Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Lê Văn Đệ, Nắng Hè, tranh lụa

Họa sĩ Lê Văn Đệ – Từ cây cọ tiên phong đến người gieo mầm tranh lụa Việt Nam

Lê Văn Đệ (1906-1966) là một họa sĩ vĩ đại của nền Mỹ thuật Việt Nam. Vì gia đình vốn khá giả tại miền Tây Nam bộ, từ nhỏ Lê Văn Đệ đã được nuôi dưỡng trong một môi trường giáo dục chu đáo, cái nôi yêu nước thương quê gần như đã thấm đẫm trong người ông từ những lời dạy của cha và từ chính cái máu nghệ thuật bẩm sinh đang chảy trong người ông. Năm 1925, Lê Văn Đệ thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội, và là một trong số 8 học sinh đầu tiên của khóa học này. Trong những năm theo học ở trường Cao đẳng Mỹ thuật, ông luôn được xếp vào hạng sinh viên xuất sắc. Năm 1930, Lê Văn Đệ tốt nghiệp thủ khoa và sau đó nhận học bổng đi Pháp và đã có một thời gian tu nghiệp ở châu Âu. Năm 1942, Ông thành lập nhóm Nghệ thuật An Nam quy tụ các họa sĩ tài danh lúc bấy giờ như: Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Văn Tỵ, tổ chức các triển lãm nổi bật và góp phần phát triển nghệ thuật miền Nam. Ông cung là người sáng lập ra Trường Cao Đẳng Mỹ thuật Gia Định với định chuẩn cao nhất, có thể đặt ngang với bất kỳ trường mỹ thuật nào trên thế giới. Những môn đệ của ông ngày nay đều là những nhà hoạt động nghệ thuật vững vàng, thành danh trong nền nghệ thuật tạo hình chung của đất nước. 

Đi xa hơn để được trở về trọn vẹn với giá trị truyền thống 

Lê Văn Đệ là một họa sĩ đa tài khi thử sức trên nhiều chất liệu vẽ khác nhau bao gồm sơm dầu, tranh lụa và bích họa. Trong những năm tháng học tập tại Paris, dưới sự hướng dẫn của giáo sư J.Pierre Laurence, tranh sơn dầu của ông gây được chú ý trong giới nghệ thuật và đã đoạt giải Nhì hội họa do Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp tổ chức. Sau đó, khi tiếp tục tham dự  cuộc triển lãm Báo Chí Công Giáo Thế Giới tại Roma năm 1936, tranh tài cùng nhiều nhà mỹ thuật uy tín của ba mươi nước đến dự, tác phẩm của Lê Văn Đệ chiếm giải nhất, và ông được mời nhận công việc trang hoàng trong điện Vatican. Công trình mỹ thuật này vang dội khắp nơi, nhiều tạp chí mỹ thuật trên thế giới và nhất là báo chí cùng khắp nước Ý hết lời nhiệt liệt khen ngợi, đánh giá như một thiên tài trác tuyệt. 

Khi vẽ tranh trong tòa thánh, Lê Văn Đệ thường vẽ chân dung các chức sắc trong tòa Thánh Vatican như: chân dung Đức Giáo Hoàng PIO XI, chân dung Đức Hồng Y Verdier, chân dung các thiếu nữ Ý, Pháp và một số tranh tôn giáo: Đức Mẹ Từ Bi, thánh Madeleine dưới chân Thập Giá. Là một họa sĩ tài năng, am hiểu sâu rộng nghệ thuật Tây phương cũng như Đông phương, nhưng lúc nào ông cũng hướng tâm trí mình vào một quan niệm tạo hình giản dị và trong sáng của một nghệ sĩ Việt Nam. Có lẽ vì sự độc đáo đến từ một họa sĩ muốn “góp một tiếng nói của quê hương vào bản hợp ca chung của loài người” mà tranh của ông lúc bấy giờ rất được ưa chuộng và trưng bày trong các viện bảo tàng lớn của cả Pháp và Ý. 

