Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Nguyễn Trọng Khôi: “Đi trong hỷ nộ ái ố để thấy bóng mình trưởng thành”

Nguyễn Trọng Khôi: “Đi trong hỷ nộ ái ố để thấy bóng mình trưởng thành”

Qua hơn nửa thế kỷ thực hành hội họa, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi không xem việc vẽ như một hành trình tìm kiếm phong cách, mà là quá trình đào sâu vào đời sống và nội tâm con người. Trong Dạo bước nhân sinh, những hình thể trần trụi và bất an không chỉ nói về người khác, mà còn là sự tự vấn của chính họa sĩ trước mất mát, cô đơn và giới hạn của kiếp người.

Nhân dịp họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi cùng họa sĩ Bùi Suối Hoa tổ chức triển lãm chung tại Eight Gallery (TP.HCM) vào tháng 11 vừa qua, chúng tôi có dịp gặp gỡ và trò chuyện cùng ông, lắng nghe những chia sẻ về hành trình sáng tác, về hội họa như một cách đi sâu vào nhân sinh, hơn là tìm kiếm những hình thức bề ngoài.

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi trò chuyện tại không gian triển lãm Dạo bước nhân sinh vào tháng 11, 2025 vừa qua. Nguồn: Artonis.

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi trò chuyện tại không gian triển lãm Dạo bước nhân sinh vào tháng 11, 2025 vừa qua. Nguồn: Artonis.

Q: Trong hơn 50 năm thực hành hội họa, ông đã đi qua nhiều phong cách khác nhau. Nếu nhìn lại toàn bộ hành trình ấy, đâu là mạch sáng tác mà ông cảm thấy gắn bó nhất?

Thật ra tôi vốn là một họa sĩ theo hiện thực, và tôi rất mê hiện thực. Tôi theo hiện thực ngay từ khi mới ra trường, bởi vì tôi được xem là có tay nghề để xử lý chi tiết.

Tuy nhiên, hiện thực trong tranh của tôi không phải là hiện thực thuần túy. Trong đó thường có lồng một phần mà người ta gọi là hiện thực huyền ảo, tức là có những yếu tố không hoàn toàn thực trong hình ảnh.

Càng về sau, tôi càng nghiêng về một dạng hiện thực mang tính biểu hiện. Đôi khi hình ảnh trong tranh không còn đại diện trực tiếp cho không khí mà tôi muốn trình bày nữa. Vì vậy, dù có thể vẫn gọi tôi là họa sĩ hiện thực, nhưng thực chất tôi theo đuổi biểu hiện thông qua hiện thực.

Q: Nhìn lại hành trình ấy, ông có thấy từng giai đoạn đời sống và cảm xúc đã âm thầm chi phối cách mình vẽ hay không?

Điều đó thì tất nhiên. Khi mới ra trường, suy nghĩ của mình còn rất đơn giản. Nhà trường trang bị cho tôi kỹ thuật, màu sắc và các phương tiện để bước ra ngoài, và họ luôn ủng hộ lứa chúng tôi tạo nên một không gian mới. Nhưng lúc đó, “cái mới” thực sự là gì thì mình chưa hiểu rõ.

Trong suốt nhiều năm, tôi vẫn vẽ những gì mình thấy trước mắt. Dần dần mới nhận ra rằng cái trước mắt chỉ là để nhìn, còn cái thể hiện thực sự lại nằm phía sau đó. Sự thay đổi này diễn ra theo từng độ tuổi, cùng với sự trưởng thành của con người và trí tuệ. Nó không tự nhiên mà biến đổi, mà là một quá trình tích lũy và chuyển biến dần dần mà tôi tự ngẫm thấy.

Q: Được biết ông hoạt động báo chí và tiếp xúc với giới văn nghệ từ rất sớm. Những trải nghiệm đó đã âm thầm tác động đến tư tưởng sáng tác của ông ra sao?

Đó là một may mắn lớn đối với tôi. Tôi gắn bó khá nhiều với báo chí, với các sinh hoạt báo chí, và cả những kỹ thuật liên quan đến ngành in. Từ thời in typo cho đến offset, rồi các công đoạn làm phim, chế bản, tôi đều có dịp tiếp xúc và học hỏi. Tôi học được ở đó sự chuyên cần và kỹ thuật của những người làm nghề. 

Bên cạnh đó, việc viết thơ, minh họa báo, đọc tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn… tất cả những thứ ấy dần dần thấm vào mình lúc nào không hay. Kiến thức của tôi vì thế không chỉ được bồi đắp từ màu sắc hay chuyên môn hội họa, mà còn từ những lĩnh vực khác, giúp tôi có tầm nhìn rộng hơn và những suy nghĩ sâu hơn. Đó là một lợi ích không phí chút nào.

