Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Chủ nghĩa Siêu thực - Surrealism (Kỳ 1)

Chủ nghĩa Siêu thực - Surrealism (Kỳ 1)

Thế kỷ XX là giai đoạn đầy biến động của lịch sử châu Âu, khi những thay đổi sâu sắc về chính trị, khoa học và đời sống xã hội đã làm lung lay nhiều hệ giá trị vốn được xem là ổn định. Trong bối cảnh đó, nghệ thuật cũng bước vào một thời kỳ tìm kiếm những phương thức biểu đạt mới nhằm vượt ra khỏi logic quen thuộc của lý trí và hiện thực. Chủ nghĩa Siêu thực (Surrealism) ra đời như một phản ứng mạnh mẽ trước những giới hạn của tư duy duy lý, đồng thời mở ra một cách tiếp cận hoàn toàn khác đối với trí tưởng tượng, giấc mơ và thế giới vô thức của con người.

Khởi nguồn từ văn chương và tư tưởng của các nghệ sĩ tiên phong tại Paris đầu thế kỷ XX, phong trào Siêu thực nhanh chóng phát triển thành một hiện tượng nghệ thuật và văn hóa rộng lớn. Không chỉ dừng lại ở hội họa, Siêu thực còn ảnh hưởng sâu rộng đến văn học, điện ảnh, tư duy chính trị và nhiều lĩnh vực sáng tạo khác. Chuỗi bài viết này sẽ lần lượt đi qua những khía cạnh quan trọng của phong trào: từ bối cảnh hình thành và tuyên ngôn nghệ thuật, các đặc điểm và phương pháp sáng tác tiêu biểu, những nghệ sĩ dẫn dắt phong trào, cho đến tác động lâu dài của Siêu thực đối với nghệ thuật và văn hóa thế kỷ XX. Qua đó, có thể thấy rằng Siêu thực không chỉ là một trường phái nghệ thuật, mà còn là một cuộc cách mạng trong cách con người nhìn nhận thực tại và trí tưởng tượng.

René Magritte, The Treachery of Images (Sự phản bội của hình ảnh), 1929. Nổi bật với câu tuyên bố “Ceci n'est pas une pipe” (nghĩa đen: “Đây không phải là một cái tẩu”). Nguồn: Bảo tàng Nghệ thuật Los Angeles (LACMA), Hoa Kỳ

Tiến trình phát triển của phong trào Siêu thực

Thuật ngữ “Siêu thực” được lần đầu tiên sử dụng bởi nhà thơ người Pháp Guillaume Apollinaire. Ông đã phát minh ra cụm từ hiện đại này vào năm 1917 và sử dụng nó đến tận hai lần trong cùng một năm. Lần đầu tiên, cụm “Siêu thực” xuất hiện trong vở kịch “Les Mamelles de Tirésias” – Bộ ngực của Tiresias (1917). Vở kịch là câu chuyện về một người phụ nữ mất bản năng tự nhiên của một người mẹ. Cô tuyên bố rằng sẽ nuôi lông mặt và tham gia quân đội, đồng thời cũng cho biết rằng bộ ngực của mình đang dần tách khỏi cơ thể. Trong khi đó, người chồng của cô chỉ hờ hững nhún vai và nói rằng sẽ tự mình sinh con trong khi vợ mình tham gia nghĩa vụ. Cuối cùng, anh đã sinh ra 40.049 người con trong một ngày. Quả là một vở kịch “surréaliste”! 

Trong một vở ba-lê khác, Apollinaire đã sử dụng lại cụm “Siêu thực” cho lời giới thiệu. Ông đã miêu tả vở ba-lê “Parade” – Cuộc diễu hành (1917) là “une sorte de surréalisme”, tức là “vượt ngoài chủ nghĩa siêu thực”. Một loạt những siêu sao nổi tiếng đã được tập hợp để thực hiện vở ba-lê này: nhà văn Jean Cocteau phụ trách dàn dựng bối cảnh, nhạc sĩ Erik Satie đảm nhiệm phần âm nhạc và sân khấu, trang phục được thiết kế bởi Pablo Picasso. 

Max Ernst, The Elephant Celebes (Những con voi Celebes), 1921. Nguồn: Bảo tàng Tate Modern, London, Anh.

