Hoạ sĩ Lê Triều Điển là một người con của miền Tây sông nước. Ông sinh ra và lớn lên ở huyện Chợ Lách, Bến Tre vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước. Chính vùng đất, văn hoá và con người nơi đây đã nuôi dưỡng và tạo nên một vị danh họa “có một, không hai” của mỹ thuật Việt Nam.
Hành trình dài un đúc lửa nghệ thuật
Nếu được ví von, có lẽ, Lê Triều Điển chính là viên ngọc thô, may mắn được tìm thấy từ rất sớm. Khi bồi hồi nhớ lại, ông kể rằng từ năm lên 3 tuổi cái hồn của người hoạ sĩ đã có trong một Lê Triều Điển nhỏ bé. Chính nhờ những lần vẽ tặng bạn bè trên giấy tập, những hôm nghịch đất nặn trâu ngoài ruộng… và quan trọng nhất là sự xuất hiện và đồng hành của vợ - nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh trong hơn 50 năm cuộc đời - đã nuôi dưỡng con người và xây dựng tính nghệ thuật trong ông. Với ông, những thứ đó không đơn thuần là sự công nhận về tài năng, mà còn là lời tuyên ngôn ủng hộ, tuy âm thầm nhưng hết sức mạnh mẽ - cái vốn cần có để đặt nền móng vững chắc cho một danh họa tài ba.
Với bản tính đam mê tìm tòi, học hỏi, Lê Triều Điển đã tận dụng tốt cơ hội của mình khi học ở Sài Gòn. Cậu sinh viên ngày ấy đã không bỏ sót bất kỳ tài liệu mỹ thuật hay triển lãm hội hoạ nào của các nghệ sĩ tên tuổi như Thái Tuấn, Tạ Tỵ, Lê Trung, Ngọc Dũng… Mặc dù, không được đào tạo chính quy, nhưng sự ham mê ấy đã un đúc cho ông những kinh nghiệm quý báu trên con đường theo đuổi nghệ thuật.

Lê Triều Điển, Ký ức Huế, 2012. Nguồn: Báo thanh Niên.
Khi tham gia chiến đấu tại Đà Nẵng, ông gặp những người đồng đội cũng làm nghệ thuật giống mình: Phạm Văn Hạng, Cao Bá Minh, Nghi Cao Nguyên… Nơi chiến trường khốc liệt, vẽ tranh như một liều thuốc làm dịu cơn đau đối với người hoạ sĩ. Trong giai đoạn những năm 1960, ông đã cho ra đời hàng chục tác phẩm, đến năm 1967, ông tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên tại nơi ông phục vụ công tác. Các tác phẩm của ông thời kỳ này thường là về những cảnh mùa thu có rừng Tam Quan, trụi đọt dừa hay những đêm trăng tĩnh lặng. Ông thể hiện góc nhìn chiến tranh qua lăng kính lãng mạn của bản thân, phần nào cũng là ước mong ngày hoà bình của một người lính.
Sau giải phóng, ông là người tiên phong phát triển nghệ thuật tại địa phương. Lê Triều Điển chính là cái tên hoạt động nghệ thuật cực kỳ sôi nổi tiêu biểu lúc đó. Ông là người cầm trịch quy tụ các anh em trong giới hoạ sĩ thành tổ hội hoạ. Bước đầu, nhóm thường xuyên vẽ khẩu hiệu để duy trì cuộc sống. Sau cơ duyên gặp gỡ hoạ sĩ Thanh Châu, ông cùng những người bạn của mình tổ chức triển lãm đầu tiên mang tên "Đồng Bằng Sông Cửu Long".

Lê Triều Điển, Ký ức Mekong, sơn dầu, 2020. Nguồn: TRieu Dien artist.
Hành trình nghệ thuật của Lê Triều Điển bắt đầu với đất sét, viên gạch và nét cọ đậm chất ấn tượng, biểu tượng. Hành trình ấy được tiếp nối khi ông thử sức và theo đuổi trường phái trừu tượng sau này. Tranh của ông là sự pha trộn giữa trừu tượng hình học và tiến đến gần hơn với trừu tượng cảm xúc. Với người nghệ sĩ tài hoa, cảm hứng đến với ông theo một lẽ hết sức tự nhiên. Tất cả là nhờ dòng chảy được hình thành trong con người từ thuở ấu thơ, nuôi dưỡng và phát triển qua quá trình ông lớn lên ở vùng sông nước, và niềm đam mê mãnh liệt với những công trình văn hoá cổ từ nhiều nền văn minh lớn.
Nghệ thuật là không giới hạn
Người nghệ sĩ Lê Triều Điển mang trong mình một tâm hồn rộng lớn, vì vậy, chỉ có những bức canvas cỡ lớn dài hàng chục mét mới chứa đựng hết những xúc cảm đang chảy cuồn cuộn trong con người ông. Không phỏng theo một khuôn mẫu sẵn có, hay hình hoạ cơ bản nào, ông tạo cho mình những kí hiệu rất riêng, cùng với màu sắc mang hơi hướng trầm tích, đậm vị phù sa của sông Mekong. Chúng là đại diện cho dòng sông mênh mông, nơi đã “bồi đắp phù sa” cho tâm hồn người nghệ sĩ. Có lẽ, với một người xem tranh, những kí hiệu ấy thật khó hiểu và chẳng thể lý giải nổi. Nhưng với ông, đó là trăn trở cả một đời về quê hương, về nguồn cội, về văn hóa Khmer, Óc Eo nơi chôn nhau cắt rốn. Lê Triều Điển gọi tranh của bản thân là những xúc cảm sâu thẳm, chúng không đại diện cho bất kỳ trường phái cụ thể nào, mà thay vào đó, lại mang đậm hơi thở của thời đại.

Lê Triều Điển, Hành trình phương Tây (bên trái), Hành trình phương Đông (bên phải), sơn dầu, 2019. Nguồn: TRieu Dien artist.
Bên cạnh những nét cọ trên giấy, ông cũng rất say mê chất liệu đất nung. Lớn lên với quê hương đất sét, ông luôn trăn trở làm sao để chất liệu mộc mạc này trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Chính vì lẽ đó, Lê Triều Điển thường cùng với vợ mình đi điền dã tại các xưởng gốm, các lò đất nung khắp các tỉnh miền Tây để tìm nguồn cảm hứng sáng tác. Những sáng tác gốm của ông cũng mang đậm âm hưởng của văn hoá Chăm và Khmer như một phần không thể tách rời, nhưng ẩn sâu bên trong vẫn ghi dấu bản sắc cá nhân mạnh mẽ của người nghệ sĩ độc đáo này. Suốt hành trình sự nghiệp của mình, ông luôn đau đáu làm sao để thổi hồn vào đất. Với mong muốn đó, rất nhiều tác phẩm gốm xuất sắc đã được ra đời dưới bàn tay khéo léo của người nghệ sĩ. Vào những năm 2000, triển lãm đầu tiên của Lê Triều Điển với toàn bộ tác phẩm là gốm đất nung - "Tiếng nói của đất" - được tổ chức, đánh dấu bước khởi đầu cho hành trình phát triển của chất liệu dân dã này.

Vợ chồng hoạ sĩ Lê Triều Điển - Nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh. Nguồn: Báo Vĩnh Long.
