Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/

Thành Chương

Có những khác biệt, khi được nuôi dưỡng bởi sự ủng hộ tuyệt đối của người cha, đã trở thành động lực cho một tư duy khát khao cá nhân, dám vượt khỏi “cái cần phải y nhau” để hình thành nên cá tính nghệ thuật để đời mang tên Thành Chương.

Họa sĩ Thành Chương ở xưởng vẽ. Ảnh thuộc Bài viết Họa sĩ Thành Chương: Tranh phải lấy sự sáng tạo nghệ thuật là cốt yếu, Báo Người Hà Nội.

Họa sĩ Thành Chương ở xưởng vẽ. Nguồn: Bài viết Họa sĩ Thành Chương: Tranh phải lấy sự sáng tạo nghệ thuật là cốt yếu, Báo Người Hà Nội.

Một cá tính khác biệt từ tuổi thơ

Thành Chương, tên thật là Nguyễn Thành Chương, sinh năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc. Ông là con trai của nhà văn Kim Lân, tác giả truyện ngắn Vợ nhặt, một tác phẩm quen thuộc với bao thế hệ học trò phổ thông 8x - 9x. Dù nổi tiếng trong văn chương, cụ Kim Lân lại nuôi trong mình niềm đam mê hội họa, và chính tình yêu ấy đã được truyền lại cho con trai. Quan trọng hơn, cụ không áp đặt con phải đi theo lối mòn, mà luôn khích lệ Thành Chương tự do sáng tạo, hình thành một cá tính nghệ thuật độc lập.

Không chỉ lớn lên trong mái nhà văn chương, Thành Chương còn may mắn được nuôi dưỡng trong cái nôi nghệ thuật của Hội Văn hóa Cứu Quốc, nơi từng quy tụ những tên tuổi như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng… và nhiều bậc tinh hoa khác. Chính môi trường ấy đã sớm thấm vào ông một tinh thần nghệ sĩ. Năm lên bảy, Thành Chương gây chấn động khi đoạt giải Vàng quốc tế với bức tranh thiếu nhi Con gà tồ. Câu chuyện “cậu bé thần đồng cầm cọ” bước ra thế giới từ chiến khu đã trở thành một dấu ấn khó phai trong ký ức nghệ thuật Việt Nam thời ấy.

Thành Chương, Một tác phẩm chủ đề Con gà. Ảnh thuộc Bài viết Cơn "say" gà của họa sĩ Thành Chương, An ninh Thủ đô.

Thành Chương, Một tác phẩm chủ đề Con gà. Nguồn: Bài viết Cơn "say" gà của họa sĩ Thành Chương, An ninh Thủ đô.

Tuổi học trò của ông gắn với Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Nhưng khác với nhiều bạn bè đồng trang lứa, Thành Chương không dễ dàng chấp nhận những quy chuẩn khắt khe của nền mỹ thuật hàn lâm.

“Những cái bài cơ bản tôi vẽ rất tốt, nhưng khi sáng tác, tôi không vẽ theo tất cả mọi người nghĩ, tôi vẽ theo sáng tạo, cái ý thích của riêng mình. Và cái điều ấy hồi xưa, theo một nền giáo dục như thế, thì không được. Nhưng tôi thấy đúng, cho nên tôi kiên quyết tôi theo.”

Sự “cứng đầu” ấy đã đưa ông rẽ sang một ngã khác. Thay vì bám lấy những con đường thuận lợi và nhàn hạ, ông quyết định xin nhập ngũ. Trong môi trường quân ngũ, ông vừa sống tinh thần “chống Mỹ cứu nước”, vừa giữ cho mình ngọn lửa sáng tạo. Với cái tên Chường Thanh (đọc lái của Thành Chương), ông miệt mài ký họa chiến trường, ghi lại những khoảnh khắc khốc liệt và chân thực của đời lính.

“Tôi xin vào bộ đội với tinh thần chung chống Mỹ cứu nước. Lúc nào cũng có cái tập vẽ bên mình để ký họa mỗi khi rảnh. Giữ cái mạch sáng tạo liên tục, được là mình chứ không phải là một cái suy nghĩ rập khuôn ai cũng y nhau được.”

