Ca Lê Thắng là một tên tuổi có vị trí đặc biệt trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam thời kỳ hậu Đổi mới – một nghệ sĩ tạo nên những ảnh hưởng sâu sắc nhưng theo cách lặng thầm. Ở ông, chất Nam Bộ nguyên bản gặp gỡ tư duy tạo hình hiện đại phương Tây, tạo nên một ngôn ngữ nghệ thuật vừa giàu bản sắc, vừa không ngừng tìm kiếm những khả năng biểu đạt mới. Từ nền tảng của mỹ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa, Ca Lê Thắng dần bước sang những thử nghiệm táo bạo, trở thành một trong những gương mặt góp phần thúc đẩy và hồi sinh hội họa trừu tượng tại Việt Nam.
Trong chuỗi bài viết về họa sĩ Ca Lê Thắng, chúng ta hãy cùng tìm hiểu hành trình nghệ thuật của vị họa sĩ gạo cội này, từ những nét vẽ đầu tiên đến con đường tìm kiếm một tiếng nói riêng trong hội họa.
Ký ức Đồng Tháp Mười và dòng chảy văn hóa Bắc-Nam
Họa sĩ Ca Lê Thắng là người gốc Nam Bộ, có những năm tháng đầu đời gắn bó sâu sắc với vùng đất này. Ông sinh năm 1949 tại Bến Tre và trải qua sáu năm tuổi thơ ở chiến khu Đồng Tháp Mười – khoảng thời gian tuy ngắn nhưng để lại những ký ức theo ông suốt hành trình sáng tác sau này.
Ca Lê Thắng xuất thân trong một gia đình giàu truyền thống trí thức và văn hóa. Ông là con trai của Giáo sư Ca Văn Thỉnh – nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa uyên thâm. Các anh chị em của ông cũng là những gương mặt tài năng trong nhiều lĩnh vực: nhà nghiên cứu âm nhạc Ca Lê Thuần, nhà thơ Lê Anh Xuân và đạo diễn Ca Lê Hồng.

Chân dung họa sĩ Ca Lê Thắng. Nguồn: Báo Tuổi trẻ.
Những ký ức về miền sông nước đã in sâu trong tâm trí người họa sĩ từ thuở nhỏ. Đó là hình ảnh nước dâng mấp mé dưới giường mỗi sáng, là mùi cỏ dại bốc lên dưới bàn chân – những cảm giác tưởng chừng vụn vặt nhưng lại trở thành nguồn năng lượng tâm tưởng theo ông trong suốt đời vẽ.
“Tôi thích vẽ Đồng Tháp Mười mùa nước nổi. Mình đi thực tế chụp ảnh ký họa, rồi lúc vẽ mình nhớ theo ký ức. Ký ức về những cánh đồng hoang mùa nước nổi, ấn tượng khi xem sách của ông Đoàn Giỏi về đất rừng phương Nam. Mình vào gặp lại Đồng Tháp Mười thì ấn tượng rất mạnh mẽ và mình thích vẽ. Tôi 6 tuổi mới ra Bắc, nên vẫn nhớ mùa nước nổi trong Nam. Buổi tối đi ngủ không thấy nước, nhưng sáng hôm sau ngủ dậy nước mấp mé dưới giường. Cái nhớ thứ hai là mùi hương. Người ta nói mùi hương nhớ lâu hơn cả âm nhạc và vẽ. Tôi cứ đạp chân lên cỏ lại nhớ hồi nhỏ mình giẫm lên có mùi cỏ xông lên thế nào.”
Năm 1955, ông cùng gia đình tập kết ra Bắc và sống tại đây cho đến những năm 1970. Quãng thời gian này mở ra cho Ca Lê Thắng cơ hội tiếp cận một môi trường giáo dục bài bản. Ông theo học tại Trại Nhi đồng miền Nam và Trường Học sinh Miền Nam ở Chương Mỹ, Hà Đông. Năm 1976, ông trở lại miền Nam và từ đó sinh sống, làm việc tại TP.HCM. Dù đã có nhiều năm gắn bó với phương Nam, ông vẫn giữ giọng Hà Nội chuẩn – một dấu ấn thú vị của hành trình văn hóa Bắc – Nam đã theo ông suốt cuộc đời.
Từ nét vẽ tuổi 13…
Được đào tạo bài bản nhưng luôn say mê tìm tòi những khả năng mới của nghệ thuật, Ca Lê Thắng sớm hình thành ý thức về một con đường sáng tác riêng. Ông bén duyên với hội họa từ năm 13 tuổi, khi được họa sĩ Diệp Minh Châu phát hiện năng khiếu và hướng dẫn những bước đi đầu tiên.
Sau khi hoàn thành chương trình phổ thông tại hệ thống trường dành cho học sinh miền Nam, ông tiếp tục theo đuổi con đường nghệ thuật chuyên nghiệp. Ca Lê Thắng theo học Hệ Sơ trung 7 năm (1963 – 1970) và Hệ Đại học (1972 – 1976) tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam.
Bên cạnh chương trình đào tạo chính quy, ông chủ động tìm đến những nghệ sĩ tài năng đương thời để học hỏi và mở rộng tư duy. Những cái tên như Trần Huy Oánh, Trần Lưu Hậu, Giáng Hương, Đỗ Hữu Huề, Phạm Công Thành… đã trở thành những người thầy quan trọng trên hành trình nghệ thuật của ông.
Một lợi thế đặc biệt khác đến từ môi trường gia đình. Khi cha ông giữ chức Giám đốc Thư viện Khoa học Xã hội Trung ương, Ca Lê Thắng có điều kiện tiếp cận với nguồn tư liệu phong phú, từ sách báo quốc tế, tạp chí Indochine đến các tài liệu về miền Nam. Những nguồn tri thức này góp phần mở rộng tầm nhìn nghệ thuật của ông, giúp ngôn ngữ tạo hình không bị bó hẹp trong những khuôn khổ đương thời.