Vị hoạ sĩ chân chất Lê Triều Điển lần đầu ghi dấu với nghệ thuật thế giới khi một nhà sưu tập lớn người Pháp tình cờ biết đến và mua lại toàn bộ tác phẩm ông đã sáng tác trong suốt nhiều năm. Cơ hội này là bàn đệm giúp tranh của Lê Triều Điển có mặt trong hàng trăm cuộc triển lãm lớn nhỏ trên toàn thế giới, góp phần ghi tên Việt Nam trên bản đồ nghệ thuật quốc tế.

Lê Triều Điển, Chuông 1, tác phẩm gốm, 2021. Nguồn: TRieu Dien artist.
Xuất thân là một người hoạ sĩ dung dị, hơn ai hết, ông hiểu những khó khăn và trăn trở của một người theo đuổi nghệ thuật không chuyên. Chính vì vậy, Mekong Art được thành lập để giúp đỡ và kết nối cộng đồng nghệ sĩ ở khu vực Nam bộ. “Mekong là dòng sông lớn bao phủ các nền văn hoá của nhiều nước, không chỉ riêng miền Tây Nam bộ. Cái tên Mekong Art ra đời với mong muốn không làm bó hẹp không gian sáng tác nghệ thuật của anh em hoạ sĩ” - Lê Triều Điển chia sẻ.
Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghệ thuật, Lê Triều Điển đã để lại một di sản mang đậm dấu ấn cá nhân nhưng đồng thời cũng phản chiếu tâm hồn của cả một vùng đất sông nước. Tác phẩm của ông vừa dung dị, mộc mạc, vừa mãnh liệt và mới mẻ như chính con người miền Tây mà ông là đại diện tiêu biểu. Với sự say mê không ngừng nghỉ, ông đã góp phần mở rộng biên độ cho mỹ thuật Việt Nam, đưa tiếng nói của quê hương hòa vào dòng chảy nghệ thuật thế giới. Lê Triều Điển, vì thế, không chỉ là một danh họa độc bản, mà còn là một minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ của nghệ thuật Việt Nam qua thời gian.
Tin bài liên quan
Lê Triều Điển: Con đường nghệ thuật là phải tự nuôi dưỡng lấy
Hành trình nghệ thuật của họa sĩ Lê Triều Điển, dẫu nhiều lần bị tì đè bởi những khúc quanh của biến chuyển thời thế, vẫn không hề phai ngớt những bản sắc cốt lõi làm nên phong cách trừu tượng đặc trưng của mình. Giữa những năm tháng chiến tranh bất ổn, rồi đến bao nhiêu cơ cực của ngày đầu hòa bình, họa sĩ Lê Triều Điển vẫn lách được những không gian riêng để âm thầm hun đúc, dùi mài và nở rộ tài năng. Một dịp may mắn, chúng tôi đã có cơ hội được trò chuyện và nghe họa sĩ kể lại một phần trong hành trình nuôi dưỡng con đường nghệ thuật của mình. Lê Triều Điển, Hành trình phương Tây (bên trái), Hành trình phương Đông (bên phải), sơn dầu, 2019. Nguồn: TRieu Dien artist. Xin chào họa sĩ Lê Triều Điển! Cảm ơn anh đã đồng ý tham gia buổi phỏng vấn hôm nay. Khi nhắc đến tranh của họa sĩ Lê Triều Điển, những người theo dõi hội họa sẽ nghĩ ngay tới lối vẽ trừu tượng kết hợp những ký hiệu kỷ hà về nền văn minh Phù Nam hay văn hóa sông nước Đồng bằng Sông Cửu Long. Điều gì trên hành trình hội họa của mình đã khiến anh say mê ký hiệu văn hóa cổ đến vậy và đưa anh hình thành nên lối vẽ đặc trưng đó? Cái con đường nghệ thuật của mình nó là tự bản thân, tự phấn đấu, làm thế nào cũng phải tự nuôi dưỡng cái nghệ thuật của mình. Lúc đầu thì tôi cũng vẽ ấn tượng rồi biểu tượng vậy thôi; cũng cảnh mua thu, chiến tranh, cũng có rừng Tam Quan, đọt dừa, đêm trăng đồ đó. Cái chuyện ngôn ngữ ký hiệu này là do nó ẩn từ ở đâu bên trong mình. Mình đi các miếu mạo, đọc về các văn hóa từ Mê Kông, từ Tây Tạng tới Thái Lan, Miến Điện; những cái đền đài, những cái Angkor Wat, rồi những cái Tháp Chàm ở Mỹ Sơn mình cũng đến thăm; ở châu Phi, ở Pháp, ở châu Á có nhiều hang động mang những cái nét cổ. Mình rất thích thú trước những công trình cổ và tư liệu đó. Thì cái sự ưa thích đó nó thâm nhập vào mình, rồi tự động xào nấu thế nào đó mình cũng không biết, đến khi nó lôi cuốn thì mình cho ra. Cái đó rất tự nhiên khi mình vẽ. Nó giải thích cũng được mà không giải thích cũng được. Khi mình lên một số nét hình, tự nhiên nó kéo mình. Nó kéo mình biến hóa, cái này phải chuyển qua đây, cái này phải chuyển xuống đây, cái này phải đưa hình tượng này, cái này phải chuyển qua nét kia. Nó gần như giống người ta nói là bị nhập đồng vậy đó. Lúc vẽ thì mình cứ thoải mái luôn. Khi vẽ xong mỗi tấm, nhất là tấm hai mấy mét thì mình mới thấy đã, coi rất là thích thú. Xong cái mình lại chán, muốn vẽ nữa. Thành ra những cái đó nó định hình từ từ tự nó, do mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm mình đều bổ sung, cập nhật những cái văn hóa nghệ thuật thế giới. Rồi mình còn giao tiếp bạn bè, họa sĩ nước ngoài, đàm luận với nhau chuyện này chuyện kia. Nó tác động âm thầm. Mỗi người có một cách tiếp cận con đường của mình. Còn riêng tôi là hình như nó có từ bên trong. Bên cạnh nuôi dưỡng chất liệu cá nhân từ những vẻ đẹp mình nhìn ngắm được ở xung quanh, bản thân anh cũng là một người xuất thân sông nước, lớn lên giữa không gian đậm đà văn hóa Nam Bộ. Anh có nghĩ rằng điều đó chính là nền tảng cho tất cả cảm hứng nghệ thuật của mình sau này không? Tôi nghĩ, không riêng gì nghệ sĩ mà với tất cả, cái nơi sinh trưởng ảnh hưởng lớn tới tâm hồn của một con người. Nhất là quê hương của mình, nó gắn bó rất âm thầm, không lý giải được. Nó ăn sâu vừa trong máu, vừa tính cách. Tuổi nhỏ mình đi qua sông, những mùa mưa bão. Rồi những đêm đi thuyền, ngồi trên ghe, nằm ngửa trên ghe là thấy sao đầy trời. Sông nước mênh mông. Thời đó còn cá