Sau này, khi về nước sau rất nhiều sự tìm tòi và học hỏi từ nền mỹ thuật phương Tây, ông dành sự quan tâm của mình cho kỹ thuật vẽ tranh lụa. Lê Văn Đệ không chỉ được ghi nhận là họa sĩ có sở trường và là cây cọ tiên phong ở mảng tranh lụa trong hội họa Việt, mà còn được ghi nhớ bởi kỹ thuật vẽ độc đáo khi “phối hợp nền hội họa Thủy Mặc nghìn năm của Trung Quốc, với bố cục và tỷ lệ vàng của các họa sĩ thời Phục Hưng ở châu Âu, sáng tạo ra nền hội họa tranh lụa truyền thống Việt Nam.” “Khi vẽ thì không vẽ theo lối công bút của Trung Quốc mà là nhuộm màu từng bước, mỗi lần vẽ xong phải rửa cho cặn màu trôi đi, sau đó lại nhuộm thêm cho đến khi thấy độ màu ổn định mới thôi. Một bức tranh lụa đẹp, ngoài nội dung, bố cục, màu sắc, phải thể hiện được sự óng ả của thớ lụa, chất lụa. Nếu vẽ rửa nhiều nước thì độ mướt của chất lụa sẽ giảm, chà cọ nhiều tơ lụa sẽ bị xù lông, hoặc mặt lụa bị lì, lụa không còn độ bám của màu nữa, lúc đó người vẽ phải thay lụa mới. Màu trắng trong tranh thường được chừa lại bằng nền lụa, ngoài nét ra, các mảng thường được dùng cọ bản để đánh màu cho tan đều, chuyển độ trung gian giữa nét và khối hòa quyện vào nhau. Chính vì thế, tranh của ông thường óng ả, mềm mại, thớ lụa rõ ràng, bố cục mạch lạc, quý phái, dễ tạo nên cảm giác có một lớp nước rất mỏng, trong trẻo, dịu dàng, đưa người thưởng ngoạn quên đi phần nào cái đau khổ của phận người, của một kiếp phù sinh.”(1).

Cái gốc miền Nam mộc mạc thấm nhuần trong từng thớ thịt 

Sinh ra từ vùng đất Nam Bộ – nơi gắn liền với những bến sông, con rạch, xóm làng yên ả và nếp sống chân chất – Lê Văn Đệ đã mang theo cả cái “chất Nam Bộ” ấy vào trong từng nét cọ, từng lớp màu mỏng manh của tranh lụa. Không giống như các họa sĩ cùng thời chọn tiếp cận những đề tài mang tính khái quát lịch sử hay chất triết lý Đông phương, Lê Văn Đệ chọn quay về với những điều gần gũi nhất – tuổi thơ, người mẹ, cô gái, mái nhà tranh ven ruộng – để khắc họa bằng chất liệu lụa truyền thống, một chất liệu vốn được xem là khó diễn tả chiều sâu và cảm xúc. Tiêu biểu trong số đó là tác phẩm “Thiếu nữ và em bé”, nơi ông khắc họa hình ảnh một thiếu nữ miền quê mặc áo bà ba, đang ân cần chăm sóc đứa em nhỏ bên khung cửa sổ mở ra cánh đồng lúa chín. Với kỹ thuật xử lý lụa mềm mại, bảng màu nhã nhặn và ánh sáng dịu dàng, Lê Văn Đệ tạo ra một không gian đậm chất Nam Bộ, không phô trương, không kịch tính, chỉ là một lát cắt bình dị nhưng thấm đẫm tình cảm và ký ức. Chính sự giản dị này làm nên cái đẹp lâu bền của tranh ông, thứ vẻ đẹp của sự lặng lẽ mà sâu sắc, như chính con người và đất đai phương Nam.

Lê Văn Đệ, Nắng Hè, tranh lụa

Lê Văn Đệ, Nắng Hè, tranh lụa. Nguồn: LUXUO.

Trong khi Nguyễn Phan Chánh – người được xem là “cha đẻ” của tranh lụa hiện đại Việt Nam, khai thác vẻ đẹp của người nông dân Bắc Bộ với nét cứng cáp, bố cục phẳng và gam màu tương phản mạnh, thì Lê Văn Đệ lại đi theo hướng mềm mại, duy cảm, gần như trữ tình. Nguyễn Phan Chánh nhìn thấy tính cách lao động, tính biểu tượng xã hội trong người nông dân – một mối bận tâm mang nặng tinh thần phản ánh thời cuộc và đấu tranh thì Lê Văn Đệ lại hướng đến thế giới nội tâm, ký ức và không gian gia đình, phản ánh một nền văn hóa miền Nam mang nhiều yếu tố cảm xúc, hoài niệm và nhân văn. Tranh của ông không chạy theo chủ nghĩa hình thức hay biểu tượng chính trị, mà hướng về cái đẹp mộc mạc, dân dã: thiếu nữ áo bà ba, trẻ thơ ven sông, mái nhà quê an yên – tất cả đều hiện lên nhẹ nhàng qua từng lớp màu trong trẻo, đường nét uyển chuyển trên nền lụa truyền thống. Lụa trong tay ông không chỉ là chất liệu, mà là linh hồn của miền đất Nam Bộ được khơi dậy bằng hội họa.

