“Bộ tứ Đông Dương” hay “Tứ Kiệt Đông Dương” là cách mà giới mộ điệu tranh Việt và quốc tế tôn vinh bốn danh họa: Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm và Lê Thị Lựu. Trong số đó, Lê Phổ – người được xem như thi sĩ của tranh lụa Việt Nam – đã để lại một di sản nghệ thuật đồ sộ và phong phú trải dài gần cả thế kỷ, kết tinh giữa tinh thần Á Đông và kỹ thuật phương Tây. Sinh năm 1907 tại Hà Tĩnh trong một gia đình nhà nho, Lê Phổ từ nhỏ đã bộc lộ năng khiếu hội họa. Năm 1925, ông trúng tuyển vào khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – ngôi trường danh giá do họa sĩ người Pháp Victor Tardieu và Nguyễn Nam Sơn sáng lập. Tại đây, ông được đào tạo theo mô hình hàn lâm châu Âu nhưng vẫn giữ gìn và nuôi dưỡng tâm hồn phương Đông. Sự cần mẫn, tinh tế và khả năng tiếp thu sâu sắc đã giúp ông nhanh chóng khẳng định tài năng. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1930, ông được giữ lại làm giảng viên của chính ngôi trường này, là một trong những họa sĩ trẻ nhất đảm nhiệm vai trò sư phạm tại thời điểm đó.
Năm 1931, ông nhận học bổng sang Pháp học tập tại Trường Mỹ thuật Quốc gia Paris (École des Beaux-Arts). Sự kiện này không chỉ đánh dấu bước ngoặt lớn trong sự nghiệp cá nhân mà còn mở ra một hành trình hội nhập đầy cảm hứng giữa nghệ thuật Việt Nam và dòng chảy nghệ thuật toàn cầu. Trong khi nhiều họa sĩ châu Âu thời bấy giờ chạy theo chủ nghĩa hình thức và trào lưu tiên phong đầy thách thức, Lê Phổ vẫn chọn con đường điềm tĩnh, tận dụng những gì tinh túy nhất từ hai nền văn hóa để xây dựng một phong cách không thể trộn lẫn.
Hòa tan và phát triển nhưng chậm nhịp với những dòng chảy đương thời
Muốn hiểu về một người nghệ sĩ, cần đặt người ấy trong sự dài rộng của không gian và tiến trình nghệ thuật. Ngay từ những bước đi đầu tiên, Lê Phổ đã chứng minh được sự tài hoa trong nghệ thuật của mình khi là một trong 10 sinh viên ngành mỹ thuật của khóa đầu tiên (1925-1930) của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương trên tổng số 270 đơn đăng kí từ cả 3 nước Đông Dương. Ở cái thời điểm mà Việt Nam hầu như chưa có một trường đào tạo chính quy về mỹ thuật nào và tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ gần như cách biệt với thế giới bên ngoài và không có triển vọng gì đáng kể, thì việc đỗ vào Cao đẳng Mỹ Thuật gần như đã định hình danh nghĩa “thế hệ nền móng” cho danh họa này. Trong thời gian theo học, Lê Phổ luôn được các thầy xếp vào nhóm sinh viên "tinh hoa" của khóa. Bản thân Lê Phổ được đích thân Hiệu trưởng Victor Tardieu trực tiếp hướng dẫn suốt 5 năm học. Theo Đào Duy Anh, sách Việt Nam Văn hóa Sử cương, 1938 có viết “… Từ năm 1924, ở Hà Nội có mở một trường Cao-đẳng Mỹ-nghệ; có những ban hội hoạ, trang sức, kiến trúc, cùng sơn và bắt tượng. Tôn chỉ của trường là dung hợp tự nhiên với truyền thống, khiến học sinh phải quan sát và biểu diễn tự nhiên theo những nguyên tắc mỹ học phổ thông của loài người, và phát triển những tinh thần đặc biệt của nghệ thuật việt-nam và đông-phương. Chính vì thế mà khi được đào tạo tại đây, Lê Phổ được học đa dạng từ các khóa vẽ, tô màu hoặc điêu khắc trực tiếp theo mẫu, nghệ thuật trang trí Đông Á, tới kỹ thuật sơn dầu, vẽ tranh trên lụa, sau cùng là tranh sơn mài.