sấu, nó nổi lềnh bềnh trên sông xa xa, ông bố chỉ soi đèn mà nó xanh là cặp mắt của cá sấu. Những cánh chim quẹo vào bờ. Đảo bờ cù lao là thấy bìm bịp, thấy còng cọc lội dưới nước. Rồi qua câu hò, câu hát của những bà mẹ, bà ngoại; những cái đời sống ca dao, hò, vè, văn chương của Tây Nam Bộ; những cái đờn ca tài tử Nam Bộ. Thuở nhỏ gần như là mình đã thấm đẫm rồi. Mình đi qua những đền đài, chùa, miếu, qua những cái điêu khắc của Khmer Nam Bộ, những cái văn hóa, hình tượng. Những cái đó ẩn sâu trong người, có khi mình không kiểm soát được. Tự nhiên tới lúc là nó tuôn tràn, mình làm tranh thì nó ẩn trong đó mà mình không hay biết. Lê Triều Điển, Delta, sơn dầu, 2013. Nguồn: Gallerie Dumonteil. Vậy thì hành trình bén duyên với hội họa của anh hẳn cũng rất tự nhiên khi anh được sinh ra và lớn lên trong không gian giàu tính nghệ thuật như vậy? Bản thân là có năng khiếu từ nhỏ rồi. Năm 3 tuổi là đã muốn vẽ rồi. Vô học cấp một là vẽ đầy trên tập cho các bạn bè ngồi kế bên. Nhiều thằng bạn nó mua tập 100 trang đưa cho tha hồ vẽ, hết rồi cái cất, nó mua quyển khác. Mà mỗi lần vẽ như vậy là đi học ăn sáng ăn trưa nó bao hết. Ngồi trước cái sân nền xi măng ở huyện Chợ Lách dưới quê mình, hồi xưa Bến Tre bây giờ là Vĩnh Long, thì mình lấy gạch, mình vẽ cái nhà thờ, vẽ mấy cái nhà có cái hình thang, rồi hình tam giác, rồi có mấy cái cột xuống, rồi vẽ vách nhà rách này kia. Không ai dạy cho hết. Mình học từ những người bạn nhỏ với nhau, thằng này vẽ cái này thằng kia vẽ cái kia, hai ba thằng xúm nhau vẽ. Còn ra ruộng là biết móc đất sét nắn con trâu con bò rồi. Giai đoạn từ khi anh sinh ra và cho đến lúc bắt đầu chạm ngõ hội họa ở Sài Gòn cũng là thời kỳ đất nước trải qua nhiều biến động. Con đường nghệ thuật của anh đã mở ra như thế nào trong những ngày tháng đó? Từ tiểu học là tháng 5 nào mình cũng lãnh thưởng ưu hạn hết. Còn nói về vẽ là số một luôn. Ba cái trái ổi, trái cam, đu đủ gì đó, mình vẽ là mình đứng đầu hết. Nhưng mà khi xong cái trung học mình dở lở, mình vô trường công không được. Mình mới suy nghĩ là bây giờ đi lên Sài Gòn luôn, nạp đơn thi vô mấy cái trường trung học công. Thì mình bỏ tỉnh lên Sài Gòn, rủ vài người bạn theo lên thi trường công. Đậu luôn! Đậu cao nữa! Mà hồi đó mình không biết, mình vô cái trường Kỹ thuật Cao Thắng. Hồi đó nó gọi là trường Bá Nghệ chứ không phải trường kỹ thuật. Mình tưởng nó có đủ trò hết, nghề gì cũng có thì chắc vô đây là ngon rồi. Vô cái trường Cao Thắng thì may mắn mỗi tuần có 1 - 2 giờ mỹ thuật. Toàn là danh họa họ dạy không. Mỹ thuật Đông Dương, Mỹ thuật Paris, Mỹ thuật Gia Định đồ đó. Thì như thế mình được học sơ sơ, mình mê lắm. Dần dần mình thấy là mình vẫn học khoa học kỹ thuật bình thường, lên năm đều đặn, thi trung học đỗ luôn, nhưng mà có cái là mê vẽ. Đi ra trước trường Cao Thắng hồi xưa ở đường Huỳnh Thúc Kháng, Quận Nhất là sát trung tâm Lê Lợi, ra đường sách, ra nhà sách Khai Trí, lên thư viện Abraham Lincoln của Mỹ, vô coi xi-nê toàn phim hay không. Thì như thế mình được đọc thêm, tìm hiểu hội họa, những cái sách của Thái Tuấn, của nhóm sáng tạo câu chuyện hội họa. Rồi mình qua Khai Trí, mình đọc được một số sách của các danh hoạ thế giới họ giới thiệu tác phẩm. Và vô thư viện Mỹ là coi tất cả lịch sử mỹ thuật thế giới luôn, đầy đủ hình ảnh chi tiết từ Ai Cập cổ đại cho tới hiện đại. Nhờ bổ sung cái đó nó mới hun đúc cho mình căn bản nghệ thuật ở trong người. Tôi lên Bách Khoa học hai năm rồi cái tôi bỏ. Trong lúc đó là lúc nào cũng vẽ tranh, lúc nào cũng mê hội hoạ, lúc nào cũng tìm sách vở để đọc thêm. Lúc đó sách hội họa Việt Nam mình rất là hiếm, ít lắm, chỉ có sách nước ngoài thôi. Cái gì mà thấy đẹp, sách vở nghệ thuật, nghiên cứu, tư liệu, đền đài, triển lãm, bảo tàng là tự nhiên nó kêu gọi mình tới. Nó có sẵn bên trong mình, gần như là nếu không có nó thì mình không thể nào sống được. Không có nó, mình không thể tiếp tục cuộc sống. Chỉ có cái đó mới làm cho mình hưng phấn trong đời sống hàng ngày. Mà thời gian học ở Cao Thắng với Bách Khoa đó là tôi liên tục đi xem triển lãm. Nhiều danh họa triển lãm liên tục ở Hội Việt Mỹ, Trung tâm Văn hóa Pháp, Nhật. Có nhiều họa sĩ ở Đài Loan chuyên vẽ ngựa qua triển lãm thì mình cũng xem. Mình học được một số kinh nghiệm của những người đi trước. Hai tác phẩm của Lê Triều Điển trưng bày tại Art Central Hong Kong 2016. Nguồn: TRieu Dien artist. Khi tôi kẹt vô trong lính thì tôi không đi Thủ Đức. Tôi thấy bây giờ mình phải kiếm cái ngành gì đừng có bắn nhau. Thành ra, có người bạn họ đưa vô không quân. Vô thì toàn gặp dân họa sĩ. Lúc đó mình ra Đà Nẵng, mình bắt đầu có cuộc sống riêng, mình bắt đầu vẽ, năm 60 - 65. Năm 67 tôi làm triển lãm cá nhân lần đầu tiên ở Đà Nẵng, coi như khai bút. Cái lần triển lãm đầu tiên đó đối với riêng mình là một dấu mốc rất là quan trọng. Nó rất lớn đối với mình là vì sao: những cái hun đúc của mình vẽ mỗi lần 5 - 7 tấm rồi mình gom lại. Thời kỳ chiến tranh mà có một số lượng tranh như thế là không phải dễ. Rồi thêm nữa là triển lãm xong có một chị coi gallery bán tranh cho Mỹ, chị nói bây giờ bán chị mua hết. Lúc đó mừng quá, mình chịu luôn. Thằng