Lê Văn Đệ, Thiếu nữ bên cầu ao, tranh lụa

Lê Văn Đệ, Thiếu nữ bên cầu ao, tranh lụa. Nguồn: Arttimes.

Hơn nữa, so với các họa sĩ cùng thời như Tô Ngọc Vân, Lương Xuân Nhị hay Nguyễn Gia Trí, những người chủ yếu khai thác chân dung, tĩnh vật hoặc đề tài đô thị hóa thì Lê Văn Đệ là một trong số hiếm hoi đi sâu vào thế giới nông thôn miền Nam bằng tranh lụa – một lựa chọn táo bạo và độc đáo trong giai đoạn mà lụa chưa được khai thác rộng rãi ở phương Nam.

Lê Văn Đệ, Trong Gia Đình, tranh lụa, 1934

Lê Văn Đệ, Trong Gia Đình, tranh lụa, 1934. Nguồn: Arttimes.

Người gieo mầm lụa và bản sắc Nam Bộ cho mỹ thuật hiện đại Việt Nam

Tranh lụa của Lê Văn Đệ không chỉ đóng góp vào sự đa dạng của mỹ thuật hiện đại Việt Nam, mà còn mở ra một hướng đi riêng cho lụa – mềm mại mà vẫn đầy sức sống dân tộc. Từ đó, các thế hệ sau dần nhìn nhận tranh lụa không chỉ là phương tiện truyền thống, mà còn là chất liệu đầy tiềm năng biểu cảm hiện đại nếu được gắn với bản sắc vùng miền – điều mà ông đã tiên phong chứng minh. Tuy nhiên, ảnh hưởng lớn nhất của Lê Văn Đệ không dừng lại ở những tác phẩm cá nhân, mà lan tỏa mạnh mẽ qua công cuộc giáo dục nghệ thuật. Sau năm 1954, khi Chính phủ quyết định thành lập Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định, họa sĩ Lê Văn Đệ được tín nhiệm giữ chức Hiệu trưởng đầu tiên – không chỉ vì tài năng nghệ thuật, mà còn bởi tầm nhìn giáo dục.

Dù là giám đốc, ông vẫn chọn dạy lớp căn bản cho sinh viên năm nhất, bởi ông tin rằng nền tảng thị giác và tư duy thẩm mỹ là yếu tố cốt lõi. Với một ngón tay quệt nhẹ trên tranh học trò, ông có thể điều chỉnh lại bố cục, ánh sáng, khối và nét để làm bật lên tư duy hình họa. Học trò không chỉ học kỹ thuật, mà còn học cách cảm, cách thấy – đúng với triết lý nghệ thuật ông thường truyền dạy: “Trong cuộc đời và trong cả hội họa cũng vậy, rất có thể anh bỏ qua không cần Thượng Đế, nhưng anh, kẻ khổ đau, anh không thể bỏ qua không cần tới một điều cao hơn: chính là đời anh, quyền năng sáng tạo.” (2)

 Từ lớp học nhỏ ấy, đã bước ra một thế hệ họa sĩ và điêu khắc gia tài năng, trở thành lực lượng nòng cốt của mỹ thuật miền Nam và sau này là cả nước: Hiếu Đệ, Trương Thị Thịnh, Vũ Thị Ngà, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thanh Thu, Lê Thành Nhơn, Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm… Mỗi người có hướng đi riêng, phong cách khác biệt, nhưng đều thừa hưởng ở ông sự tinh tế trong cảm thụ và một tình yêu sâu sắc với vẻ đẹp giản dị của con người, cuộc sống.

Họa sĩ Lê Văn Đệ là người tiên phong đưa tranh lụa vào biểu đạt tinh thần Nam Bộ – mộc mạc, gần gũi và đậm tình quê hương. Ông không chỉ xây dựng cho mình một phong cách riêng trong hội họa, mà còn mở ra một hướng đi mới cho tranh lụa Việt Nam, đề cao vẻ đẹp của đời sống thôn dã, con người bình dị và cảm xúc chân thành. Lê Văn Đệ đã đặt nền móng cho mỹ thuật miền Nam hiện đại khi sáng lập và dẫn dắt Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định. Qua bàn tay ông, nhiều thế hệ học trò tài năng đã trưởng thành và tiếp nối tinh thần nghệ thuật nhân văn, sâu lắng ấy, góp phần tạo nên một dòng chảy mỹ thuật đặc sắc và bền vững cho nền văn hóa Việt Nam.

Bài trước Bài tiếp theo