Thế nhưng, vì là một trường do Pháp lập, nên gần như hệ tư tưởng về chủ nghĩa thực dân và Đông Phương học là điều không thể nào tránh khỏi. Thời kì này, Lê Phổ không vẽ một bức tranh nào về thực dân Pháp. Ông chi đơn thuần là tập trung vẽ lại một “Á Đông" trong tranh với những chi tiết tinh tế trên quần áo, kiến trúc và nội thất chính xác đến từng chi tiết. Chúng nhằm thể hiện những hình ảnh về một Việt Nam yên bình và lý tưởng. Ông ưa thích những khung cảnh trầm lắng và những con người sinh sống trong cái dung dị ấy. Không phủ nhận Lê Phổ đã có sự kết hợp khi được học chương trình học mỹ thuật Âu Châu, khi sáng tác lại được hướng về nghệ thuật dân tộc, thế nhưng có lẽ sau này được cấp học bổng sang học tại Trường Mỹ thuật Paris, có điều kiện đi thăm thú nhiều nước châu Âu, trường phái Ấn tượng đã gần như mang đậm trong từng tác phẩm của Lê Phổ. Những sáng tác như “Vietnamese Woman with Flowers” hay “Mother and Child” luôn phản ánh đời sống Việt Nam một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc dù đã có sự thâm nhập của Ấn tượng Pháp. Hay như Nhà nghiên cứu/giám tuyển mỹ thuật Lý Đợi cho rằng không chỉ danh họa Lê Phổ mà nhiều họa sĩ bắt đầu sống ở Pháp khi trưởng thành. Họ hòa nhập khá trọn vẹn về ngôn ngữ và đời sống, nhưng về tâm tư, văn hóa, nghệ thuật lại thường “riêng một góc trời”. "Nếu họ chọn vẽ giống như Tây phương có vẻ dễ dàng hơn cho họ ở nhiều khía cạnh, thậm chí cả thị trường. Thế nhưng các tác phẩm quan trọng của họ thường là những điển tích từ văn hóa, văn chương hoặc các câu chuyện xưa của Việt Nam", ông Lý Đợi phân tích. (Tại sao Lê Phổ trở thành họa sĩ triệu USD?, Ngọc Linh).

Lê Phổ, LA JEUNE FILLE AUX POMMES-CANNELLE, mực và màu trên lụa, 1938. Nguồn: Le Auction House.
Ông bắt đầu sự nghiệp khi nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại đang ở buổi bình minh, nơi những ảnh hưởng của nghệ thuật hàn lâm châu Âu đang lan rộng qua Trường Mỹ thuật Đông Dương thông qua họa sĩ Người Pháp Victor Tardieu. Nhưng thực tế thay, ngay tại phía xa kia của bán cầu, mỹ thuật thế giới đã bắt đầu chuyển mình sang Chủ nghĩa Biểu hiện (Expressionism) với lối bày tỏ tâm tư, cảm xúc của chủ thể tác phẩm hay chủ nghĩa Siêu Thực (Surrealism) với nền tảng Phân tâm học của Sigmund Freud. Lê Phổ đứng giữa những giao thời ấy, chọn học kỹ thuật vẽ Tây phương để diễn đạt tâm hồn Việt Nam, mang những chất liệu như tranh lụa, sơn dầu trở thành công cụ truyền tải vẻ đẹp quê hương là vì nhiều lí do. Giai đoạn đầu, các họa sĩ còn mới tiếp cận kỹ thuật vẽ sơn dầu, bố cục, phối cảnh, hình họa và chủ yếu chỉ gọi là học hỏi, sao chép kỹ thuật hàn lâm châu Âu. Nên việc tự do thể hiện tư tưởng như các nghệ sĩ quốc tế đương thời là điều hạn chế. Hơn nữa việc tìm đến nhưng sự gần gũi ở nơi đất khách quê người như bản sắc dân tộc, nên quay về khai thác đề tài truyền thống như phong cảnh, phụ nữ, đời sống làng quê – điều này khiến họ càng xa rời xu hướng hiện đại quốc tế.