bạn tôi nó thấy bán được tranh, nó nói giờ tao cưới vợ mà thiếu tiền, mày cho mượn hết số tiền đó đi. Mình OK luôn! Thì đó là một cái kỷ niệm với bạn bè cũng lớn, sâu đậm. Thì từ đó mình bắt đầu triển lãm ở Đà Nẵng, xong tham gia ở triển lãm hộ dân Mỹ ở Cần Thơ. Năm 69 - 70 mình quay về Cần Thơ, triển lãm hội Việt Mỹ, triển lãm ở trường Phan Thanh Giản, triển lãm cùng một nhóm anh em. Đi tới đâu là tôi quy tụ số anh em họa sĩ ở đó, gom lại họa sĩ địa phương tổ chức triển lãm liên tục. Cho tới ngày hòa bình, tôi về quê ở Vĩnh Long, mới gom 5 - 10 anh em trẻ mà năng khiếu năng khiếu lại để tổ chức tổ hội hoạ. Thời kỳ đầu sau năm 75 đó là đi vẽ khẩu hiệu để cho mấy em có cái nuôi sống đã. Khi ở Vĩnh Long như thế thì thời gian vẽ tranh bị tù đọng. Triển lãm xong về cất đó thôi. Những cái nào bung hơi mới, hơi cách điệu, hơi xa xa là bị phê phán. Đến năm 90 - 91 mở cửa, thoáng. Mình hồi xưa là dân học sinh ở Sài Gòn mà. Quay về Sài Gòn, chạy tới chạy lui thì thấy Sài Gòn nó có không khí hơn. Thành ra mình mới chuyển về Sài Gòn, sẵn đó đưa mấy đứa con đi vô đại học mình nuôi nó luôn. Thì may mắn là tôi bắt đầu nối nhịp với Mỹ thuật Sài Gòn. Lúc bấy giờ mới tham gia vô cái triển lãm đầu tiên là Báo Công An, may mắn tôi bán được một cái bức tranh cho thằng sưu tập Tây ở bên Pháp. Nó mang về Pháp thì cái nhóm sưu tập lớn ở Paris nó đến xem nó thích. Nó một cú phôn cho thông dịch tới điện cho tôi liền ở bên đây là tuần sau nó sẽ qua để nó xem tranh. Thì bắt đầu cuộc sống nó cởi mở, sự sáng tạo nó phát triển. Cái tuổi trên 50 năm mà làm nghệ thuật, nó dày, lên bờ, xuống ruộng khủng khiếp, qua những thời kỳ khó khăn, thời kỳ nỗ lực nuôi dưỡng cái nghệ thuật cho riêng mình. Rồi nó lại theo từng bước phát triển của xã hội, mở rộng về mỹ thuật ở địa phương, ở trong nước rồi nước ngoài. Suốt những giai đoạn từ trước ngày thống nhất cho đến sau ngày hòa bình, không riêng gì anh mà rất nhiều họa sĩ từ Bắc chí Nam đều phải sống rất cơ cực vì lúc đó Việt Nam chưa mở cửa với thế giới. Đời sống văn chương nghệ thuật nói chung bị trì trệ, người nghệ sĩ khó có thể tồn tại đã độc lập được. Làm cách nào anh đã vượt qua được giai đoạn đó, vừa mưu sinh, vừa nuôi vợ con mà vẫn có thể tiếp tục đam mê nghệ thuật của mình? Cái giai đoạn đó thì tôi may mắn là ở địa phương cho tụi tôi vô cái tổ hội họa và có cấp cho một số ít lương thực. Tôi cho mấy em nó đi kẻ khẩu hiệu để hoạt động. Còn tôi là đi vận động làm tranh triển lãm. Thì tranh triển lãm bấy giờ cũng đa số là khẩu hiệu thôi nhưng mà anh em họa sĩ hay là nghệ sĩ người ta hay lắm. Người ta biết chọn cái gì nó dễ chịu hơn, không có bị căng thẳng, không có bị sốc. Thí dụ bây giờ mình vẽ cánh đồng lúa mặt trời hừng đông là nó đẹp rồi. Vô tư thì sẽ làm được. Thì nói chung phải lựa những cái chủ đề hết sức là tế nhị để tham gia triển lãm. Mà triển lãm thường xuyên, mỗi năm Tết đến thì địa phương làm cái đó, mình dựa theo để mình vận động anh em vẽ tranh. Một số anh em tới hôm nay vẫn là họa sĩ chuyên nghiệp. Mình cũng rất mừng cái giai đoạn đó nó qua. Ăn uống kham khổ, cực khổ lắm nhưng mà chia sẻ với nhau thì nó qua được. Tôi thấy không có cái gì bằng cái lòng tin yêu của mình đối với nghệ thuật. Nó sẽ vượt qua được. Lê Triều Điển, Ký ức Mekong, sơn dầu, 2020. Nguồn: TRieu Dien artist. Là một họa sĩ đã sống và hoạt động trong nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau của đất nước, anh có cảm nhận như thế nào về nền hội họa của Việt Nam trong giai đoạn hiện tại? Ghi nhận theo cảm giác bản thân họa sĩ thôi thì tôi thấy ở trong nước đang chuyển mình, mà nhất là tin tưởng vào cái lớp trẻ. Tôi thấy cái số đông của lớp trẻ vươn lên mãnh liệt tìm tòi. Thành ra, cái sáng tác của Việt Nam hiện nay đang ở thời kì chuyển mình. Còn cái chuyện mà thành danh thành này kia thì phải đợi phía trước, phải qua một quá trình thời gian. Cần thời gian là vì ở trong nước, cái hạ tầng cơ sở, tổ chức trường học, tổ chức báo chí mỹ thuật, tổ chức những nhà phê bình, bài viết trên báo, trên đài truyền thông, các bảo tàng phải đầy đủ chánh quy và những không gian triển lãm nghệ thuật phải thật hiện đại. Cái đà đó mới nâng các họa sĩ trẻ lên cái nhịp điệu đối với quốc tế, đối với thế giới. Với từng ấy năm kinh nghiệm của mình, theo anh làm thế nào để một họa sĩ có thể được gọi là “họa sĩ lớn” trong hội họa? Cái câu hỏi này nó cũng là rất là trừu tượng nha! Cái nghệ sĩ lớn là gì? Là trước tiên anh phải có một cái tư duy lớn. Giống như vẽ tranh trừu tượng thì phải có cái tư duy trừu tượng. Cái người họa sĩ lớn là tự thân tài năng sẽ trở thành họa sĩ lớn. Nó là một cái quá trình thành hình, vận động, làm việc. Cái họa sĩ lớn đó nằm ở trong tương lai. Mỗi người có một cái thứ lớn riêng của mình. Trong tương lai, tôi nghĩ đất nước nào cũng có tài năng nếu mình phát triển đầy đủ, năng lực tối đa, làm việc tối đa, mà do bản thân từng người chứ không phải một tổ chức xã hội. Tài năng nghệ sĩ là ở bản thân, từ nỗ lực của cá nhân người nghệ sĩ đó. Còn cái nghệ sĩ lớn nó phải có thời gian người ta định hình cái đó. Xin cảm ơn họa sĩ Lê Triều Điển đã dành thời gian trò chuyện!