Quyển sách Artbook Thế giới Hội họa của Nguyễn Trọng Khôi, NXB Hội Nhà Văn. Nguồn: Artonis.

Quyển sách Artbook Thế giới Hội họa của Nguyễn Trọng Khôi, NXB Hội Nhà Văn. Nguồn: Artonis.

Q: Trong tranh của ông, con người thường xuất hiện trong trạng thái trần trụi, bất an, mang nhiều ưu tư nguyên thủy. Đây có phải là cách ông đối diện trực tiếp với câu chuyện nhân sinh?

Trong tranh của tôi luôn có những mô-típ và ký hiệu mà tôi gửi gắm, và để người xem tự tìm ra. Cũng như trong loạt tranh lần này tên Dạo bước nhân sinh, tôi xoáy vào một góc của đời sống. Cuộc sống này vô chừng lắm: hỉ, nộ, ái, ố, phần lớn là những điều chúng ta không kiểm soát được. Trong mỗi con người luôn tồn tại những mơ hồ, hoài nghi và bất trắc.

Những hình ảnh tôi vẽ giống như sự phơi bày con người trước hiểm nguy và bất an của đời sống. Nỗi khổ của con người đôi khi rất mơ hồ, không nhìn thấy rõ, nhưng nó là một thực thể có thật. Mỗi bức tranh đều có cái đẹp riêng, rất khó nói bức nào đẹp nhất. Nhưng có một bức được chú ý vì đó là bức mới nhất, vừa vẽ xong chưa kịp khô đã mang đi trưng bày. Bức tranh đó mang một ưu tư, một bi kịch của đời sống. Tôi dùng hình ảnh con bê đi tìm mẹ, và thấy mẹ nó đã bị lột da trong phòng mổ. Cuộc sống có những tàn nhẫn như vậy.

Tôi tạm gọi tinh thần chung của loạt tranh này bằng hai chữ: bi thươngrực rỡ. Trong đó có tất cả những lẩn khuất của đời sống. Con người không ai sống hoàn toàn trần trụi. Ai cũng mang mặt nạ, có cái giấu đi, có cái phô ra. Chúng ta đều có những vai diễn trong cuộc sống, và đó chính là điều tôi muốn nói tới. 

Q: Ông từng chia sẻ mình đến với trừu tượng từ hiện thực. Với ông, trừu tượng thực sự bắt đầu từ đâu?

Trừu tượng không phải là biến cái này thành cái khác, hay làm nhòe hình ảnh. Trừu tượng là một ý kiến. Phóng một đường nét là một ý kiến, đổ màu hay tạo không gian cũng là một ý kiến. Trừu tượng xuất phát từ cảm xúc. Khi đang yêu, cảm xúc phấn chấn rất khác khi buồn, nhưng nó không cần hình ảnh cụ thể nào cả. 

Trừu tượng không phải là bóp méo hình ảnh, cái đó trong hội họa gọi là kiểu thức hóa, như Picasso bóp méo chân dung chẳng hạn. Với tôi, nó là thái độ, là hành động theo cảm xúc. Giống như buổi bình minh: nó không “vẽ” gì rõ ràng, nhưng tại sao ta lại thấy rạo rực? Đó chính là trừu tượng.

Có lần tôi nghe hai người xem tranh cãi nhau: người thì bảo giống đám mây, người thì bảo giống con ngựa. Khi hỏi tôi vẽ gì, tôi nói là tôi không vẽ gì cả. Điều đó không có nghĩa là không có gì trong tranh. Người họa sĩ vẽ bằng tâm trạng. Người xem nếu xem nhiều, xem kỹ, có thể nhận ra chỗ nào họa sĩ đang căng thẳng, đang bế tắc hay đang hạnh phúc. 

Vì thế, tôi ngẫm ra, xem tranh cũng cần phải học. Trừu tượng không phải là vung vãi tùy tiện, mà là kết quả của nội lực và kinh nghiệm. Có thể nói, tôi đã đi trong hỷ nộ ái ố để thấy bóng mình trưởng thành trong hội họa là vậy.

Một góc trưng bày những sáng tác mới của họa sĩ tại Eight Gallery. Nguồn: Artonis.

Một góc trưng bày những sáng tác mới của họa sĩ tại Eight Gallery. Nguồn: Artonis.

Q: Nếu quay ngược lại quá khứ, khoảnh khắc nào đã khiến ông biết chắc rằng mình sẽ đi cùng hội họa suốt đời?

Tôi bắt đầu vẽ từ rất sớm, từ hồi tiểu học, cũng không biết vì sao mà vẽ. Vẽ lên gỗ, vẽ đủ thứ, và tranh trong lớp hầu như toàn là của tôi, thầy giáo treo khắp nơi. Lên trung học cũng vậy. Hội họa là phần thưởng duy nhất tôi luôn có. Các môn tự nhiên thì kém, nhưng những dịp làm sân khấu cuối năm của trường, tôi luôn là người vẽ.

