Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Lê Thị Lựu, Ba mẹ con goá phụ, tranh lụa, 1954

Lê Thị Lựu – Người nữ họa sĩ tiên phong trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam

“Bộ tứ Đông Dương” hay “Tứ Kiệt Đông Dương” là cái tên mà giới mộ điệu tranh Việt tôn kính dành cho 4 họa sĩ tài năng Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu và Vũ Cao Đàm. Trong thời cuộc xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, nơi mà hình ảnh người phụ nữ gắn liền với "tam tòng tứ đức", lựa chọn trở thành họa sĩ và thực sự đã thành danh và góp mặt tên tuổi trong bộ tứ ấy thực sự là một bước đi táo bạo nhưng không kém phần ấn tượng của họa sĩ Lê Thị Lựu. 

Lê Thị Lựu sinh năm 1911 tại Thọ Xương, Hà Nội, trong một gia đình trung lưu có truyền thống Nho học. Ngay từ nhỏ, bà đã bộc lộ niềm đam mê với hội họa, một lĩnh vực vốn hiếm hoi dành cho nữ giới ở Việt Nam đầu thế kỷ 20. Năm 1926, bà trở thành một trong những nữ sinh đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de l’Indochine) - ngôi trường danh giá do Victor Tardieu và Nguyễn Nam Sơn sáng lập. Tốt nghiệp thủ khoa năm 1932, bà trở nên nổi tiếng, được các báo trong nước viết bài. Tờ Phong Hóa số 18 từng đăng bài báo được cho là của nhà văn Thạch Lam, trong vai trò phụ trách mục phê bình mỹ thuật. Trong đó có nội dung: ''Ông Lê Phổ, cô Lê Thị Lựu, ông Mai Trung Thứ cùng nhiều họa sĩ khác đều là người có tài, mỗi người một vẻ riêng. Có một điều đáng ghi là cô Lê Thị Lựu không ngần ngại là quần vận, yếm mang, chen chân thích cánh với bọn họa sĩ đàn ông, mà cái hay, cái khéo của cô lại hơn người, thật là vẻ vang cho phụ nữ nước nhà''. 

Một năm sau khi tốt nghiệp, danh họa về dạy ở các trường Bưởi, Trung học Bảo hộ (Collège du Protectorat) và Nữ sư phạm (hiện là trường Trưng Vương, Hà Nội). Năm 1934, bà chuyển vào TP HCM sống. Tại đây, họa sĩ tham gia giảng dạy ở trường nữ sinh bản xứ hay còn gọi là trường Áo Tím (hiện là THPT Nguyễn Thị Minh Khai). Năm 1940, Lê Thị Lựu cùng chồng - kỹ sư canh nông Ngô Thế Tân - đến Paris. Từ đó đến năm 1954, bà vẽ rất ít vì có con nhỏ. Sau 15 năm, bà mới tái hợp với nghệ thuật, chọn tranh lụa là nền chính cho hội họa của mình. Cho tới những năm cuối đời, dù sống xa quê hương, bà vẫn luôn giữ nỗi nhớ về Việt Nam, để rồi điều đó âm thầm chảy tràn trong các tác phẩm nghệ thuật của mình, như một sợi dây nối liền hai bờ Đông - Tây.

Vượt Qua Rào Cản Để Tỏa Sáng

Quá trình hoạt động nghệ thuật của Lê Thị Lựu là một hành trình dài của sự dấn thân, của những nỗ lực lặng lẽ nhưng bền bỉ. Bà bước vào nghề trong một thời đại mà nghệ thuật Việt Nam đang tìm kiếm bản sắc mới, khi ảnh hưởng của mỹ thuật châu Âu ngày càng rõ rệt, nhưng đồng thời cũng là lúc các giá trị truyền thống bị thách thức mạnh mẽ. Bà đứng giữa những dòng chảy ấy, chọn cho mình một lối đi dung hòa: tiếp nhận kỹ thuật phương Tây nhưng vẫn giữ hồn cốt phương Đông. Trong khi các nam họa sĩ được nhắc đến nhiều với thành công ở các đấu trường triển lãm và giao lưu quốc tế, thì sự hiện diện của Lê Thị Lựu càng trở nên đặc biệt: một người phụ nữ, giữa xã hội đầy định kiến, vẫn đủ sức vươn lên, tỏa sáng không hề thua kém.

Từ năm 1957, bà tham gia triển lãm thường xuyên ở Galerie Le Chapelin, 41 Faubourg Saint Honoré, Paris. Năm 1959, bà trưng bày tranh tại Salon de l’Union des Femmes Peintres, Sculpteurs et Graveurs, giành được giải nhất. Điều làm Lê Thị Lựu nổi bật chính là sự kiên định với lựa chọn đề tài: bà không chạy theo trào lưu, không vẽ những bức tranh chính trị nặng nề hay mang tính tuyên truyền, không lao vào những thử nghiệm hình thức táo bạo như một số họa sĩ châu Âu đương thời. Bà kiên trì khai thác đời sống phụ nữ, trẻ em, gia đình – những điều gần gũi nhất với mình. “Tranh lụa của Lựu thắm đượm tình yêu quê hương, dân tộc của một người con xa xứ.”