Sum vầy cùng gia đình họa sĩ Lê Triều Điển với triển lãm “Đồng hành”
Cái ghe, sông nước, cùng chất người Nam Bộ “rặt” trong hội họa của Lê Triều Điển từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng cho niềm đam mê sáng tạo của người bạn đời, thi sĩ Hồng Lĩnh, và con trai, kiến trúc sư Lê Triết. Nhân dịp cuối năm, cũng là lúc nhìn lại hành trình sáng tác chung, gia đình đậm chất văn - nghệ ấy đã cùng nhau thực hiện triển lãm mang tên “Đồng hành”, khai mạc ngày 28.01.2026. Họa sĩ Lê Triết, Hồng Lĩnh và Lê Triều Điển (ở giữa) bên cạnh bạn bè đến dự triển lãm. Nguồn NNA Team. Dìu dắt, đồng điệu rồi thành hình Cái tên “Đồng hành” trước hết là sự biết ơn dành cho những dìu dắt của ba mẹ đối với kiến trúc sư - họa sĩ Lê Triết. Đồng thời, như chia sẻ của thi sĩ - họa sĩ Hồng Lĩnh, sau mấy chục năm bên nhau trong đời sống lẫn hội họa, việc cùng nhau làm nghệ thuật đã là một sự đồng hành. Mở rộng hơn, “Đồng hành” còn là sự song hành với những tâm hồn yêu nghệ thuật, bất kể tuổi tác hay xuất thân, trên con đường hơn 60 năm cầm cọ bền bỉ của họa sĩ Lê Triều Điển. Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Quách Cường, điểm nhấn đáng chú ý của triển lãm nằm ở sự xuất hiện của gốm, được sắp đặt xen kẽ với tranh. Những chiếc chuông gốm gợi lên tiếng vọng nội tâm, trong khi hình ảnh con thuyền gốm trở thành biểu tượng cho hành trình sáng tạo miệt mài ngoài đời thực. Sự thống nhất này trải dài từ mặt phẳng toan đến hình khối không gian, từ họa tiết dân gian được làm mới cho đến những ký tự alphabet mang tính ngẫu hứng. Trong tổng thể ấy, gia đình họa sĩ Lê Triều Điển cho thấy năng lực lao động nghệ thuật dồi dào, cùng dòng cảm xúc sáng tạo được nuôi dưỡng bền bỉ. “Tên triển lãm ‘Đồng hành’ không chỉ nói đến việc đồng hành trong sáng tạo, mà còn là sự đồng cảm về cảm xúc và đồng điệu trong phong cách,” nhà nghiên cứu Quách Cường nhận xét. Một số sáng tác mới của họa sĩ Lê Triều Điển tại triển lãm. Nguồn: Artonis. Ở góc độ chuyên môn, họa sĩ Duy Nhựt, Phó Phân hội Hội họa, Hội Mỹ thuật TP.HCM, nhìn thấy trong triển lãm này một tư duy trưng bày có tính hệ thống. Dù khoảng cách thế hệ giữa hai nghệ sĩ lão thành và một nghệ sĩ trẻ là khá rõ, toàn bộ không gian vẫn toát lên hơi thở đương đại, khiến ranh giới tuổi tác dường như bị xóa nhòa. Người xem bắt gặp một Lê Triều Điển và Hồng Lĩnh đã đi qua hơn nửa thế kỷ sáng tác nhưng vẫn giữ được sự “trẻ” trong nét vẽ, đồng thời nhận ra ở Lê Triết, người mới quay lại hội họa, một sự chặt chẽ, điềm tĩnh trong bố cục. Đó là mối kết nối không lời nhưng giàu nội lực giữa những cá nhân luôn hướng vào thế giới nội tâm. Không gian triển lãm được tổ chức theo lớp lang: sảnh lớn giới thiệu tinh thần chung, khu trung tâm dành cho các tác phẩm khổ lớn của Lê Triết, hai bên là sự đan xen giữa tranh và gốm của Lê Triều Điển và Hồng Lĩnh. Khi quan sát kỹ, người xem có thể nhận ra những chi tiết mang tính “liên kết” và “kế thừa” được cài cắm xuyên suốt, khiến người xem hiểu đây là một cách đối thoại âm thầm mà họa sĩ Lê Triều Điển gửi gắm trong cấu trúc trưng bày. Không gian Gốm và Tranh tại triển lãm. Nguồn: Artonis. Một gia đình, ba màu sắc Nếu xem “Đồng hành” như một câu chuyện, thì Lê Triều Điển chính là người mở đầu. Ông không chỉ là một họa sĩ kỳ cựu mà còn là nhân chứng của nhiều biến chuyển trong mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Với ông, triển lãm lần này không được đo bằng quy mô hay số lượng tác phẩm, mà bằng ý nghĩa của một cuộc hội ngộ gia đình, diễn ra đúng thời điểm cuối năm và gắn với những cột mốc quan trọng trong đời làm nghề. Theo ông, nghệ thuật không thể bị thúc ép, mà phải bắt nguồn từ nhu cầu nội tại. Khi đã trưởng thành, người nghệ sĩ cần tìm ra “một cái gì riêng” để bộc lộ và đối thoại với thế giới. Song hành cùng ông là Hồng Lĩnh, người đến với hội họa từ thơ. Với bà, thơ không chỉ là ngôn ngữ mà còn là hình ảnh, màu sắc và nhịp điệu của đời sống. Việc đưa thơ vào tranh là lựa chọn có ý thức, bắt đầu từ triển lãm cá nhân năm 2000 và kéo dài đến hiện tại. Thay vì sử dụng thư pháp theo lối quen thuộc, bà đặt màu sắc theo cảm xúc, sử dụng chữ viết gần với bảng chữ cái Latin thuần Việt, tạo nên một tổng thể hồn nhiên, mơ màng. Hướng tiếp cận này đặt Hồng Lĩnh vào mạch thi - họa, từ truyền thống Đường - Tống cho đến tinh thần tạo hình chữ của Cy Twombly. Các sáng tác khổ lớn và nhỏ của Kiến trúc sư - Họa sĩ Lê Triết tại triển lãm. Nguồn: Artonis. Trong tranh của Hồng Lĩnh, thơ và họa tồn tại như hai lớp ngôn ngữ không tách rời. Màu sắc thường được đặt xuống trước, theo dòng cảm xúc, rồi chữ xuất hiện như một tầng nghĩa vừa để đọc, vừa để cảm. Bà từng chia sẻ rằng điều quan trọng không nằm ở danh xưng, mà ở khả năng biểu đạt cảm xúc đối với cuộc sống; hạnh phúc của người sáng tác là khoảnh khắc tìm thấy sự đồng cảm. Lê Triết, người con trai, xuất hiện như một mắt xích tiếp nối. Lớn lên trong môi trường nghệ thuật, anh sớm bộc lộ năng khiếu hội họa và từng có triển lãm cá nhân khi mới 17 tuổi. Tuy nhiên, con đường anh lựa chọn lại đi qua kiến trúc, lĩnh vực đòi hỏi tính kỹ thuật và công năng cao. Chỉ khi có đủ điều kiện và thời gian, hội họa mới trở lại như một thôi thúc không thể trì hoãn, trở thành khoảng lắng giúp anh cân bằng giữa kiến trúc và nghiệp vẽ. Với Lê Triết, kiến trúc không đối lập với hội họa, mà là nền tảng giúp nuôi dưỡng đam mê sáng tác. Các tác phẩm của Lê Triết tại “Đồng hành” mang tinh thần trừu tượng biểu hiện, khởi nguồn trực tiếp từ cảm xúc. Anh thừa nhận có sự học hỏi từ cha mẹ, nhưng xem đó như điểm xuất phát để tiếp tục tìm tòi và định hình dấu ấn cá nhân. Các sáng tác mới của Thi sĩ - Họa sĩ Hồng Lĩnh. Nguồn: Artonis. “Trong tâm hồn mỗi con người là một dòng sông đang chảy, và tất cả chúng ta là muôn triệu dòng sông đang chảy đồng hành,” họa sĩ Lê Triều Điển chia sẻ. Câu nói ấy không chỉ mở ra tinh thần của triển lãm “Đồng hành”, mà còn có thể xem như kim chỉ nam cho hành trình sáng tạo bền bỉ của một gia đình nghệ sĩ: Lê Triều Điển, Hồng Lĩnh và Lê Triết. Triển lãm trưng bày hơn 100 tác phẩm lớn nhỏ tại không gian Tòa 2 của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, mở cửa đón công chúng yêu nghệ thuật từ ngày 28.01.2026 đến hết ngày 03.02.2026.