Thành Chương, Bên cầu phao Đông Hà, 1972. Ảnh thuộc Bài viết Họa sĩ Thành Chương: Từ ký họa chiến tranh đến tác phẩm ‘Cô gái mở đường’, Báo Đại đoàn kết.

Thành Chương, Bên cầu phao Đông Hà, 1972. Nguồn: Bài viết Họa sĩ Thành Chương: Từ ký họa chiến tranh đến tác phẩm ‘Cô gái mở đường’, Báo Đại đoàn kết.

Chính trong môi trường khắc nghiệt ấy, cá tính nghệ thuật của ông càng được tôi luyện sắc bén. Sau ngày đất nước thống nhất, cơ duyên đưa ông về công tác tại Báo Văn nghệ. Tại đây, Thành Chương để lại dấu ấn với bản thiết kế tựa báo (masthead) vẫn còn được dùng đến hôm nay, đồng thời tiên phong thay đổi quan niệm về tranh minh họa. Nếu trước đó minh họa chỉ đơn thuần là “vẽ lại” chi tiết văn bản, ông khẳng định: minh họa phải vẽ cảm xúc mà tác phẩm đem đến.

Hơn 35 năm gắn bó với Báo Văn nghệ, Thành Chương vừa là chứng nhân, vừa là người tạo nên một giai đoạn mới mẻ của mỹ thuật minh họa Việt Nam. Và hành trình ấy cũng khẳng định một điều: ông chính là nghệ sĩ dám bước ra khỏi “vùng đồng nhất”, để kiên định sống với sự tự do sáng tạo của riêng mình.

Ngẫu hứng, dân gian, một bản sắc

Nếu phải tìm một từ để khái quát con đường nghệ thuật của Thành Chương, thì đó là “ngẫu hứng”. Ông không đặt cho mình quy tắc cứng nhắc nào, mà tin vào sự thăng hoa tức thì, vào cảm xúc dẫn dắt bàn tay.

Trong những năm tháng chiến tranh, ông vẫn sáng tác không ngơi nghỉ dưới bút danh Chường Thanh. Những bức ký họa chiến trường của ông, đăng tải trên nhiều tờ báo miền Bắc, ghi lại khoảnh khắc chân thực và sống động, như một minh chứng rằng ngọn lửa nghệ thuật không thể bị dập tắt bởi khói lửa bom đạn.

"Tôi có trong cái ba lô của mình đủ thứ: súng ống, đạn dược, cuốc xẻng, thuốc men, mặt nạ chống độc, rồi ruột tượng gạo... mọi thứ đều đầy đủ hết. Nhưng lúc nào cũng có thêm một cái cặp đựng một cuốn sổ và một cây bút chì. Đi đâu, rảnh ra là tôi lại ký họa."

Ảnh chụp Họa sĩ Thành Chương đang vẽ ký họa ở Trường Sơn 1970. Ảnh thuộc Bài viết Bản ngã nghệ thuật ít ai biết về Thành Chương trong thời chống Mỹ, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.

Ảnh chụp Họa sĩ Thành Chương đang vẽ ký họa ở Trường Sơn 1970. Nguồn: Bài viết Bản ngã nghệ thuật ít ai biết về Thành Chương trong thời chống Mỹ, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.

Rời chiến hào, trở lại đời thường, ông tiếp tục “gieo” chất dân gian vào từng bức tranh. Hình ảnh về con gà, con trâu, mái đình, chiếc chum vại, nếp nhà cổ… hiện diện như một mạch ngầm ký ức Bắc Bộ. Tranh Thành Chương cũng gợi nhớ tinh thần tranh Đông Hồ, Hàng Trống, những đường nét dân dã nhưng giàu sức biểu đạt. Với ông, nghệ thuật không thể tách khỏi dân tộc, và mỗi tác phẩm phải mang theo bản sắc riêng.