Lê Thị Lựu, Ba mẹ con goá phụ, tranh lụa, 1954

Lê Thị Lựu, Ba mẹ con goá phụ, tranh lụa, 1954. Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Xuyên suốt sự nghiệp sáng tác, số lượng tranh Lê Thị Lựu vẽ ước tính dao động khoảng 250 đến 500 bức. Vào những năm 1970, bức “Cô gái bên bờ suối” bà vẽ 1973 được một thương nhân mua trực tiếp và lưu trữ tại bộ sưu tập tư nhân, sau này đem đi bán đấu giá vào năm 2019 tại Pháp với giá 57.000 EUR. Từ năm 1987, tức trước khi bà qua đời một năm, có một nhà môi giới nghệ thuật ở Anh đã tìm gặp Lê Thị Lựu để chọn mua họa phẩm cho bảo tàng tại Luân Đôn; một bức tranh của nữ họa sĩ sau đó được trả 40 ngàn bảng Anh. Sau này, tranh của Lê Thị Lựu rất được ưa chuyện và thường xuyên xuất hiện trong các phiên đấu giá của Sotheby's, Christie's. Tháng 4/2018, bức Trẻ em nghịch hoa do bà thực hiện được Sotheby’s Hong Kong gõ búa 207.821 USD. Năm 2019, 11 sáng tác của danh họa được chào bán tại buổi Nghệ thuật đương đại & thế kỷ 20 của Christie's Hong Kong. Hai năm sau, bà có tranh Ba mẹ con trên cỏ đạt 6,83 triệu HKD. Tháng 4/2022, tác phẩm Mẹ và con của họa sĩ được Sotheby's gõ búa 573.925 USD. 

Chất Thơ Dịu Dàng Trên Lụa

Nói về những họa sĩ vẽ tranh lụa xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông Dương chỉ có một số ít cái tên nổi bật như Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Lê Thị Lựu...Thế nhưng tranh lụa của Lê Thị Lựu gần như là một nét chấm phá nhẹ nhàng len lỏi trong kho tàng tranh lụa lúc bấy giờ. Hay như nhà nghiên cứu Thụy Khuê đã viết hay “màu sắc trong tranh Lê Thị Lựu phản ánh hai không gian hai tâm tưởng: ánh sáng Pháp hồn dạ Việt” hay ''Bà theo đuổi trường phái sáng tạo của mình, vẽ tranh lụa nhưng không giống với cách mà các danh họa Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh hay Mai Trung Thứ từng làm. Đó là sự kết hợp Á - Âu, những ấn tượng Tây phương hòa quyện vào tâm hồn văn hóa Việt một cách khéo léo và tinh tế''. Thật vậy, khác với tranh lụa thuần về cuộc sống hiện thực, dân dã ở Việt Nam trong tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, khác với tranh lụa có phần ảnh hưởng từ đời Đường, Tống Trung Hoa và hội họa châu Âu của Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, tranh lụa những năm 1954 của Lê Thị Lựu mang một sắc thái riêng và là tổng hòa cân bằng của vẽ lụa truyền thống, có ảnh hưởng của tranh lụa lối Tàu và kỹ thuật nắm giữ khoảnh khắc của hội họa Ấn tượng. Có lẽ bởi cái tính nữ nồng nàn Á Đông và sự học hỏi nhanh chóng mà tranh lụa của họa sĩ này nhìn rất gần gũi, độ chuyển màu vừa phải, bút pháp điêu luyện. Victor Tardieu, giám đốc Trường Mỹ thuật Đông Dương, thậm chí còn so sánh phong cách của bà với phong cách của Cézanne người Pháp.

Cũng chính Thụy Khuê, khi được hỏi về cảm nghĩ với nhân vật trong tranh lụa của Lê Thị Lựu, đã nói: “Tranh lụa của Lê Thị Lựu là một thế giới khác hẳn, bà tái tạo xã hội Việt Nam tiền chiến với những đứa bé ngây thơ, những nàng sơn nữ tuyệt đẹp, những người phụ nữ dáng dấp Tự Lực văn đoàn, trong một nghệ thuật ấn tượng toàn bích….có người phụ nữ vấn tóc trần tuổi nửa chừng xuân, có những mỹ nhân dịu dàng như Thúy Kiều đài các trong tiếng đàn tỳ bà, thập lục, có những nàng sơn nữ địu em trong rừng hoa… Thế giới ấy được bà họa lại, dưới nét bút, màu sắc, ánh sáng, thơ mộng, đầy yêu thương của hội họa ấn tượng sắp phôi pha”. 

Lê Thị Lựu, Dông tố, tranh lụa, 1980

Lê Thị Lựu, Dông tố, tranh lụa, 1980. Nguồn: LUXUO.