Một lần, có người bạn cùng lớp thi đậu vào trường Mỹ thuật. Tôi nghĩ, nếu bạn ấy làm được thì chắc mình cũng có thể, thế là đi thi. Bài phỏng họa, người ta vẽ bằng bút chì, còn tôi vẽ bằng bột than, vì đã quen từ trước. Kết quả tôi đậu hạng ba, điều đó làm tôi rất vui. Vào trường rồi, tôi mới hiểu thế nào là nền tảng hội họa. Trước đó vẽ hoàn toàn tự phát, quen tay là chính.

Còn danh xưng thì thường là người khác đặt cho mình. Tôi chỉ nghĩ mình là một người học hội họa, sinh hoạt hội họa: học vẽ, đi xa, thao thức về quê hương, rồi trở về triển lãm để chia sẻ. Tôi không nhớ đây là lần triển lãm thứ mấy ở Việt Nam, chỉ biết mỗi năm được về, có tác phẩm mới, tôi đều muốn chia sẻ trước hết với những người ở quê hương, trong một không gian gần gũi như Sài Gòn là vui rồi.

Q: Trong quá trình học tập, có người thầy nào ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định ảnh hưởng mạnh mẽ đến ông không?

Tôi rất quý mến các thầy, và các thầy cũng thương tôi. Nhưng về mặt hội họa, ngay từ trong trường, thầy đã nói rất rõ: nhà trường chỉ trang bị cho bạn phương tiện, còn khi ra ngoài, bạn phải mở ra một không khí mới.

Vì vậy, khi ra ngoài, tôi không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi một thầy nào trong trường. Những người thầy ảnh hưởng đến tôi nhiều hơn lại là những bậc thầy của thế giới, chẳng hạn như Rembrandt, đặc biệt về hình họa và ánh sáng. Có lẽ vì thế mà cái nhìn của tôi hướng ngoại hơn, nghiêng nhiều hơn về hội họa phương Tây.

Các sáng tác mới thuộc triển lãm Dạo bước nhân sinh (2025). Nguồn: Artonis.

Các sáng tác mới thuộc triển lãm Dạo bước nhân sinh (2025). Nguồn: Artonis.

Q: Suốt quá trình học tập và thực hành từ những năm 70, quan niệm của ông về kỹ thuật và giá trị hội họa như thế nào?

Trước khi vào trường, tôi vẽ bột than vì thấy người ta làm thế thì mình cũng làm, và làm được. Nhưng vào trường rồi mới biết, bút chì có sự uyển chuyển, chi tiết và khả năng phóng nét mà bột than không có.

Vẽ kỹ không có nghĩa là vẽ giống máy ảnh. Hội họa quý ở chỗ thể hiện được tinh thần của người mẫu, chứ không phải sao chép hình ảnh. Một bức tranh có thể không giống ảnh chụp, nhưng nó có cái mà máy ảnh không có: tâm trạng và tài hoa của người họa sĩ.

Tôi rất chạnh lòng khi người ta khen tranh bằng câu “vẽ như hình chụp”. Có lần tôi không bán tranh cho một người chỉ vì họ khen như vậy. Máy ảnh thì chụp đẹp hơn nhiều. Hội họa phải có bút pháp, phải có character, cái chất riêng của người vẽ.

Tôi vẽ kỹ, nhưng không bao giờ vẽ nhuyễn, không thích mượt mà quá. Tôi chuộng cái thô mộc, và từng có một giai đoạn dài vẽ màu trầm, rất trầm. Điều đó chịu ảnh hưởng nhiều từ quãng thời gian tôi sống ở vùng New England, nơi quanh năm mây mù, ảm đạm, nhưng lại rất gợi cảm.

Q: Được biết ông rời Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1988, nỗi hoài niệm về quê hương ảnh hưởng đến sáng tác của ông ra sao?

Tôi từng nói với báo chí rằng mình là người bị “bứng rễ khỏi quê hương”. Nhưng khi sang bên kia, tôi không thể dùng trực tiếp hình ảnh quê hương để xây dựng tác phẩm như thuyền, đồng lúa, mái nhà tranh hay cô gái đội nón. Những hình ảnh đó không tạo được sự đồng cảm ở môi trường mới, và dễ khiến mình trì trệ.