Một trong những mảng sáng tác quan trọng nhất là chân dung tự họa. Hàng ngàn bức đã ra đời, mỗi bức một diện mạo, một tâm trạng, không lặp lại: trên giấy dó, trên toan, sơn mài, thậm chí cả chất liệu đời thường. Hầu như mọi nhà sưu tập đều sở hữu ít nhất một bức tự họa, điều này minh chứng cho sức hút đặc biệt của loạt tranh này. Theo nhà phê bình Lã Nguyên, những “chân dung tự họa” ấy không sao chép một Thành Chương bằng xương bằng thịt, mà là những cấu trúc mới lạ, nhiều khi phi lí, chỉ nhờ nghệ thuật của ông mới có thể thấy. Vậy nên, có thể nói, ở Việt Nam, hiếm họa sĩ nào lấy tự họa làm ‘mạch nguồn’ lớn lao như ông.

Thành Chương, Tự họa. Ảnh thuộc Bài viết ‘Mật ngữ’ Thành Chương, Báo Đại đoàn kết.

Thành Chương, Tự họa. Nguồn: Bài viết ‘Mật ngữ’ Thành Chương, Báo Đại đoàn kết.

Điều làm nên khác biệt ở Thành Chương là khả năng dung hòa: vừa dân gian, vừa hiện đại. Tranh của ông tiếp thu tinh thần Lập thể (Cubism), Biểu hiện (Expressionism) nhưng không “sao chép” phương Tây. Đường nét khoẻ khoắn, màu sắc trang trí gần với mỹ cảm dân gian, hình khối lập thể được “thổi hồn” vào đời sống Việt. Như nhà phê bình Lã Nguyên nhìn nhận bút pháp lập thể của Thành Chương sử dụng khối hình kỷ hà, như tam giác, tròn, lập phương… chồng xếp tạo chiều sâu không gian, kết hợp với màu sắc rực rỡ, gần gũi với mỹ cảm hội làng.

Nếu Picasso phá vỡ cấu trúc cổ điển để cách mạng nghệ thuật phương Tây đầu thế kỷ XX, thì Thành Chương dùng lập thể để làm mới văn hóa Việt. Ông đã “dịch” đời sống dân gian sang một ngôn ngữ hiện đại. Trên bình diện Việt Nam, có thể đặt ông cạnh Tạ Tỵ, người tiên phong lập thể những năm 1950 - 1960, hay Ca Lê Thắng, người bạn cùng thời chọn lối vẽ thiên về trừu tượng biểu hiện. Nhưng nếu Tạ Tỵ hướng ngoại tìm đến triết học phương Tây, Ca Lê Thắng khám phá cái vô hình, thì Thành Chương lại chọn con đường ngược: trở về với dân gian, dùng ngôn ngữ hiện đại để kể câu chuyện làng quê, kiến trúc đình chùa, hội hè.

Thành Chương, Chuyện nhà chuột. Ảnh thuộc Bài viết Xem tranh Thành Chương, VOV5

Thành Chương, Chuyện nhà chuột. Nguồn: Bài viết Xem tranh Thành Chương, VOV5.

Ba ngôn ngữ tạo hình lớn hội tụ trong tranh Thành Chương là: lập thể, phù điêu đình chùa, và bảng màu hội làng. Từ vàng kim, xanh nõn chuối, xanh cánh chả đến đỏ son, hồng điều…, những gam màu “mớ bảy mớ ba” ấy như kéo cả không khí lễ hội Bắc Bộ vào trong tranh. Nhờ đó, tác phẩm của ông vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc truyền thống, giúp ông trở thành một hiện tượng đặc biệt trong mỹ thuật đương đại Việt Nam.

Mỗi bức tranh Thành Chương không chỉ là thực thể nghệ thuật, mà còn là câu chuyện, là ký ức tập thể được cá nhân hóa bằng bút pháp độc đáo. Và từ đây có thể thấy rõ: ông không vẽ chỉ cho riêng mình, mà đã đặt nền móng cho một con đường nghệ thuật “vượt vùng đồng nhất” nhưng luôn neo vào tinh thần dân tộc, từ đó mở ra con đường dẫn tới những cách tân minh họa, đến công trình Việt Phủ Thành Chương, và cả những thông điệp gửi trao cho thế hệ sau.

Tin bài liên quan