Bà không dựng nên những hình khối sắc cạnh, cũng không bày ra những đường nét cầu kỳ; thay vào đó, mọi thứ trong tranh bà đều mềm mại, thoảng nhẹ, như một hơi thở, một làn sương mỏng phủ lên cảnh vật. Tranh lụa Lê Thị Lựu đặc biệt trong cách pha màu. Cũng như phái ấn tượng, bà dùng màu tươi mát làm bật ánh sáng, lấy nhật quang làm nền rực rỡ cho tranh, nhưng bà không chối bỏ kĩ thuật cổ điển, bà dùng cả sáng lẫn tối, rồi chuyển sắc độ dần dần. Thiếu nữ và cây đàn thập lục vẽ năm 1970 là một trong những bức tranh rất đẹp của bà, phản ảnh sâu sắc nghệ thuật ấn tượng. Bóng tối tứ phía bên nàng làm ta mường tượng đây là ban đêm, nhưng toàn thân thiếu nữ khoác ánh sáng, nguyệt quang chan hòa, tràn sang những đóa hồng thì thầm bên cạnh, một thứ ánh sáng bàng bạc, huyền ảo của một đêm trăng liêu trai. Hay bức tranh nổi tiếng nhất của Lê Thị Lựu, là bức Mẹ địu con. Bức tranh này bà đã vẽ trong khoảng 1965-1975, thời gian kiện toàn tranh lụa ấn tượng Lê Thị Lựu, có bố cục hầu như toàn bích, không khác gì những bậc thầy của ấn tượng như Renoir, nhưng bà vẽ trên lụa, nên đôi chỗ bút pháp còn mong manh, tế nhị hơn tranh sơn dầu của những bậc thầy. Người đẹp trong tranh Lê Thị Lựu có những mẫu mực lí tưởng, đúng như khuôn mẫu cổ điển: mặt trái xoan, cân đối theo tỉ lệ vàng. Dù chỉ là vẽ những hoạt cảnh vô cùng gần gũi thế nhưng tranh của Lê Thị Lựu ẩn chứa nhiều chiêm nghiệm, dù có màu vui, nét sáng nhưng vẫn thoảng buồn, như một vết thương đời không thể xóa. Chính vì thế mà trong cuốn Hội họa Việt Nam - Một diện mạo khác (2015), nhà phê bình Phan Cẩm Thượng nhận định tranh của bà có kỹ thuật tốt, mang ''vẻ bình dị mà phức tạp đa chiều'', phản ánh xã hội đương thời. 

Lê Thị Lựu, Sơn nữ, tranh lụa, 1980

Lê Thị Lựu, Sơn nữ, tranh lụa, 1980. Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Di sản của người phụ nữ Việt Nam bước ra thế giới

Hiện nay, nhiều tác phẩm của bà hiện đang được lưu giữ và trân trọng trong các bảo tàng, phòng tranh danh giá. Bà đã mang đến cho nghệ thuật Việt một tiếng nói dịu dàng, một thông điệp kiên cường: rằng sự mềm mại không đồng nghĩa với yếu đuối, rằng những câu chuyện đời thường có thể trở thành nghệ thuật lớn nếu được kể bằng một trái tim chân thật. 

Đặc biệt, bà đã truyền cảm hứng cho biết bao nữ họa sĩ thế hệ sau – những người nhìn thấy trong bà hình ảnh một người chị, một người dẫn đường, một biểu tượng cho sự dũng cảm vượt qua giới hạn xã hội. Không chỉ vậy, bà còn góp phần đưa mỹ thuật Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy nghệ thuật thế giới, khẳng định rằng nghệ thuật Việt không chỉ là sản phẩm nội địa, mà là món quà văn hóa dành cho nhân loại. 

Trong dòng chảy tranh lụa Việt Nam, Lê Thị Lựu là thế hệ cầu nối giữa hai thủ pháp vẽ lụa cổ đại và hiện đại. Từ việc sử dụng màu sắc mộc mạc, đặt dày xốp, tự nhiên theo yêu cầu của hiện thực; màu thuốc cái, son, mực nho, điệp sang việc tranh vẽ được nghiên cứu sâu sắc về mặt biểu hiện nghệ thuật hình và màu, cũng như học tập lối vẽ của kỹ thuật tả thực châu Âu. Tranh lụa trước cách mạng tháng Tám đã trở thành nguồn cảm hứng và tài liệu quan trọng cho các họa sĩ vẽ lụa thời kì sau như Nguyễn Văn Tỵ, Trần Văn Cẩn,.....

Ngày nay, nhắc đến Lê Thị Lựu, không ai chỉ nhắc đến những tác phẩm hội họa, mà còn nhắc đến một tinh thần sống. Tinh thần ấy là sự bền bỉ của người phụ nữ vượt lên khỏi khuôn khổ, là sự thủy chung với nguồn cội, là tình yêu dành cho cái đẹp dù ở nơi xa xứ. Đó chính là di sản đích thực mà bà để lại – một di sản không chỉ để ngắm nhìn, mà để chiêm nghiệm và học hỏi.

Bài trước Bài tiếp theo