Ca Lê Thắng, Chân dung, acrylic và nhiều chất liệu trên toan, 2009. Nguồn: Wiking Salon.
Những năm tháng học tập tại trường mỹ thuật giúp Ca Lê Thắng xây dựng nền tảng vững chắc về hình, màu và bố cục. Trong giai đoạn đầu, ông chủ yếu sáng tác theo tinh thần hiện thực với những đề tài quen thuộc như đời sống nông thôn, công – nông – binh. Tác phẩm sơn mài tốt nghiệp về đề tài thu hoạch dứa tại một nông trường miền Bắc là dấu mốc tiêu biểu của thời kỳ này và được họa sĩ Lý Trực Sơn đánh giá có “trình độ tạo hình cao, kỹ thuật điêu luyện”.
Tuy nhiên, những đề tài ấy không thực sự xuất phát từ sở thích cá nhân của Ca Lê Thắng. Ông từng thẳng thắn chia sẻ: “Nhà trường bảo vẽ cái gì tôi vẽ cái nấy. Đề tài tôi chả thích gì cả, đề tài công nông binh tôi không thích. Chứ nếu mà thích thì tôi thích tĩnh vật, phong cảnh.”
Chính khoảng cách giữa những gì được yêu cầu và những gì thực sự thôi thúc người nghệ sĩ đã mở ra nhu cầu tìm kiếm một lối đi khác. Cùng với những ảnh hưởng từ các nghệ sĩ ông từng học hỏi bên ngoài nhà trường, Ca Lê Thắng bắt đầu thử nghiệm phương pháp “bóp hình”, tinh giản hình khối từ năm thứ tư đại học dưới sự gợi mở của họa sĩ Trần Lưu Hậu. Đây cũng là một trong những bước khởi đầu cho quá trình chuyển biến ngôn ngữ tạo hình về sau.
Những chuyển biến trong phong cách
Là một sinh viên được đánh giá cao tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, Ca Lê Thắng từng được giao giảng dạy tại Hệ Trung cấp của trường trong giai đoạn 1971 – 1972. Sau đó, ông trở lại miền Nam và giảng dạy tại Trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM từ năm 1976 đến năm 1988.
Trở về quê hương cũng là thời điểm ông có thêm không gian để tự do thử nghiệm nghệ thuật. Từ năm 1975, Ca Lê Thắng bắt đầu tìm hiểu Lập thể, sau đó từng bước chuyển sang khuynh hướng Trừu tượng và Bán trừu tượng. Những thử nghiệm này thể hiện nỗ lực vượt qua những giới hạn tạo hình vốn quen thuộc trong mỹ thuật đương thời.

Ca Lê Thắng, Trừu tượng, sơn dầu trên toan, 110 x 90 cm, 1994. Nguồn: Wiking Salon.
Đến cuối thập niên 1980, ngôn ngữ Trừu tượng trở thành hướng đi rõ nét trong sáng tác của Ca Lê Thắng. Ông tự xác định phong cách của mình là “bán trừu tượng”, giàu tính biểu hiện hay Trừu tượng biểu hiện. Thay vì tập trung tái hiện đối tượng, ông sử dụng những mảng phẳng, tổ hợp đường nét và các dải màu tuôn chảy để giải phóng cảm xúc trên bề mặt tranh.
Giai đoạn 1988 – 2000 cũng đánh dấu một quãng thời gian hoạt động sôi nổi của Ca Lê Thắng trong đời sống nghệ thuật. Ông giữ vai trò Phó Tổng thư ký thường trực Hội Mỹ thuật TP.HCM, tham gia thành lập Nhóm 10 Người vào năm 1989 và đồng sáng lập Tạp chí Mỹ thuật TP.HCM năm 1991. Bên cạnh sáng tác và hoạt động chuyên môn, ông còn tích cực đưa tác phẩm tham dự các triển lãm quốc tế, với mong muốn đưa nghệ thuật Việt Nam đến gần hơn với công chúng ngoài nước.
…Đến hành trình nửa thế kỷ cùng hội họa
Đối với Ca Lê Thắng, hội họa không đơn thuần là một phương thức sáng tác mà còn trở thành nơi nương náu của tâm hồn. Qua những biến động của cuộc đời, đặc biệt là sự ra đi lần lượt của những người thân yêu, ông tìm đến việc vẽ như một cách lưu giữ ký ức và gửi gắm những nỗi nhớ không dễ gọi thành lời.
Trong những năm gần đây, nhiều tác phẩm của ông không còn được đặt tên theo một hình ảnh cụ thể mà chỉ được đánh số, chẳng hạn Mùa nước nổi 45, 48…. Cách đặt tên này mở ra một không gian rộng hơn cho ký ức, nơi mỗi tác phẩm như một mảnh ghép tiếp nối trong dòng chảy bất tận của hồi tưởng.
Một dấu mốc đặc biệt trong hành trình ấy là việc Ca Lê Thắng thực hiện triển lãm cá nhân đầu tiên khi đã ngoài 70 tuổi. Mùa nước nổi diễn ra vào tháng 12/2021 tại Hà Nội, khi ông 72 tuổi; tiếp đó là Mùa nước nổi II tại TP.HCM năm 2023 và Đồng chìm đáy nước vào cuối năm 2024. Dù đến khá muộn so với thông lệ của một nghệ sĩ, những triển lãm này lại cho thấy một hành trình sáng tác bền bỉ, nơi mùa nước nổi không ngừng trở lại dưới những hình thức và sắc thái khác nhau.

Ca Lê Thắng, Đất thở, sơn dầu trên toan, 100 x 120 cm, 1997. Nguồn: Wiking Salon.