Tri thức lớn tạo nên người nghệ sĩ lớn – Lê Triều Điển (Kỳ 2)
Trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam hiện đại, cái tên Lê Triều Điển luôn hiện lên như một dấu ấn đặc biệt. Ông không chỉ là người nghệ sĩ mang trong mình tình yêu sâu nặng với quê hương sông nước, mà còn là một tâm hồn rộng mở, khao khát tìm tòi tri thức lớn để nuôi dưỡng nghệ thuật. Từ những nét vẽ đầu đời bằng viên gạch, đến những bức tranh trừu tượng trải dài trên khổ canvas khổng lồ, hành trình sáng tạo của Lê Triều Điển là minh chứng cho một đời sống nghệ thuật không ngừng vận động, luôn hướng về cái mới nhưng vẫn neo chặt vào cội nguồn. Bước chuyển mình từ biểu tượng đến trừu tượng Khi nhắc đến Lê Triều Điển, ông hiện lên như là một người hoạ sĩ tài giỏi mà hết sức dung dị. Trong nghệ thuật, ông thường xuyên đem sự chân chất trong con người mình vào từng tác phẩm. Hành trình hội hoạ của ông bắt đầu từ việc lấy viên gạch làm cọ vẽ nhà thờ, vẽ tặng bạn bè trên tập ô ly, hay những chiều nắn đất sét ngoài ruộng. Chính nhờ tài năng thiên bẩm và sự gần gũi, phóng khoáng của mình, ông rất được bạn bè yêu mến. Người họa sĩ già kể lại, thuở ấy đi học, bạn bè thường mua những quyển tập 100 trang đưa ông vẽ kín, và mỗi sáng, ông được các bạn bao ăn như một cách trả công. Tài năng của ông có thể là thiên bẩm, nhưng nếu không có những bữa sáng giản dị như một lời tuyên ngôn chắc nịch về cho tài năng ấy, chắc có lẽ sẽ không có một nghệ sĩ lớn Lê Triều Điển hôm nay. Lê Triều Điển, Mekong, sơn dầu, 2005. Nguồn: Gallerie Dumonteil. Những thời kỳ đầu, bằng tất cả bản năng tự nhiên nhất, ông thường ghi lại những gì mắt thấy tai nghe vào tranh, đa phần là hình ảnh quê hương, sông nước… Tất cả đều là những thứ đã gắn bó sâu sắc với sự trưởng thành của người thanh niên Lê Triều Điển. Khi tham gia chiến đấu ở Đà Nẵng những ngày đất nước còn gian khổ, chàng thanh niên ấy chưa một lần tắt lửa đam mê, “lúc nào cũng vẽ tranh, lúc nào cũng mê hội hoạ”. Mặc dù hoạ sĩ Lê Triều Điển không được đào tạo chính quy qua trường lớp, nhưng ông luôn chủ động và thích thú học hỏi, tìm tòi qua sách vở, qua tài liệu. Những lúc có thì giờ ông thường ghé nhà sách, lên thư viện mày mò về mỹ thuật thông qua lăng kính của các danh hoạ trong nước và thế giới. Sách nghệ thuật Việt Nam thời ấy rất hiếm, ông kiếm cả những tài liệu từ nước ngoài. Những triển lãm tranh tại Sài Gòn khi ấy, ông không sót bất kỳ triển lãm nào. Chính nhờ sự say mê cháy bỏng ông dành cho nghệ thuật, đã gieo vào Lê Triều Điển một cái nhìn căn bản rõ nét về hội họa. Lê Triều Điển, Rồng, sơn dầu, 2011. Nguồn: Gallerie Dumonteil. Không chỉ dừng lại ở hội họa, ông còn dành sự tò mò cho nhiều lĩnh vực khác. Triết học, thiền định hay bí ẩn những nền văn minh lớn của nhân loại như Ai Cập, Lưỡng Hà… đều từng khơi dậy trong Lê Triều Điển niềm say mê khám phá. Có thể nói, chính sự ham học hỏi ấy đã un đúc nên một nghệ sĩ với những ý tưởng rộng mở và tầm nhìn phong phú. Sự rộng mở trong tâm hồn đã đem lại một bước ngoặt, bước chuyển mình lớn trong sự nghiệp nghệ thuật vĩ đại của Lê Triều Điển. Từ những năm 90, nét vẽ của ông đã bắt đầu đi vào những cách điệu, phá cách rồi dần chuyển hướng sang vẽ tranh trừu tượng với nhiều kí hiệu đậm chất sông nước. Lê Triều Điển, Ký ức phù sa, sơn dầu, 2012. Nguồn: Báo Thể thao & Văn hoá. Vị phù sa của dòng sông Mekong vĩ đại không chỉ nằm ở màu sắc, mà còn là những kí hiệu trừu tượng trong tranh Lê Triều Điển. Nếu mới biết tới người hoạ sĩ này, chắc hẳn người ta sẽ không thể hiểu ngụ ý ông gửi vào từng nét kí hiệu. Đôi lúc, với ông cũng thật khó để giãi bày hết những ẩn ý của mình. Bởi đó là cái tự nhiên chảy trong con người, mà không có một thứ gì có thể sắp đặt trước. Lê Triều Điển dí dỏm gọi đó là “nhập đồng”: “Cái này thì phải chuyển qua đây, cái này phải chuyển xuống đây, cái này phải đưa cái hình tượng này, cái này phải chuyển qua nét kia”. Suốt quãng đường dài cống hiến cho nghệ thuật, ông gắn mình với dòng sông Cửu Long, với văn hoá địa phương. Có thể nói rằng, những kí hiệu trừu tượng của Lê Triều Điển cũng có ngôn ngữ của riêng mình: là đại diện cho dòng chảy sông nước, đền đài, cánh đồng, hay thậm chí là câu hò, câu hát… tất cả đều thuộc về quê hương mà ông không thể tách rời. Đối với ông, “quê hương thật và quê hương nghệ thuật đã hoà thành 1”, mang đến cho ông nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận. Lê Triều Điển, Delta, sơn dầu, 2013. Nguồn: Gallerie Dumonteil. Chưa dừng lại ở đó, chủ đề trong tranh của Lê Triều Điển còn được thôi thúc bởi những nền văn minh lớn như Trung Quốc, Ai Cập, Lưỡng Hà, Châu Phi… Ông nói rằng “Khi xúc cảm của người nghệ sĩ lớn thì không vẽ nhỏ nhỏ được”. Một trang giấy nhỏ không chứa đựng hết những cơn sóng lòng của người nghệ sĩ, ông phải trải nó trên những tấm canvas thật lớn, dài hàng chục mét. Có như vậy mới thỏa lòng ông. Cá chép vượt vũ môn - Vươn mình ra thế giới Người nghệ sĩ tài ba nào cũng cần có 1% may