Một thế giới mộng mơ và thi vị trên toan vải
Chủ nghĩa lãng mạn là phong cách sáng tác chính của Lê Phổ. Ông không miêu tả cuộc sống một cách chân phương đơn thuần mà luôn tô điểm cho nó bằng cảm xúc và ánh sáng. Các nhân vật trong tranh thường hiện lên như bước ra từ một thế giới thiêng liêng, nơi cái đẹp được gìn giữ và tôn vinh như giá trị tối thượng. Những bức tranh như “Thiếu nữ bên hoa huệ”, “Mẹ và con”, “Phong cảnh miền Bắc” thể hiện rõ lối vẽ mộc mạc nhưng rất đỗi tinh tế. Giai đoạn trung gian (1945–1960) chứng kiến sự chuyển mình sang sơn dầu và các chất liệu phương Tây. Tranh của ông lúc này vẫn giữ chủ đề quen thuộc nhưng được diễn đạt bằng bố cục rộng mở hơn, màu sắc phong phú hơn.

Lê Phổ, Phụ nữ và hoa, vải lụa đặt trên gỗ, 1960. Nguồn: Sotheby's.
Sau này, dù thay đổi chất liệu và mở rộng phong cách, ông vẫn kiên định với hồn cốt Việt Nam. Cách ông đưa hoa sen, thiếu nữ, và những cảnh vật đồng quê vào tranh khiến người xem phương Tây như được mở cửa bước vào một thế giới phương Đông vừa lạ lẫm vừa dịu dàng. Tranh của ông không nặng về tư tưởng hay chính trị, cũng không chạy theo chủ nghĩa hiện thực nghiệt ngã. Nét vẽ mềm mại, chuyển màu uyển chuyển, và ánh sáng trong tranh ông luôn mang tính thẩm mỹ cao. Ông thường sử dụng tông màu pastel – vàng, hồng, xanh rêu, trắng ngà – để diễn tả sự mong manh, duyên dáng. Những chủ đề quen thuộc được ông thổi hồn để trở nên có chiều sâu nội tâm, đầy thi vị. Ở một số tác phẩm sau năm 1960, khi ông đã chuyển hẳn sang sơn dầu, nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy rõ hơn ảnh hưởng của chủ nghĩa biểu cảm nhẹ nhàng, nơi ông không chỉ mô tả cái nhìn bên ngoài mà còn truyền tải cảm xúc nội tâm. Trong các bức tranh như “Woman in the Garden”, “Innocent Childhood” hay “Motherhood”, sự tĩnh tại, yên bình và ánh sáng mơ màng gợi một thế giới vượt thoát hiện thực, nhưng không hề xa rời nó.

Lê Phổ, LA FAMILLE (GIA ĐÌNH ), vẽ mực và màu trên lụa, 1935. Nguồn: LUXUO.
Với Lê Phổ, nghệ thuật là sự gìn giữ cái đẹp, là nơi phản ánh sự hòa hợp giữa con người – thiên nhiên – truyền thống. Hệ đề tài của ông nhất quán, xoay quanh phụ nữ, trẻ em, hoa lá, gia đình, làng quê – những biểu tượng của sự sống, yêu thương và hồi tưởng. Một số tác phẩm tiêu biểu như “The Girl with Lotus”, “Vietnamese Woman with Flowers”, “Mother and Child”, “Figures in a Garden”... thể hiện rõ nét sự kết hợp giữa truyền thống và sáng tạo. Có thể nói, ông đã nâng nghệ thuật vẽ tranh lụa và sơn dầu Việt Nam lên một tầm cao mới – nơi mà chất liệu không còn là giới hạn mà trở thành phương tiện để thể hiện thế giới nội tâm phong phú của người nghệ sĩ. Không ít nhà nghiên cứu mỹ thuật nhận định tranh của ông giống như những giấc mơ thơ ca – vừa nhẹ nhàng, vừa gợi cảm, lại hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa. Tranh ông không ồn ào, nhưng để lại dư âm sâu sắc. Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng từng viết rằng: “Tranh của Lê Phổ như một bản giao hưởng êm ái giữa cổ điển và hiện đại, giữa hoài niệm và thực tại.” Chính sự kết hợp nhuần nhuyễn đó đã khiến ông trở thành một trong những họa sĩ Việt Nam có giá tranh cao nhất trên thị trường quốc tế.