Từ ký ức về vùng đất Đồng Tháp Mười, Ca Lê Thắng đã từng bước xây dựng một ngôn ngữ hội họa riêng, nơi hình và màu không còn đơn thuần phục vụ cho việc tái hiện cảnh vật mà trở thành phương tiện biểu đạt cảm xúc. Vậy bằng cách nào những dòng nước, mảng màu và ký ức về miền sông nước Nam Bộ được chuyển hóa thành một thế giới trừu tượng đặc trưng của Ca Lê Thắng? Câu trả lời sẽ được tiếp tục hé mở trong bài viết kỳ 2, khi chúng ta đi sâu hơn vào cách ông xử lý chất liệu, không gian và nhịp điệu trong hội họa.
Tin bài liên quan
Họa sĩ Ca Lê Thắng – Ký ức mùa nước nổi trong nhịp điệu trừu tượng (Kỳ 3)
Từ một cậu bé mang theo ký ức mùa nước nổi của Đồng Tháp Mười, Ca Lê Thắng đã đi qua hơn nửa thế kỷ để hình thành một thế giới hội họa mang đậm dấu ấn cá nhân. Những tìm tòi về trừu tượng, những thử nghiệm với chất liệu và đặc biệt là hành trình trở đi trở lại với ký ức sông nước đã tạo nên một phong cách khó trộn lẫn. Tuy nhiên, giá trị của Ca Lê Thắng không chỉ nằm trong những tác phẩm được lưu giữ tại các bộ sưu tập hay xuất hiện ở những triển lãm trong và ngoài nước. Ông còn để lại dấu ấn trong đời sống nghệ thuật thông qua những hoạt động sáng tạo, kết nối nghệ sĩ, giảng dạy và góp phần mở rộng không gian cho những thử nghiệm mới trong mỹ thuật Việt Nam. Ca Lê Thắng, Đêm Đà Lạt, nhiều chất liệu trên toan, 80 x 100 cm, 2012. Nguồn: Wiking Salon. Dấu ấn nghệ thuật Ca Lê Thắng Là một nghệ sĩ luôn lựa chọn con đường riêng, hành trình nghệ thuật của Ca Lê Thắng cũng được định hình bởi tinh thần khác biệt và không ngừng tìm tòi. Ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, ông mới bắt đầu nghĩ đến việc thực hiện triển lãm cá nhân đầu tay. Trước đó, công chúng chủ yếu có cơ hội gặp gỡ tác phẩm của Ca Lê Thắng thông qua những triển lãm nhóm và các hoạt động nghệ thuật chung. Điều đặc biệt tiếp tục xuất hiện trong chuỗi triển lãm cá nhân của ông ở tuổi xưa nay hiếm: thay vì mở rộng chủ đề, Ca Lê Thắng lại kiên trì trở đi trở lại với một hình ảnh duy nhất – mùa nước nổi. Tại Hà Nội, ông lần lượt thực hiện hai triển lãm mang tên “Mùa nước nổi” vào năm 2021 và 2023. Đến năm 2024, tại Thành phố Hồ Chí Minh, triển lãm “Đồng chìm đáy nước” tiếp tục giới thiệu những sáng tác xoay quanh ký ức về mùa nước nổi và không gian sông nước Nam Bộ. Ca Lê Thắng, Mùa nước nổi 9, acrylic trên toan, 80 x 150 cm, 2015. Nguồn: Wiking Salon. Một điểm thú vị trong sáng tác những năm gần đây là phần lớn tác phẩm của Ca Lê Thắng không còn được đặt tên theo một hình ảnh hay câu chuyện cụ thể mà chỉ được đánh số, chẳng hạn “Mùa nước nổi 45, 48”… hay “Cơn giông 1, 2, 3”…. Cách đặt tên tối giản ấy dường như mở rộng thêm khoảng trống cho người xem, để mỗi tác phẩm được tiếp nhận bằng những liên tưởng và cảm xúc riêng thay vì bị dẫn dắt bởi một ý niệm có sẵn. Số lượng tác phẩm xuất hiện trong các triển lãm cá nhân cũng chỉ là một phần nhỏ so với khối lượng sáng tác được lưu giữ tại xưởng. Điều đó cho thấy sức làm việc bền bỉ và tinh thần gắn bó với hội họa của Ca Lê Thắng, ngay cả khi ông đã bước vào tuổi xưa nay hiếm. Tinh thần thử nghiệm và phá cách đã hiện diện trong hành trình nghệ thuật của Ca Lê Thắng từ rất sớm. Ngay trong những năm đầu hoạt động, ông đã góp phần tạo nên những không gian để bản thân và các đồng nghiệp cùng thử nghiệm những hướng đi mới. Năm 1989, Nhóm 10 Người được thành lập với sự tham gia của các nghệ sĩ như Nguyễn Trung, Đào Minh Tri, Nguyễn Tấn Cương, Đỗ Hoàng Tường, Trần Văn Thảo… Dưới sự dẫn dắt của Ca Lê Thắng, nhóm hoạt động sôi nổi cho đến năm 1995, thường xuyên tổ chức chuỗi triển lãm “Recent Works”, trở thành một điểm gặp gỡ đáng chú ý của những tìm tòi nghệ thuật đương thời. Bên cạnh đó, Tạp chí Mỹ thuật TP.HCM, hoạt động trong giai đoạn 1991–1996, cũng là một diễn đàn nghệ thuật đáng chú ý của giới họa sĩ lúc bấy giờ. Ca Lê Thắng cùng họa sĩ Nguyễn Trung đồng sáng lập và vận hành ấn bản song ngữ của tạp chí, góp phần tạo nên một không gian trao đổi về nghệ thuật, đồng thời mở rộng khả năng giới thiệu mỹ thuật Việt Nam đến công chúng quốc tế. Ca Lê Thắng, Mùa nước nổi 1, acrylic và nhiều chất liệu trên toan, 100 x 120 cm, 2015. Nguồn: Wiking Salon. Tên tuổi Ca Lê Thắng cũng được ghi nhận qua nhiều triển lãm quốc tế và các bộ sưu tập trong và ngoài nước. Tác phẩm của ông từng được giới thiệu tại Nhật Bản, trong đó có Fujita Venté Museum; tại Philippines với Metropolitan Museum of Manila; cùng các hoạt động và triển lãm ở Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Singapore. Hiện nay, tác phẩm của ông được lưu giữ trong các bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, Bảo tàng Nghệ thuật Quang San cùng nhiều bộ sưu tập tư nhân. Năm 1988, Ca Lê Thắng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng thư ký Thường trực Hội Mỹ thuật TP.HCM và giữ vai trò này đến năm 2000. Trong quá trình hoạt động nghệ thuật, ông cũng nhận được nhiều tặng thưởng từ Hội Mỹ thuật Việt Nam và Hội Mỹ thuật TP.HCM, ghi nhận những đóng góp bền bỉ cho đời sống mỹ thuật. Mắt xích quan trọng trong dòng chảy nghệ thuật đương đại Không chỉ được biết đến qua những sáng tác mang dấu ấn cá nhân, Ca Lê Thắng còn nhận được sự đánh giá cao từ giới chuyên môn nhờ quá trình tìm tòi bền bỉ và tư duy nghệ thuật độc lập. Giám tuyển Lê Thiên Bảo – người đồng hành cùng ông trong triển lãm “Đồng chìm đáy nước” – đánh giá cao sự chuyển dịch trong tư duy nghệ thuật của Ca Lê Thắng, đặc biệt ở khả năng tiếp cận và khai thác chất liệu từ sớm. Ông cũng ấn tượng với cách họa sĩ làm mờ ranh giới giữa người sáng tác và chất liệu trong loạt tranh “Mùa nước nổi”. Ca Lê Thắng, Đồng chìm đáy nước 8, acrylic và nhiều chất liệu trên toan, 80 x 120 cm, 2024. Nguồn: Wiking Salon. Trong khi đó, họa sĩ Lý Trực Sơn nhận xét tác phẩm sơn mài tốt nghiệp của Ca Lê Thắng có “trình độ tạo hình cao, kỹ thuật điêu luyện”. Họa sĩ Lý Trực Dũng cũng xếp ông vào nhóm những nghệ sĩ tạo hình xuất sắc với dấu ấn riêng, đồng thời nhấn mạnh bản sắc Nam Bộ và Việt Nam trong nghệ thuật của ông: “Cùng với Nguyễn Sáng, Nguyễn Hải và Nguyễn Trung, Ca Lê Thắng là một nghệ sĩ tạo hình xuất sắc. Họ rất Nam bộ và rất Việt Nam”. Tuy nhiên, dấu ấn của Ca Lê Thắng không chỉ nằm ở vai trò của một người sáng tác. Trong dòng chảy nghệ thuật Việt Nam thời kỳ Đổi mới, ông còn là một trong những nhân tố góp phần kết nối các thế hệ nghệ sĩ, vừa là người thầy, vừa là người đồng hành với những chuyển động và thử nghiệm mới. Từ những ký ức rất riêng về miền sông nước, ông chuyển hóa trải nghiệm cá nhân thành ngôn ngữ tạo hình có khả năng cộng hưởng với những cảm nhận rộng lớn hơn về văn hóa, ký ức và con người. Là nhân tố nòng cốt của Nhóm 10 Người, Ca Lê Thắng cùng các nghệ sĩ đồng thời góp phần thúc đẩy những tìm tòi với hội họa trừu tượng trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam sau Đổi mới. Tạp chí Mỹ thuật TP.HCM do ông cùng Nguyễn Trung đồng sáng lập cũng trở thành nơi gặp gỡ của giới họa sĩ, một diễn đàn để trao đổi về nghệ thuật và là cầu nối đưa những câu chuyện của mỹ thuật Việt Nam đến gần hơn với thế giới. Trên cương vị Phó Tổng thư ký Thường trực Hội Mỹ thuật TP.HCM, Ca Lê Thắng cũng đóng vai trò kết nối và hỗ trợ các thế hệ nghệ sĩ trẻ. Song song với hoạt động sáng tác và công tác hội, ông trực tiếp giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam và Đại học Mỹ thuật TP.HCM, góp phần đào tạo nhiều thế hệ nghệ sĩ kế cận, trong đó có điêu khắc gia Đào Châu Hải. Ca Lê Thắng, Bên đồng kênh, nhiều chất liệu trên toan, 80 x 100 cm, 2013. Nguồn: Wiking Salon. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với hội họa, Ca Lê Thắng vẫn kiên trì với tinh thần tìm tòi và không ngừng làm mới chính mình. Từ những ký ức riêng tư về miền sông nước Nam Bộ, ông đã tạo dựng một ngôn ngữ nghệ thuật có khả năng vượt khỏi giới hạn của câu chuyện cá nhân để chạm tới những giá trị rộng lớn hơn về văn hóa, ký ức và con người. Đồng thời, qua hoạt động sáng tác, giảng dạy, tổ chức nghệ thuật và kết nối các thế hệ, ông trở thành một mắt xích đáng chú ý trong quá trình vận động của mỹ thuật Việt Nam thời kỳ Đổi mới và đương đại. Có lẽ, đó cũng là điều làm nên sức sống lâu dài trong nghệ thuật Ca Lê Thắng: không chỉ để lại những bức tranh, mà còn để lại một tinh thần sáng tạo – tự do, bền bỉ và luôn hướng về phía trước.