Vở kịch này lấy bối cảnh của thế giới xiếc, kể về một nhà quản lý đoàn xiếc đang cố gắng mở rộng kinh doanh bằng những kế hoạch táo bạo. Nội dung vở ba-lê không có gì quá đặc biệt, ngoại trừ phần nhạc jazz và ragtime của Satie, hòa cùng tiếng quạt máy bay và tiếng máy gõ, trong khi các vũ công tung hứng và nhào lộn. Mục đích của màn thể hiện này nhằm tái hiện cuộc sống hiện đại này, nhưng khung cảnh lộn xộn đã khiến phần lớn khán giả không hài lòng. Công chúng không mong chờ một màn diễn xiếc ngay trong một vở kịch thanh lịch. Ngoài những khía cạnh gây bối rối về mặt thị giác, vở kịch này đã thể hiện sự táo bạo tối đa trên một ngân sách tối thiểu – những điều gây kinh ngạc tuyệt đối với khán giả thời bấy giờ. Một lần nữa, Apollinaire đã rất chính xác khi dùng “Siêu thực” cho vở diễn có một-không-hai này. 

Tuy vậy, công chúng vẫn chưa có nhiều nhận thức hay ý niệm về “Siêu thực” cho đến khi André Breton (1896 - 1966) biến cụm từ này thành một ngôn ngữ đại diện cho một trường phái nghệ thuật. Khi phong trào Dada bước vào giai đoạn thoái trào, Breton tìm kiếm một hình thức biểu đạt nghệ thuật mới kết hợp được hai thứ: đầu tiên là khái niệm phân tâm học của Sigmund Freud. Breton đặc biệt quan tâm đến nghiên cứu về vai trò của tâm trí vô thức trong hành vi con người, được bộc lộ qua những giấc mơ và phương pháp liên tưởng tự do (automatism) trong phân tâm học của Freud. Breton mong muốn có thể kết hợp lý thuyết này vào tư duy nghệ thuật của Dada để tạo ra một trường phái nghệ thuật mới. 

Bắt đầu từ 1916 - 1918, ông đã thường xuyên gặp Apollinaire – cố vấn văn học của mình. Cho đến năm 1924, khi Breton viết bản tuyên ngôn cho phong trào nghệ thuật mới và đang loay hoay với việc đặt tên, ông đã xem lại vựng tập của Apollinaire thì tìm thấy từ “surréalisme”. Ngay lập tức bài toán khó đã có lời giải. Trong Tuyên ngôn đầu tiên của Chủ nghĩa Siêu thực (First Manifesto of Surrealism - 1924) Breton ghi nhận nguồn gốc của cụm từ “Siêu thực” ở đoạn: “Để tỏ lòng tôn kính với Guillaume Apollinaire, tôi đã rửa tội cho phương thức biểu đạt thuần tuý mới… Chủ nghĩa Siêu thực” 

Tuyên ngôn Siêu thực 

Thực chất, phong trào này bắt đầu với một cuộc khủng hoảng. Breton lật đổ những định nghĩa sẵn có của nghệ thuật đương thời, thay vào đó, ông đã biến trường phái nghệ thuật mới thành một phong trào gợi lên những bí mật không hợp lẽ, bị đè nén của tâm trí vô thức của con người. Việc làm này của Breton đã gây nên sự mất phương hướng trên diện rộng – điều mà Breton cho là tuyệt vời. 

Bìa số đầu tiên của La Révolution surréaliste, tháng 12 năm 1924. Nguồn: Thư viện quốc gia Pháp.

Đã có khá nhiều nghệ sĩ áp dụng vô thức khi thực hành nghệ thuật như Wassily Kandinsky hay Piet Mondrian. Trong khi những nghệ sĩ này muốn khơi gợi một cảm giác thăng hoa thông qua những bức tranh trừu tượng,Chủ nghĩa Siêu thực mà Breton muốn hướng tới chính là sự đối đầu với công chúng bằng những từ ngữ và hình ảnh gây sốc để phơi bày sự suy đồi của tâm trí.

Breton đã bắt  Siêu thực y hệt như cách mà Dada bắt đầu với sự bẻ cong văn học. Ông thường trích dẫn thơ văn xuôi của Comte de Lautréamont – nhà thơ nổi tiếng người Pháp thế kỷ XIX – Les Chants de Maldoror (Những khúc ca của Maldoror – 1868 - 1869). Toàn bộ tác phẩm này là những sự kết hợp hết sức vô lý. Điển hình như câu thơ “Đẹp như cuộc gặp gỡ tình cờ của một chiếc máy may và một chiếc ô trên bàn mổ” mang đến một hình ảnh điên rồ dưới vỏ bọc bình thường theo đúng tinh thần Siêu thực. Chắc chắn kích thích sự tò mò hoặc gây bối rối cho công chúng – là chính xác điều mà Breton đang nhắm tới.