mắn. Cơ hội đến với hoạ sĩ Lê Triều Điển khi ông tham gia triển lãm tranh của Báo Công An năm 1990. Ông được một người Pháp mua lại bức tranh của mình. Nhưng cơ hội thực sự phải mất 10 năm vận chuyển mới tìm đến ông. Năm 2000, bạn của người mua tranh năm xưa, là nhà sưu tập lớn người Pháp Dumonteil, đã vô tình thấy tranh của ông và quyết định mua lại toàn bộ số tranh mà ông có. “Đến nỗi cái tấm vách tôi dựng ở nhà, tấm ván ép bể 1 góc, mỗi lần vẽ nhà tôi quơ quơ lên, tôi phết mấy nét, bỏ đó, ông ta cũng gỡ cái tấm đó luôn.” - người hoạ sĩ già hài hước kể lại. Hai tác phẩm của Lê Triều Điển trưng bày tại Art Central Hong Kong 2016. Nguồn: TRieu Dien artist. Nhờ cơ duyên này, ông được mời tham gia rất nhiều các triển lãm lớn nhỏ trên thế giới từ châu Á đến châu Âu, xuất bản sách, viết tên mình chung với những danh hoạ nổi tiếng thế giới như Picasso. Không chỉ hỗ trợ quản lí về mặt truyền thông, Dumonteil cũng góp phần rất lớn đưa cái tên Lê Triều Điển đến gần hơn với báo chí và công chúng quốc tế. Không gian triển lãm "Ký ức Mekong" tại Thượng Hải năm 2019, tổ chức bởi Dumonteil. Nguồn: Gallerie Dumonteil. Tuy chưa gây được nhiều tiếng vang lớn với công chúng trong nước, nhưng với vị thế nổi bật của mình đối với nghệ thuật thế giới, Lê Triều Điển quan niệm rằng lớp nghệ sĩ trẻ “cần phải đi, cần vẽ” để có thể vươn mình và giới thiệu nghệ thuật Việt Nam rộng rãi khắp năm châu. Ông cũng tin rằng thế hệ hoạ sĩ ngày nay, với tài năng của mình sẽ làm được điều này trong một ngày không xa. Hơn nửa thế kỉ lửa nghề vẫn “cháy” Ở cái tuổi xưa nay hiếm, người hoạ sĩ già vẫn không ngừng sáng tác. Ông vẫn tiếp tục vẽ mỗi ngày cùng vợ - là nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh - sau hơn 50 năm lăn lộn với nghề. Với ông, vợ không chỉ là người bạn đời, mà còn là người đồng nghiệp thân thiết và là người thầy đáng kính. “Tôi thầm cảm ơn vì vợ đã chèo chống cùng với mình gần như suốt cả cuộc đời” Không gian triển lãm "50-70-80". Nguồn: Báo Phụ nữ TPHCM. 50 năm tình yêu và nghệ thuật song hành của cặp vợ chồng hoạ sĩ Lê Triều Điển, được ghi dấu qua triển lãm “50-70-80”. Triển lãm ấy không chỉ là dấu mốc nghệ thuật, mà còn là minh chứng đẹp đẽ cho một cuộc đời sáng tạo bền bỉ và tình yêu song hành hiếm có của hai người nghệ sĩ. Không gian triển lãm "50-70-80". Nguồn: Báo Phụ nữ TPHCM. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghệ thuật, trải qua biết bao thăng trầm và khó khăn, qua những thời kỳ nỗ lực để nuôi dưỡng tính nghệ thuật cho bản thân, Lê Triều Điển đã khẳng định mình như một người nghệ sĩ độc bản: vừa mộc mạc, gần gũi, vừa bền bỉ, sáng tạo. Tranh của ông không chỉ là tác phẩm thị giác, mà còn là tiếng nói của đất, của sông, của ký ức và văn hoá. Và trên hết, cuộc đời ông là minh chứng rằng một nghệ sĩ lớn được tạo nên từ tri thức rộng mở, tình yêu sâu nặng với quê hương, và một trái tim chưa bao giờ ngừng đập vì nghệ thuật.
Lê Triều Điển – Hơn 50 năm bước đi trên con đường độc bản (Kỳ 1)
Hoạ sĩ Lê Triều Điển là một người con của miền Tây sông nước. Ông sinh ra và lớn lên ở huyện Chợ Lách, Bến Tre vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước. Chính vùng đất, văn hoá và con người nơi đây đã nuôi dưỡng và tạo nên một vị danh họa “có một, không hai” của mỹ thuật Việt Nam. Hành trình dài un đúc lửa nghệ thuật Nếu được ví von, có lẽ, Lê Triều Điển chính là viên ngọc thô, may mắn được tìm thấy từ rất sớm. Khi bồi hồi nhớ lại, ông kể rằng từ năm lên 3 tuổi cái hồn của người hoạ sĩ đã có trong một Lê Triều Điển nhỏ bé. Chính nhờ những lần vẽ tặng bạn bè trên giấy tập, những hôm nghịch đất nặn trâu ngoài ruộng… và quan trọng nhất là sự xuất hiện và đồng hành của vợ - nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh trong hơn 50 năm cuộc đời - đã nuôi dưỡng con người và xây dựng tính nghệ thuật trong ông. Với ông, những thứ đó không đơn thuần là sự công nhận về tài năng, mà còn là lời tuyên ngôn ủng hộ, tuy âm thầm nhưng hết sức mạnh mẽ - cái vốn cần có để đặt nền móng vững chắc cho một danh họa tài ba. Với bản tính đam mê tìm tòi, học hỏi, Lê Triều Điển đã tận dụng tốt cơ hội của mình khi học ở Sài Gòn. Cậu sinh viên ngày ấy đã không bỏ sót bất kỳ tài liệu mỹ thuật hay triển lãm hội hoạ nào của các nghệ sĩ tên tuổi như Thái Tuấn, Tạ Tỵ, Lê Trung, Ngọc Dũng… Mặc dù, không được đào tạo chính quy, nhưng sự ham mê ấy đã un đúc cho ông những kinh nghiệm quý báu trên con đường theo đuổi nghệ thuật. Lê Triều Điển, Ký ức Huế, 2012. Nguồn: Báo thanh Niên. Khi tham gia chiến đấu tại Đà Nẵng, ông gặp những người đồng đội cũng làm nghệ thuật giống mình: Phạm Văn Hạng, Cao Bá Minh, Nghi Cao Nguyên… Nơi chiến trường khốc liệt, vẽ tranh như một liều thuốc làm dịu cơn đau đối với người hoạ sĩ. Trong giai đoạn những năm 1960, ông đã cho ra đời hàng chục tác phẩm, đến năm 1967, ông tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên tại nơi ông phục vụ công tác. Các tác phẩm của ông thời kỳ này thường là