Họa sĩ Ca Lê Thắng – Ký ức mùa nước nổi trong nhịp điệu trừu tượng (Kỳ 2)
Nếu ở kỳ trước, hành trình nghệ thuật của Ca Lê Thắng được nhìn từ những ký ức tuổi thơ và quá trình hình thành một ngôn ngữ hội họa riêng, thì ở kỳ này, câu chuyện sẽ đi sâu hơn vào chính thế giới tạo hình ấy. Với ông, mùa nước nổi không phải một phong cảnh có thể đơn thuần quan sát và tái hiện. Đó là một không gian ký ức, nơi những đường nét, mảng màu và bề mặt chất liệu cùng tham gia vào quá trình biểu đạt. Bằng việc làm mờ ranh giới giữa hình và chất, giữa thiên nhiên và cảm xúc, họa sĩ Ca Lê Thắng đã tạo nên những tác phẩm mà người xem không chỉ nhìn thấy một vùng sông nước, mà còn có thể cảm nhận được nhịp chảy âm thầm của ký ức. Ca Lê Thắng, Sông Sài Gòn, acrylic và nhiều chất liệu trên toan, 150 x 240 cm, 2014. Nguồn: Wiking Salon. Xóa nhòa ranh giới: Khi chất liệu và không gian hòa làm một Theo đuổi hình ảnh sông nước miền Nam trong suốt hành trình sáng tác, họa sĩ Ca Lê Thắng lựa chọn ngôn ngữ bán trừu tượng và Trừu tượng biểu hiện (Abstract Expressionism) như một phương thức để diễn tả quê hương. Với ông, cảnh sắc Nam Bộ không dễ dàng được nắm bắt bằng lối tả thực. Chính sự phẳng rộng, bao la của đồng bằng lại đòi hỏi một cách tiếp cận khác, nơi cảm xúc và ký ức có thể trở thành chất liệu tạo hình. “Đồng bằng sông Cửu Long khó vẽ, tả thực nhiều khi lại không ra được cái chất. Tôi thấy, chỉ có thể loại trừu tượng - biểu hiện, tôi tạm gọi thế, mới thể hiện được hết ý tưởng, cảm nhận của mình. Mùa nước nổi cũng cần vẽ như vậy. Khi vẽ, tôi không bất ngờ gì về những gì mình vẽ.” Ca Lê Thắng, Mùa nước nổi 8, acrylic trên toan, 75 x 150 cm, 2013. Nguồn: Wiking Salon. Được đào tạo trong môi trường chịu ảnh hưởng của mỹ thuật Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa, Ca Lê Thắng có nền tảng vững chắc về hình khối, mảng phẳng và bố cục. Tuy nhiên, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào khả năng mô tả đối tượng, ông từng bước giải phóng những yếu tố này khỏi chức năng tả thực, biến chúng thành phương tiện biểu đạt cảm xúc và ký ức. Trong cách tổ chức không gian, họa sĩ thường lựa chọn những bố cục khổ rộng, kéo dài theo chiều ngang như một màn ảnh rộng – gợi liên tưởng đến ảnh hưởng từ tinh thần hội họa của Mark Rothko. Những không gian ấy mở ra cảm giác bao la, phẳng lặng nhưng không tĩnh tại, đồng thời gợi nên một nguồn năng lượng mang tính tâm linh đặc trưng của vùng đất Nam Bộ. Dưới bề mặt tưởng chừng yên ả là nhịp chuyển động âm thầm của nước, của cảnh vật và của ký ức. Không gian trong tranh Ca Lê Thắng còn được kiến tạo thông qua cấu trúc bề mặt. Các tổ hợp đường nét, lớp chất liệu đắp và những mảng màu loang lớn tạo nên một bề mặt giàu biến chuyển. Nhờ đó, tranh của ông mang trạng thái “tưởng tĩnh mà động”, khi ranh giới giữa bầu trời, mặt đất và dòng nước dần được làm mờ, thậm chí hòa lẫn vào nhau. Sự tương phản giữa các lớp màu – đặc và loãng, dày và mỏng – tạo nên những dải màu như đang tuôn chảy trên mặt tranh. Thay vì tái hiện hình hài cụ thể của thiên nhiên, Ca Lê Thắng để màu sắc và đường nét đảm nhận vai trò gợi mở cảm xúc. Cảnh vật vì thế không còn hiện diện như một đối tượng bên ngoài, mà trở thành một phần của thế giới nội tâm, nơi ký ức hiện lên vừa rõ ràng vừa mơ hồ. Ca Lê Thắng, Đồng chìm đáy nước 15, acrylic trên toan, 80 x 120 cm, 2025. Nguồn: Wiking Salon. Khi đứng trước tranh của Ca Lê Thắng, người xem dễ bị cuốn vào sự chuyển động tinh tế của đường nét và những mảng màu. Chúng dường như đối thoại với nhau trong một nhịp điệu vừa thân thuộc vừa khó gọi tên, tạo nên cảm giác về một thế giới chỉ có thể cảm nhận chứ không dễ nắm bắt. Dù không đi vào mô tả cụ thể một cảnh vật hay khoảnh khắc nhất định, mỗi tác phẩm vẫn gợi lên những rung động mơ hồ: khi nhẹ nhàng như mặt nước, lúc lại khiến cảm giác của người thưởng thức chao nghiêng, phiêu du trong một không gian bảng lảng. Sức hấp dẫn trong nghệ thuật Ca Lê Thắng nằm ở khả năng tạo ra sự hiện diện từ những điều tưởng như được giấu kín. Qua từng tác phẩm, dấu ấn của một nghệ sĩ đã đi qua nhiều trải nghiệm sống hiện lên rõ nét, với chiều sâu văn hóa, vốn tri thức, tài năng và một nhân cách được bồi đắp theo thời gian. Đó cũng là giá trị khiến hội họa của ông không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp thị giác, mà còn mở ra những tầng cảm nhận sâu hơn đối với người thưởng thức. Vẽ như một chốn nương náu Hành trình nghệ thuật của Ca Lê Thắng là hành trình của một người nghệ sĩ kiên trì với nhu cầu sáng tạo nội tại và không ngại bước ra khỏi những giới hạn quen thuộc. Trong nhiều cuộc phỏng vấn, ông thường nhắc đến tinh thần cứ vẽ, “không sợ ma” – không e ngại rào cản, dư luận hay những ám ảnh có thể khiến người nghệ sĩ chùn bước. Với ông, việc học hỏi và tìm kiếm cái mới cũng là một quá trình không có điểm dừng. “Năm 1975 tôi đã vẽ trừu tượng rồi [...] vì mới Đổi mới, nên mình cũng muốn đổi mới thật. Lúc đó, triển lãm cũng đâu có mua bán được gì. Nó hoàn toàn là nhu cầu của họa sĩ thôi.” Ca Lê Thắng, San hô, acrylic và nhiều chất liệu trên toan, 70 x 70 cm, 2014. Nguồn: Wiking Salon. Vì lẽ đó, vẽ đối với họa sĩ Ca Lê Thắng trước hết là nhu cầu nội tại, không phải cuộc đua chạy theo thương mại. Ông tự nhận mình có số “thân cư thê” được vợ hỗ trợ nên không chịu áp lực phải bán tranh để trang trải cuộc sống. Sự tự do ấy tạo điều kiện để ông theo đuổi nghệ thuật theo cách riêng, nhưng đồng thời cũng đặt ra cho người nghệ sĩ một yêu cầu khác: không được tự bằng lòng với chính mình. Ca Lê Thắng đặc biệt tránh việc lặp lại hay sao chép chính mình chỉ để đáp ứng nhu cầu thị trường. Với ông, mỗi chuỗi tác phẩm cần mở ra một khả năng biểu đạt mới, dù sự thay đổi ấy có thể không dễ dàng được nhìn thấy ngay từ cái nhìn đầu tiên. "Sợ nhất là tự mình bắt chước, sao chép lại chính mình". Qua những thăng trầm của cuộc đời, hội họa dần trở thành một nơi nương náu tinh thần của Ca Lê Thắng. Đặc biệt sau sự ra đi của những người thân yêu, việc vẽ trở thành cách để ông “trút gửi nỗi nhớ thương sâu nặng, thầm kín”. Những mất mát không được ông kể lại trực tiếp trên mặt tranh, mà chuyển hóa thành những lớp ký ức, những khoảng không và nhịp điệu màu sắc. Khi nói về hội họa trừu tượng Nam Bộ, Ca Lê Thắng từng lý giải rằng đặc điểm bằng phẳng của phong cảnh miền Nam khiến việc tạo chiều sâu bằng lối tả thực trở nên khó khăn. Chính đặc tính ấy lại mở ra khả năng cho ngôn ngữ trừu tượng – biểu hiện, nơi cái phẳng, cái rộng và sự hoang dại của mùa nước nổi có thể được chuyển hóa thành một không gian giàu cảm xúc. “Thực ra mà nói thì phong cảnh miền Nam không dễ vẽ như phong cảnh ngoài Bắc. Ở ngoài Bắc đồi núi tạo ra nhịp, nhưng miền Nam cứ phẳng lì như cái sa bàn. Để tạo cao thấp và chiều sâu không phải dễ dàng. Tôi cũng phải thử nghiệm nhiều. Mùa nước nổi như biển ấy, biển nước không. Bờ bao ruộng nước tràn vào hết, con kênh nước cũng tràn vào hết. Vẽ mùa nước như thế có cái khó nhưng nó lại dễ tạo cảm sự phẳng lặng, hoang dại. Hồi sinh viên tôi cũng thích những mảng phẳng. Tôi tạo ra không gian cho nó bằng cách biểu hiện và trừu tượng hóa. Tôi vẽ mùa nước nổi như một ký ức mờ mờ của mình chứ không phải tả thực đối tượng này.” Ca Lê Thắng, Đồng chìm đáy nước 11, acrylic và nhiều chất liệu trên toan, 60 x 80 cm, 2024. Nguồn: Wiking Salon. Với Ca Lê Thắng, mùa nước nổi vì thế không chỉ là một hình ảnh của thiên nhiên mà còn là một vùng ký ức sống động. Ông không tái hiện cảnh vật theo những gì mắt nhìn thấy, mà tìm cách phục dựng nó từ những dấu vết còn lưu lại trong tâm trí: mùi cỏ dại, cảm giác nước dâng, xúc giác khi bàn chân chạm vào cỏ và những ấn tượng từ thuở ấu thơ. Những ký ức tưởng như thuộc về các giác quan khác nhau cuối cùng được chuyển hóa thành màu sắc, đường nét và nhịp điệu trên mặt tranh. Từ đó, mùa nước nổi trở thành một thế giới vừa riêng tư vừa có khả năng cộng hưởng với người xem. Đó không còn là Đồng Tháp Mười của một ký ức cá nhân, mà trở thành không gian để mỗi người thưởng lãm tự tìm thấy những hồi ức và cảm xúc của riêng mình. Hành trình nghệ thuật của họa sĩ Ca Lê Thắng không chỉ dừng lại ở cách ông biến ký ức thành ngôn ngữ hội họa, trong đó vẫn còn một chiều kích khác: những đóng góp của ông đối với đời sống mỹ thuật rộng lớn hơn. Từ các triển lãm cá nhân, hoạt động nghệ thuật đến vai trò kết nối nhiều thế hệ nghệ sĩ, dấu ấn của Ca Lê Thắng không chỉ nằm trên mặt tranh. Hãy cùng tìm hiểu những dấu ấn ấy trong bài viết cuối cùng – nơi nhìn lại vị trí và những đóng góp của ông trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam đương đại.