Di sản vượt thời gian
Danh họa Lê Phổ có hàng ngàn bức tranh lớn nhỏ khác nhau, nhưng đa phần là các bức tranh tĩnh vật. Ông cũng là một trong những họa sĩ triệu đô đầu tiên của nền Mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Cho đến nay, nhiều bức tranh của Lê Phổ đã được đưa ra đấu giá tại các nhà đấu giá lớn như Sotheby’s, Christie’s và đạt mức giá ấn tượng. Tháng 4/2017, bức “Family Life” được Sotheby’s Hong Kong gõ búa hơn 1,1 triệu USD. Tháng 4/2022, bức “Figures in a Garden” cũng được bán với giá hơn 750.000 USD.
“Trả lời câu hỏi, tại sao so với các họa sĩ tài danh khác ở Việt Nam, tranh Lê Phổ lại đứng ở mức giá cao như vậy, nhà phê bình mỹ thuật Nguyên Hưng cho rằng, lý do cơ bản là vì "chúng đang ở trên một kênh thương mại được điều hành tốt". Và "kênh thương mại" ở đây không phải cái gì khác mà chính là gallery Wally Findlay ở Mỹ, một gallery gần như độc quyền về tranh Lê Phổ, với việc có trong tay cả ngàn bức tranh của ông. Họ có cách tuyên truyền, giới thiệu bài bản. Vả chăng, họ muốn đánh vào tâm lý của người thưởng thức nghệ thuật, khi mà Lê Phổ là một họa sĩ thuộc lớp đầu tiên của nền mỹ thuật đương đại Việt Nam, và với thị trường trong nước, ông lại thuộc diện "ít được chú ý", cho nên họ càng tin tranh ông để càng lâu càng có giá…” (Họa sĩ Lê Phổ: Lửa thử vàng thời gian thử... giá)
Không chỉ dừng lại ở việc thành công về mặt thị trường, Lê Phổ còn là một người mở đường – một biểu tượng của nghệ thuật Việt Nam hiện đại khi là khóa đầu tiên thành danh từ ngôi trường Mỹ thuật nổi tiếng và cũng là nhân vật đại diện cho trường phái Lãng mạn Pháp - trường phái gần như là đặc thù trong buổi đầu phát triển của hội họa Việt. Hay nói cách khác, nhắc tới lãng mạn, nhắc tới người mở đường và nhắc tới một danh họa kiệt xuất, người ta sẽ lập tức thốt ra một cái tên: Đó là Lê Phổ.
Lê Phổ mất năm 2001 tại Paris, kết thúc một cuộc đời sáng tạo bền bỉ và giàu cống hiến. Tuy vậy, tinh thần và phong cách nghệ thuật của ông vẫn sống mãi qua từng nét vẽ, từng gam màu, và trong tình cảm của những người yêu mỹ thuật ở cả Đông lẫn Tây. Nhắc đến ông không chỉ là nhắc đến một danh họa tài ba, mà còn là nhắc đến một hành trình nghệ thuật vượt biên giới, một trái tim không ngừng rung động vì cái đẹp, một người đã biến hội họa thành chiếc cầu bắc nhịp giữa hai thế giới – để hồn Việt mãi ngân vang trong không gian nghệ thuật toàn cầu.
