việc “quá tính văn học”, Nguyễn Trọng Khôi đã trải qua nhiều năm quyết liệt gột bỏ ảnh hưởng. Ông xóa dần chi tiết, thu gọn hình ảnh để tìm ra một bản ngã độc lập. Đinh Cường nhìn nhận sự chuyển biến này như một quá trình quay vào bên trong, nơi cái “mới” không nằm ở hình thức mà ở chính con người ông.
“Tại sao tôi lại vẽ lúc nào màu nó cũng phớt phớt. Cái mờ đó ảnh hưởng nhiều lắm, như đất đai, như sự mộc mạc của quê hương nó lẫn trong đó.”
Nức nở những sắc độ
Nguyễn Trọng Khôi không xem các khuynh hướng sáng tác là ranh giới, mà như những miền đi qua. Tĩnh vật, con người hay trừu tượng đều là những trạng thái khác nhau của cùng một hành trình. Như nhận định của Huỳnh Hữu Ủy, đó là một quá trình di chuyển liên tục, để rồi trở về với hiện thực ở một cấp độ đã được chuyển hóa.
Tranh của ông luôn được xử lý kỹ, nhưng bao giờ cũng phủ một lớp mờ có chủ ý. Lớp mờ ấy giữ cho tranh không trượt sang cảm giác của ảnh chụp, đồng thời lưu lại nhịp điệu và cảm xúc cá nhân trong từng nét vẽ. Với ông, hội họa chỉ tồn tại khi còn giữ được “cái là mình” của người nghệ sĩ.

Tác phẩm Chân dung nhà văn Trần Doãn Nho, tranh bút chì trên giấy. Nguồn: Văn Việt - Nhà văn Trần Doãn Nho.
Cái u tịch trong tranh ông chịu ảnh hưởng rõ từ kỹ thuật ánh sáng tập trung của Rembrandt. Ánh sáng không chỉ chiếu vào vật thể mà còn soi rọi khoảng lặng xung quanh, tạo nên một độ “hẫng” cần thiết. Nếu Đỗ Quang Em đi đến tận cùng của sự nhẵn nhụi, thì Nguyễn Trọng Khôi chủ động giữ lại sự gồ ghề, để người xem chạm vào độ lắng của thời gian. Trong không gian ấy, như Trương Vũ và Đinh Cường từng nhận xét, luôn hiện diện một “hơi người” lẩn khuất trong ánh sáng hoài niệm.
Khi vẽ con người, ông không chú trọng diện mạo mà tập trung vào trạng thái tâm lý. Những hình thể mong manh hiện ra như đang đối diện với bất trắc đời sống. Trên nền tảng tay nghề vững chắc, ông lồng ghép các yếu tố “không thực”, tạo nên cảm giác lệch pha giữa hình ảnh và tinh thần. Loạt Cao nguyên đá cho thấy rõ điều này, khi lớp mây làm nhòe hiện thực thị giác, mở ra một không - thời gian khác cho tác phẩm.

Một số tác phẩm mới thuộc triển lãm Dõi bước nhân sinh tại Eight Gallery vào tháng 11 năm 2025. Nguồn: Artonis.
Càng về sau, ông càng chú trọng “không khí tranh” hơn là sự trung thành hình ảnh. Đứng ở vùng giao thoa giữa hiện thực, biểu hiện và trừu tượng, ông dùng hiện thực như điểm tựa để phóng thích cảm xúc. Với ông, trừu tượng không phải là phá hình, mà là một thái độ.
Cuối năm 2025, trong dịp trở lại Việt Nam, ông cùng họa sĩ Bùi Suối Hoa tổ chức triển lãm Dõi bước nhân sinh. Ở đó, người xem bắt gặp những hỷ nộ ái ố, những hoang mang trước điều phi lý của đời sống. Ông không đứng ngoài để phán xét, mà đi cùng con người, cảm nhận nhịp thở nặng nhọc rồi đưa lên mặt toan.
Bi thương và rực rỡ song hành trong loạt tranh này. Bi thương nằm trong dằn vật, cô đơn; rực rỡ đến từ niềm đam mê sáng tạo chưa từng cạn. Lớp màu được làm dịu như cố ý trì hoãn sự nhận diện, để cảm xúc có thời gian lắng lại. Đó cũng là cách Nguyễn Trọng Khôi nhìn con người và đời sống một cách lặng lẽ, không minh họa, không phán xét.
Đôi lời kết
Hơn năm mươi năm theo đuổi hội họa, Nguyễn Trọng Khôi như một người lữ hành miệt mài, dùng hội họa làm gậy chống để đi qua những khúc quanh của nhân sinh. Tranh ông không chỉ dừng ở cái đẹp, mà là một hành trình đào sâu không mệt mỏi để tìm câu trả lời cho cái chất riêng mà ông luôn khắc khoải.
Những lần trở về cố hương tổ chức triển lãm cũng là cách ông xoa dịu nỗi nhớ của người con xa xứ, để rồi khi còn sức sáng tác, ông vẫn tiếp tục góp thêm những mảnh vụn vào hành trình ấy, như một cách trả ơn hội họa đã đi cùng ông từ những ngày đầu vọc với bột than.