Họa sĩ Ca Lê Thắng – Ký ức mùa nước nổi trong nhịp điệu trừu tượng (Kỳ 1)
Ca Lê Thắng là một tên tuổi có vị trí đặc biệt trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam thời kỳ hậu Đổi mới – một nghệ sĩ tạo nên những ảnh hưởng sâu sắc nhưng theo cách lặng thầm. Ở ông, chất Nam Bộ nguyên bản gặp gỡ tư duy tạo hình hiện đại phương Tây, tạo nên một ngôn ngữ nghệ thuật vừa giàu bản sắc, vừa không ngừng tìm kiếm những khả năng biểu đạt mới. Từ nền tảng của mỹ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa, Ca Lê Thắng dần bước sang những thử nghiệm táo bạo, trở thành một trong những gương mặt góp phần thúc đẩy và hồi sinh hội họa trừu tượng tại Việt Nam. Trong chuỗi bài viết về họa sĩ Ca Lê Thắng, chúng ta hãy cùng tìm hiểu hành trình nghệ thuật của vị họa sĩ gạo cội này, từ những nét vẽ đầu tiên đến con đường tìm kiếm một tiếng nói riêng trong hội họa. Ký ức Đồng Tháp Mười và dòng chảy văn hóa Bắc-Nam Họa sĩ Ca Lê Thắng là người gốc Nam Bộ, có những năm tháng đầu đời gắn bó sâu sắc với vùng đất này. Ông sinh năm 1949 tại Bến Tre và trải qua sáu năm tuổi thơ ở chiến khu Đồng Tháp Mười – khoảng thời gian tuy ngắn nhưng để lại những ký ức theo ông suốt hành trình sáng tác sau này. Ca Lê Thắng xuất thân trong một gia đình giàu truyền thống trí thức và văn hóa. Ông là con trai của Giáo sư Ca Văn Thỉnh – nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa uyên thâm. Các anh chị em của ông cũng là những gương mặt tài năng trong nhiều lĩnh vực: nhà nghiên cứu âm nhạc Ca Lê Thuần, nhà thơ Lê Anh Xuân và đạo diễn Ca Lê Hồng. Chân dung họa sĩ Ca Lê Thắng. Nguồn: Báo Tuổi trẻ. Những ký ức về miền sông nước đã in sâu trong tâm trí người họa sĩ từ thuở nhỏ. Đó là hình ảnh nước dâng mấp mé dưới giường mỗi sáng, là mùi cỏ dại bốc lên dưới bàn chân – những cảm giác tưởng chừng vụn vặt nhưng lại trở thành nguồn năng lượng tâm tưởng theo ông trong suốt đời vẽ. “Tôi thích vẽ Đồng Tháp Mười mùa nước nổi. Mình đi thực tế chụp ảnh ký họa, rồi lúc vẽ mình nhớ theo ký ức. Ký ức về những cánh đồng hoang mùa nước nổi, ấn tượng khi xem sách của ông Đoàn Giỏi về đất rừng phương Nam. Mình vào gặp lại Đồng Tháp Mười thì ấn tượng rất mạnh mẽ và mình thích vẽ. Tôi 6 tuổi mới ra Bắc, nên vẫn nhớ mùa nước nổi trong Nam. Buổi tối đi ngủ không thấy nước, nhưng sáng hôm sau ngủ dậy nước mấp mé dưới giường. Cái nhớ thứ hai là mùi hương. Người ta nói mùi hương nhớ lâu hơn cả âm nhạc và vẽ. Tôi cứ đạp chân lên cỏ lại nhớ hồi nhỏ mình giẫm lên có mùi cỏ xông lên thế nào.” Năm 1955, ông cùng gia đình tập kết ra Bắc và sống tại đây cho đến những năm 1970. Quãng thời gian này mở ra cho Ca Lê Thắng cơ hội tiếp cận một môi trường giáo dục bài bản. Ông theo học tại Trại Nhi đồng miền Nam và Trường Học sinh Miền Nam ở Chương Mỹ, Hà Đông. Năm 1976, ông trở lại miền Nam và từ đó sinh sống, làm việc tại TP.HCM. Dù đã có nhiều năm gắn bó với phương Nam, ông vẫn giữ giọng Hà Nội chuẩn – một dấu ấn thú vị của hành trình văn hóa Bắc – Nam đã theo ông suốt cuộc đời. Từ nét vẽ tuổi 13… Được đào tạo bài bản nhưng luôn say mê tìm tòi những khả năng mới của nghệ thuật, Ca Lê Thắng sớm hình thành ý thức về một con đường sáng tác riêng. Ông bén duyên với hội họa từ năm 13 tuổi, khi được họa sĩ Diệp Minh Châu phát hiện năng khiếu và hướng dẫn những bước đi đầu tiên. Sau khi hoàn thành chương trình phổ thông tại hệ thống trường dành cho học sinh miền Nam, ông tiếp tục theo đuổi con đường nghệ thuật chuyên nghiệp. Ca Lê Thắng theo học Hệ Sơ trung 7 năm (1963 – 1970) và Hệ Đại học (1972 – 1976) tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam. Bên cạnh chương trình đào tạo chính quy, ông chủ động tìm đến những nghệ sĩ tài năng đương thời để học hỏi và mở rộng tư duy. Những cái tên như Trần Huy Oánh, Trần Lưu Hậu, Giáng Hương, Đỗ Hữu Huề, Phạm Công Thành… đã trở thành những người thầy quan trọng trên hành trình nghệ thuật của ông. Một lợi thế đặc biệt khác đến từ môi trường gia đình. Khi cha ông giữ chức Giám đốc Thư viện Khoa học Xã hội Trung ương, Ca Lê Thắng có điều kiện tiếp cận với nguồn tư liệu phong phú, từ sách báo quốc tế, tạp chí Indochine đến các tài liệu về miền Nam. Những nguồn tri thức này góp phần mở rộng tầm nhìn nghệ thuật của ông, giúp ngôn ngữ tạo hình không bị bó hẹp trong những khuôn khổ đương thời. Ca Lê Thắng, Chân dung, acrylic và nhiều chất liệu trên toan, 2009. Nguồn: Wiking Salon. Những năm tháng học tập tại trường mỹ thuật giúp Ca