Ngoài ra, Breton còn chủ trương vận động các tên tuổi lớn để ghi vào áp phích quảng cáo dù hầu hết họ không đăng ký tham gia phong trào này. Dante với bài thơ sử thi “Thần khúc” (The Divine Comedy) hay Shakespeare với “Giấc mộng đêm hè” (A Midsummer Night’s Dream) được Breton không ngại ngần tuyên bố là những nhà văn Siêu thực. Sau đó, các nhà thơ chủ nghĩa Tượng trưng như Mallarmé, Baudelaire và Rimbaud cũng được tuyên bố là những người theo Chủ nghĩa Siêu thực nguyên thuỷ. Thậm chí, nhà văn người anh Lewis Carroll với những câu thơ vô nghĩa và tiểu thuyết gia người Mỹ Edgar Allan Poe cũng được Breton xếp vào nhóm những nhà văn Siêu thực. Còn trong lĩnh vực hội hoạ, cả Marcel Duchamp và Pablo Picasso với bức tranh Ba vũ công (The three dancers - 1925) cũng được Breton tận dụng để quảng bá cho phong trào mới.

Yvan Goll, Surréalisme, Manifeste du surréalisme, Tập 1, Số 1, ngày 1 tháng 10 năm 1924. Bìa bởi Robert Delaunay. Nguồn: Blue Mountain Project.

Tóm lại, Chủ nghĩa Siêu thực là phong trào với các phép ẩn dụ và sự kết hợp phi lý, những sự kiện kỳ quái và kết cục kỳ dị, địa điểm rùng rợn và những chuyến đi huyền bí. Breton đã mô tả Chủ nghĩa Siêu thực của mình là:

“Chủ nghĩa tự động tâm lý ở trạng thái thuần tuý (psychic automatism in its pure state), qua đó người ta đề xuất thể hiện, bằng lời nói, bằng văn bản, hoặc bằng bất kỳ cách nào khác, hoạt động thực sự của tư tưởng. Sự chi phối của tư tưởng khi không có bất kỳ sự kiểm soát nào của lý trí, nằm ngoài mọi mối bận tâm về thẩm mỹ và đạo đức.” 

Tức là, khi viết hoặc vẽ ở trạng thái trance (nửa tỉnh nửa mê), tâm trí có ý thức và chủ đích bị ngắt kết nối hoàn toàn, thay vào đó, vô thức sẽ chiếm quyền kiểm soát để tiết lộ những bí mật sâu thẳm của não bộ – một thứ đầy rẫy sự thật đen tối và nguy hiểm.

Từ cách mạng tinh thần đến hình ảnh thẩm mỹ

Alberto Giacometti, Woman with Her Throat Cut (Người phụ nữ bị cắt cổ), 1932 (đúc năm 1949). Nguồn: Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA), New York, Hoa Kỳ.

Dựa trên tuyên ngôn đanh thép của Breton, các nghệ sĩ Siêu thực đã phát triển một nghệ thuật thị giác giải phóng tầm nhìn thông thường bằng những giấc mơ, vô thức của bộ não và những liên tưởng tự do. Có rất nhiều nghệ sĩ chịu ảnh hưởng và tác động rõ rệt từ phân tâm học của Sigmund Freud. Các hình ảnh méo mó, phi logic, những sự ám ảnh hay lo âu hiện diện sống động trong những tác phẩm của Salvador Dalí hay Max Ernst. Các nghệ sĩ Siêu thực đã thực sự phá vỡ những nguyên tắc vật lý hình thành và phát triển từ thời Phục Hưng. Kỹ thuật tự động (automatism) mà Breton đề cao cũng được các nghệ sĩ phát triển thành những phương pháp mới như frottage hay grattage.

Tuy nhiên, nghệ thuật thị giác Siêu thực không hoàn toàn tuân theo tất nhà những gì mà Breton đề ra. Trong khi Breton muốn giải phóng tâm trí khỏi kiểm soát ý thức nhưng nhiều hoạ sĩ Siêu thực lại vẽ cực kỳ chính xác bằng cách dùng kỹ thuật cổ điển để kiểm soát bố cục một cách chặt chẽ. Điển hình là Salvador Dalí. Ông gọi phong cách của mình là “paranoiac-critical method” – một phương pháp có kiểm soát cao, không hề “tự động”. Đây có thể coi là mâu thuẫn lớn giữa tuyên ngôn của Breton và hội hoạ Siêu thực – một nghệ thuật thường được “dàn dựng” hơn là “bộc phát”.

Vậy cụ thể những sự khác biệt đó là gì? Và các nghệ sĩ đã thể hiện nó ra sao? Câu trả lời sẽ được bật mí trong những phần tiếp theo của chuỗi bài viết về Chủ nghĩa Siêu thực thú vị này.

Bài trước Bài tiếp theo