Tôi phải nghĩ khác đi: tâm hồn người Việt khi rời quê hương sẽ như thế nào? Nỗi nhớ ấy rất mơ hồ. Có lúc chỉ là cảm giác như tiếng sáo diều, hay sự khác biệt rất nhỏ giữa cây lúa ở đây và cây lúa ở bên kia. Có một giai đoạn dài tôi vẽ tĩnh vật, đặc biệt là gốm. Gốm của tôi không phải gốm ngoại quốc, mà mang tinh thần Á Đông, cụ thể là Việt Nam, không phải Trung Hoa, không phải Ấn Độ. Đó là cách tôi giữ lại quê hương trong hội họa của mình.

Việc sinh sống tại Boston rồi sau này chuyển sang Texas mang lại những cảm hứng mới cho tôi. Nội dung và tâm hồn thì vẫn là của mình, nhưng cách trình bày, bố cục, màu sắc có thể hiện đại hơn, khác đi tùy theo môi trường sống. Tôi vẫn thường dùng màu trầm, nhưng trong cái trầm đó có thêm một chút u tịch. 

Tôi vẽ rất kỹ, nhưng luôn phủ lên một lớp mờ mờ. Lớp đó mang theo cảm giác đất đai, gốm, sự mộc mạc của quê hương, hòa vào một thế giới mới hiện đại hơn.

Q: Có ý kiến cho rằng nghệ thuật không nên minh họa cho một tư tưởng sẵn có. Ông nhìn nhận điều này như thế nào?

Quan điểm này tôi học được từ nhạc sĩ Văn Cao. Có lần ông xem tranh tôi và nói: “Tranh của cậu nhiều tính văn học quá. Thế thì đi làm nhà văn cho rồi.”

Ý niệm trong tranh không phải để minh họa cho một điều gì đó. Hội họa không phải là chuyển dịch hay đại diện cho một tư tưởng sẵn có. Nó không chỉ làm đẹp, mà còn phải gửi gắm một điều gì đó vượt ra ngoài minh họa.

Những triển lãm trước có phần dung dị, hiền hòa hơn. Lần này tôi xoáy mạnh vào vấn đề nhân sinh, rất đa dạng và phức tạp. Với 18 tác phẩm lần này, tôi tạm coi đó là một chặng, một cách nhìn về đời sống con người ở thời điểm hiện tại, có thể sang năm, cách nhìn ấy sẽ lại khác.

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi xem lại hành trình hội họa của mình trong Artbook. Nguồn: Artonis.

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi xem lại hành trình hội họa của mình trong Artbook. Nguồn: Artonis.

Q: Từ trải nghiệm của mình, ông nhìn nhận thế nào về cơ hội, thách thức của nghệ sĩ Việt hôm nay, đặc biệt trong câu chuyện ảnh hưởng và ‘mặt nạ’?

Việt Nam hôm nay đã tiến rất xa so với mười năm trước. Có nhiều họa sĩ vẽ rất hay, và có sự tiến bộ vượt mức, họ tìm ra những không gian mới, cách trình bày táo bạo, dám làm, điều đó rất đáng khen.

Tuy nhiên, cũng có những sự táo bạo vay mượn từ bên ngoài. Nếu không thoát ra khỏi việc bắt chước đó thì sẽ dẫn đến trì trệ. Ảnh hưởng là điều không tránh khỏi, nhưng phải biến nó thành của mình. Tôi quan niệm như này: nếu đeo mặt nạ của người khác quá lâu, ta sẽ trở thành họ và đánh mất chính mình.

Trong đời sống, ai cũng phải đeo mặt nạ. Ra ngoài xã hội, để bảo vệ bản thân hay tồn tại, chúng ta đều mang những vai diễn khác nhau. Điều đó vừa cần thiết, vừa nguy hiểm, và tôi nghĩ điều đó làm mình suy nghĩ khá nhiều, nên loạt tranh mới này, tôi cũng dành vài bức gửi gắm cái trăn trở đó.

Q: Ông có cảm thấy khoảng cách thế hệ giữa mình và các nghệ sĩ trẻ sau năm 2000? Và nếu có thể, ông muốn nhắn gửi điều gì?

Khoảng cách thì chắc chỉ nằm ở sự già nua (cười). Thật ra không thể cho lời khuyên gì cả, vì mỗi thế hệ có con đường riêng của họ. Tôi chỉ có thể nói một điều rất cũ nhưng luôn đúng: làm việc thật nhiều. Không làm việc thì không ra được gì cả. Trong quá trình làm việc, những bất ngờ và ngẫu hứng sẽ xuất hiện, và chính những điều đó có thể dẫn đến những kết quả mà mình không thể tưởng tượng trước.

Chúng tôi không ảnh hưởng trực tiếp đến nhau, nhưng vẫn có thể nhìn nhau, hỗ trợ và khuyến khích nhau cùng đi tiếp.

Cảm ơn ông đã chia sẻ, chúc ông luôn giữ sức khỏe và sớm trở lại Việt Nam với những triển lãm mới!

Bài trước Bài tiếp theo