Lê Thắng xây dựng nền tảng vững chắc về hình, màu và bố cục. Trong giai đoạn đầu, ông chủ yếu sáng tác theo tinh thần hiện thực với những đề tài quen thuộc như đời sống nông thôn, công – nông – binh. Tác phẩm sơn mài tốt nghiệp về đề tài thu hoạch dứa tại một nông trường miền Bắc là dấu mốc tiêu biểu của thời kỳ này và được họa sĩ Lý Trực Sơn đánh giá có “trình độ tạo hình cao, kỹ thuật điêu luyện”. Tuy nhiên, những đề tài ấy không thực sự xuất phát từ sở thích cá nhân của Ca Lê Thắng. Ông từng thẳng thắn chia sẻ: “Nhà trường bảo vẽ cái gì tôi vẽ cái nấy. Đề tài tôi chả thích gì cả, đề tài công nông binh tôi không thích. Chứ nếu mà thích thì tôi thích tĩnh vật, phong cảnh.” Chính khoảng cách giữa những gì được yêu cầu và những gì thực sự thôi thúc người nghệ sĩ đã mở ra nhu cầu tìm kiếm một lối đi khác. Cùng với những ảnh hưởng từ các nghệ sĩ ông từng học hỏi bên ngoài nhà trường, Ca Lê Thắng bắt đầu thử nghiệm phương pháp “bóp hình”, tinh giản hình khối từ năm thứ tư đại học dưới sự gợi mở của họa sĩ Trần Lưu Hậu. Đây cũng là một trong những bước khởi đầu cho quá trình chuyển biến ngôn ngữ tạo hình về sau. Những chuyển biến trong phong cách Là một sinh viên được đánh giá cao tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, Ca Lê Thắng từng được giao giảng dạy tại Hệ Trung cấp của trường trong giai đoạn 1971 – 1972. Sau đó, ông trở lại miền Nam và giảng dạy tại Trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM từ năm 1976 đến năm 1988. Trở về quê hương cũng là thời điểm ông có thêm không gian để tự do thử nghiệm nghệ thuật. Từ năm 1975, Ca Lê Thắng bắt đầu tìm hiểu Lập thể, sau đó từng bước chuyển sang khuynh hướng Trừu tượng và Bán trừu tượng. Những thử nghiệm này thể hiện nỗ lực vượt qua những giới hạn tạo hình vốn quen thuộc trong mỹ thuật đương thời. Ca Lê Thắng, Trừu tượng, sơn dầu trên toan, 110 x 90 cm, 1994. Nguồn: Wiking Salon. Đến cuối thập niên 1980, ngôn ngữ Trừu tượng trở thành hướng đi rõ nét trong sáng tác của Ca Lê Thắng. Ông tự xác định phong cách của mình là “bán trừu tượng”, giàu tính biểu hiện hay Trừu tượng biểu hiện. Thay vì tập trung tái hiện đối tượng, ông sử dụng những mảng phẳng, tổ hợp đường nét và các dải màu tuôn chảy để giải phóng cảm xúc trên bề mặt tranh. Giai đoạn 1988 – 2000 cũng đánh dấu một quãng thời gian hoạt động sôi nổi của Ca Lê Thắng trong đời sống nghệ thuật. Ông giữ vai trò Phó Tổng thư ký thường trực Hội Mỹ thuật TP.HCM, tham gia thành lập Nhóm 10 Người vào năm 1989 và đồng sáng lập Tạp chí Mỹ thuật TP.HCM năm 1991. Bên cạnh sáng tác và hoạt động chuyên môn, ông còn tích cực đưa tác phẩm tham dự các triển lãm quốc tế, với mong muốn đưa nghệ thuật Việt Nam đến gần hơn với công chúng ngoài nước. …Đến hành trình nửa thế kỷ cùng hội họa Đối với Ca Lê Thắng, hội họa không đơn thuần là một phương thức sáng tác mà còn trở thành nơi nương náu của tâm hồn. Qua những biến động của cuộc đời, đặc biệt là sự ra đi lần lượt của những người thân yêu, ông tìm đến việc vẽ như một cách lưu giữ ký ức và gửi gắm những nỗi nhớ không dễ gọi thành lời. Trong những năm gần đây, nhiều tác phẩm của ông không còn được đặt tên theo một hình ảnh cụ thể mà chỉ được đánh số, chẳng hạn Mùa nước nổi 45, 48…. Cách đặt tên này mở ra một không gian rộng hơn cho ký ức, nơi mỗi tác phẩm như một mảnh ghép tiếp nối trong dòng chảy bất tận của hồi tưởng. Một dấu mốc đặc biệt trong hành trình ấy là việc Ca Lê Thắng thực hiện triển lãm cá nhân đầu tiên khi đã ngoài 70 tuổi. Mùa nước nổi diễn ra vào tháng 12/2021 tại Hà Nội, khi ông 72 tuổi; tiếp đó là Mùa nước nổi II tại TP.HCM năm 2023 và Đồng chìm đáy nước vào cuối năm 2024. Dù đến khá muộn so với thông lệ của một nghệ sĩ, những triển lãm này lại cho thấy một hành trình sáng tác bền bỉ, nơi mùa nước nổi không ngừng trở lại dưới những hình thức và sắc thái khác nhau. Ca Lê Thắng, Đất thở, sơn dầu trên toan, 100 x 120 cm, 1997. Nguồn: Wiking Salon. Từ ký ức về vùng đất Đồng Tháp Mười, Ca Lê Thắng đã từng bước xây dựng một ngôn ngữ hội họa riêng, nơi hình và màu không còn đơn thuần phục vụ cho việc tái hiện cảnh vật mà trở thành phương tiện biểu đạt cảm xúc. Vậy bằng cách nào những dòng nước, mảng màu và ký ức về miền sông nước Nam Bộ được chuyển hóa thành một thế giới trừu tượng đặc trưng của Ca Lê Thắng? Câu trả lời sẽ được tiếp tục hé mở trong bài viết kỳ 2, khi chúng ta đi sâu hơn vào cách ông xử lý chất liệu, không gian và nhịp điệu trong hội họa.