về những cảnh mùa thu có rừng Tam Quan, trụi đọt dừa hay những đêm trăng tĩnh lặng. Ông thể hiện góc nhìn chiến tranh qua lăng kính lãng mạn của bản thân, phần nào cũng là ước mong ngày hoà bình của một người lính. Sau giải phóng, ông là người tiên phong phát triển nghệ thuật tại địa phương. Lê Triều Điển chính là cái tên hoạt động nghệ thuật cực kỳ sôi nổi tiêu biểu lúc đó. Ông là người cầm trịch quy tụ các anh em trong giới hoạ sĩ thành tổ hội hoạ. Bước đầu, nhóm thường xuyên vẽ khẩu hiệu để duy trì cuộc sống. Sau cơ duyên gặp gỡ hoạ sĩ Thanh Châu, ông cùng những người bạn của mình tổ chức triển lãm đầu tiên mang tên "Đồng Bằng Sông Cửu Long". Lê Triều Điển, Ký ức Mekong, sơn dầu, 2020. Nguồn: TRieu Dien artist. Hành trình nghệ thuật của Lê Triều Điển bắt đầu với đất sét, viên gạch và nét cọ đậm chất ấn tượng, biểu tượng. Hành trình ấy được tiếp nối khi ông thử sức và theo đuổi trường phái trừu tượng sau này. Tranh của ông là sự pha trộn giữa trừu tượng hình học và tiến đến gần hơn với trừu tượng cảm xúc. Với người nghệ sĩ tài hoa, cảm hứng đến với ông theo một lẽ hết sức tự nhiên. Tất cả là nhờ dòng chảy được hình thành trong con người từ thuở ấu thơ, nuôi dưỡng và phát triển qua quá trình ông lớn lên ở vùng sông nước, và niềm đam mê mãnh liệt với những công trình văn hoá cổ từ nhiều nền văn minh lớn. Nghệ thuật là không giới hạn Người nghệ sĩ Lê Triều Điển mang trong mình một tâm hồn rộng lớn, vì vậy, chỉ có những bức canvas cỡ lớn dài hàng chục mét mới chứa đựng hết những xúc cảm đang chảy cuồn cuộn trong con người ông. Không phỏng theo một khuôn mẫu sẵn có, hay hình hoạ cơ bản nào, ông tạo cho mình những kí hiệu rất riêng, cùng với màu sắc mang hơi hướng trầm tích, đậm vị phù sa của sông Mekong. Chúng là đại diện cho dòng sông mênh mông, nơi đã “bồi đắp phù sa” cho tâm hồn người nghệ sĩ. Có lẽ, với một người xem tranh, những kí hiệu ấy thật khó hiểu và chẳng thể lý giải nổi. Nhưng với ông, đó là trăn trở cả một đời về quê hương, về nguồn cội, về văn hóa Khmer, Óc Eo nơi chôn nhau cắt rốn. Lê Triều Điển gọi tranh của bản thân là những xúc cảm sâu thẳm, chúng không đại diện cho bất kỳ trường phái cụ thể nào, mà thay vào đó, lại mang đậm hơi thở của thời đại. Lê Triều Điển, Hành trình phương Tây (bên trái), Hành trình phương Đông (bên phải), sơn dầu, 2019. Nguồn: TRieu Dien artist. Bên cạnh những nét cọ trên giấy, ông cũng rất say mê chất liệu đất nung. Lớn lên với quê hương đất sét, ông luôn trăn trở làm sao để chất liệu mộc mạc này trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Chính vì lẽ đó, Lê Triều Điển thường cùng với vợ mình đi điền dã tại các xưởng gốm, các lò đất nung khắp các tỉnh miền Tây để tìm nguồn cảm hứng sáng tác. Những sáng tác gốm của ông cũng mang đậm âm hưởng của văn hoá Chăm và Khmer như một phần không thể tách rời, nhưng ẩn sâu bên trong vẫn ghi dấu bản sắc cá nhân mạnh mẽ của người nghệ sĩ độc đáo này. Suốt hành trình sự nghiệp của mình, ông luôn đau đáu làm sao để thổi hồn vào đất. Với mong muốn đó, rất nhiều tác phẩm gốm xuất sắc đã được ra đời dưới bàn tay khéo léo của người nghệ sĩ. Vào những năm 2000, triển lãm đầu tiên của Lê Triều Điển với toàn bộ tác phẩm là gốm đất nung - "Tiếng nói của đất" - được tổ chức, đánh dấu bước khởi đầu cho hành trình phát triển của chất liệu dân dã này. Vợ chồng hoạ sĩ Lê Triều Điển - Nhà thơ, hoạ sĩ Hồng Lĩnh. Nguồn: Báo Vĩnh Long. Vị hoạ sĩ chân chất Lê Triều Điển lần đầu ghi dấu với nghệ thuật thế giới khi một nhà sưu tập lớn người Pháp tình cờ biết đến và mua lại toàn bộ tác phẩm ông đã sáng tác trong suốt nhiều năm. Cơ hội này là bàn đệm giúp tranh của Lê Triều Điển có mặt trong hàng trăm cuộc triển lãm lớn nhỏ trên toàn thế giới, góp phần ghi tên Việt Nam trên bản đồ nghệ thuật quốc tế. Lê Triều Điển, Chuông 1, tác phẩm gốm, 2021. Nguồn: TRieu Dien artist. Xuất thân là một người hoạ sĩ dung dị, hơn ai hết, ông hiểu những khó khăn và trăn trở của một người theo đuổi nghệ thuật không chuyên. Chính vì vậy, Mekong Art được thành lập để giúp đỡ và kết nối cộng đồng nghệ sĩ ở khu vực Nam bộ. “Mekong là dòng sông lớn bao phủ các nền văn hoá của nhiều nước, không chỉ riêng miền Tây Nam bộ. Cái tên Mekong Art ra đời với mong muốn không làm bó hẹp không gian sáng tác nghệ thuật của anh em hoạ sĩ” - Lê Triều Điển chia sẻ. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghệ thuật, Lê Triều Điển đã để lại một di sản mang đậm dấu ấn cá nhân nhưng đồng thời cũng phản chiếu tâm hồn của cả một vùng đất sông nước. Tác phẩm của ông vừa dung dị, mộc mạc, vừa mãnh liệt và mới mẻ như chính con người miền Tây mà ông là đại diện tiêu biểu. Với sự say mê không ngừng nghỉ, ông đã góp phần mở rộng biên độ cho mỹ thuật Việt Nam, đưa tiếng nói của quê hương hòa vào dòng chảy nghệ thuật thế giới. Lê Triều Điển, vì thế, không chỉ là một danh họa độc bản, mà còn là một minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ của nghệ thuật Việt Nam qua thời gian.
