Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Vua Hàm Nghi – Những nhát cọ hoài hương nơi viễn xứ (Kỳ 1)

Vua Hàm Nghi – Những nhát cọ hoài hương nơi viễn xứ (Kỳ 1)

Giữa những trang sử đầy biến động cuối thế kỷ XIX, có một nhân vật đứng ở giao điểm kỳ lạ giữa quyền lực và lưu đày, giữa lịch sử và nghệ thuật. Hàm Nghi – vị hoàng đế trẻ tuổi bị cuốn vào cơn lốc chính trị – không chỉ được nhớ đến như một biểu tượng của tinh thần kháng Pháp, mà còn như một nghệ sĩ đã âm thầm viết lại số phận mình bằng hội họa.

Từ kinh thành Huế đến vùng đất Bắc Phi xa xôi, hành trình của ông không đơn thuần là một cuộc lưu đày, mà là một cuộc chuyển hóa: từ một vị vua mất nước trở thành một “người kể chuyện bằng màu sắc”. Những bức tranh của ông không chỉ ghi lại phong cảnh, mà còn là nơi ký thác nỗi nhớ, căn tính và khát vọng tự do của một tâm hồn bị bứng rễ khỏi quê hương.

Loạt bài này là hành trình lần theo từng lớp màu trong tranh Tử Xuân, để hiểu rằng: đằng sau mỗi nhát cọ là một lịch sử chưa bao giờ khép lại.

Ảnh phục dựng chân dung vua Hàm Nghi. Nguồn: Nguyen Phuoc Toc.

Vị vua bị lưu đày và ngã rẽ định mệnh

Vua Hàm Nghi (1871 - 1944), tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Lịch. Ông là vị hoàng đế thứ 8 của triều Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng tại Việt Nam. Hàm Nghi lên ngôi khi mới 13 tuổi. Dưới sự trị vì của mình, Hàm Nghi ghi dấu là một vị vua yêu nước thông qua việc phát động phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp.

Sử liệu ghi lại rằng Hàm Nghi kế vị theo di chúc của vua Kiến Phúc. Tuy nhiên, sau khi vua Tự Đức qua đời, các Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết mới là những người nắm trong tay quyền quyết định ngôi vua. Trước tình hình rối ren của đất nước, họ cần một vị vua có lập trường kháng Pháp sắt đá. Thay vì chọn người con nuôi thứ hai của vua Tự Đức theo lẽ thường, hai vị đại thần đã quyết đoán đưa Ưng Lịch lên ngôi vị chí tôn.

Tử Xuân, Menthon-Saint-Bernard (Phong cảnh với cây bách), 1906. Nguồn: Báo Thanh Niên.

Chính xuất thân dân dã, lớn lên bên mẹ ruột thay vì được nuông chiều trong chốn cung đình, là yếu tố then chốt khiến Ưng Lịch được chọn. Hai vị đại thần tin rằng, ở Ưng Lịch hội tụ đủ dòng dõi tôn quý nhưng tâm thế chưa bị cuộc sống xa hoa làm vẩn đục, vẫn giữ nguyên vẹn tinh thần tự tôn dân tộc – một nền tảng hoàn hảo để họ có thể định hướng nhà vua cùng lo toan đại cục quốc gia.

Sáng ngày 2 tháng 8 năm 1884 (tức 12 tháng 6 năm Giáp Thân), Ưng Lịch chính thức lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Hàm Nghi. Nhưng giấc mộng độc lập sớm gặp cơn biến động; sau thất bại của cuộc phản công tại kinh thành Huế năm 1885, Tôn Thất Thuyết đã phò tá nhà vua ra căn cứ, ban chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân, nghĩa sĩ khắp nơi phò vua cứu nước. Cuộc kháng chiến bền bỉ kéo dài đến năm 1888 thì nhà vua bị bắt. Ở tuổi 17 tràn đầy nhựa sống, ông bị thực dân Pháp đưa đi lưu đày biệt xứ tại Algiers (Algeria). Ông sống những năm tháng cuối đời tại đây và trút hơi thở cuối cùng vào năm 1944.

Tranh minh hoạ quân Pháp xông vào bắt giữ vua Hàm Nghi. Nguồn: Tuần báo Le Monde Illustré xuất bản ngày 23 tháng 2 năm 1889 tại Paris (Pháp).

Tại Algiers, phần lớn thời gian cựu vương sống ở biệt thự Gia Long – một “An Nam thu nhỏ” giữa lòng viễn xứ. Biệt thự này là nơi giao thoa giữa văn hoá Pháp, Ả Rập và xứ An Nam. Kiến trúc biệt thự mang đậm phong cách thuộc địa Pháp kết hợp với những đường nét hoa văn tinh xảo của vùng Maghreb (Ả Rập). Tuy nhiên, bên trong khuôn viên, vua Hàm Nghi đã tự tay chăm sóc một khu vườn mang hơi thở Việt Nam. Ông trồng nhiều loài cây gợi nhớ quê nhà, tạo nên một không gian tĩnh lặng, tách biệt với sự náo nhiệt của phố thị Bắc Phi.

Đây là nơi ông tiếp đón những trí thức, nghệ sĩ và nhà khoa học hàng đầu của Pháp tại Algeria. Biệt thự có một thư viện lớn với nhiều sách tiếng Pháp về triết học, nghệ thuật và văn học. Điều kiện thuận lợi đã giúp ông sớm lĩnh hội được những tinh hoa của nghệ thuật Tây phương. Tuy vậy, khác với tinh thần của những nghệ sĩ châu Âu, với Hàm Nghi, việc tiếp cận hội họa không phải để mưu sinh mà là sự giải tỏa tâm hồn, noi ông tìm thấy tự do thực sự.

Dù chịu sự quản thúc nghiêm ngặt, từ năm 1899, mỗi mùa hè ông đều được phép sang Pháp. Tận dụng những khoảng thời gian ngắn ngủi này, ông lặng lẽ thâm nhập vào giới tinh hoa nghệ thuật Paris, bí mật tầm sư học đạo từ những bậc thầy lớn để tránh sự soi mói của giới chính trị. Dưới nghệ danh Tử Xuân, vị cựu vương đã sống trọn vẹn cuộc đời của một người nghệ sĩ đích thực, dùng màu sắc và đường nét để viết tiếp bản tuyên ngôn về một tâm hồn Việt không bao giờ bị khuất phục.

Hành trình tự thân trong bóng tối lịch sử

Giai đoạn bắt đầu (1889 - 1900)

Những bước chân đầu tiên của Hàm Nghi trên con đường hội hoạ được dìu dắt bởi Marius Reynaud (1860 - 1935). Reynaud là một họa sĩ Pháp định cư tại Algeria, nổi tiếng với các bức tranh về đời sống bản địa. Reynaud đã dạy Hàm Nghi làm quen với các chất liệu phương Tây như sơn dầu, than chì, điêu khắc… thay cho nghiên mực và bút lông của phương Đông. Các nguyên tắc căn bản của hội họa phương Tây như luật xa gần (perspective) hay cách quan sát ánh sáng cũng được Reynaud hướng dẫn kỹ lưỡng. 

Những bức vẽ đầu tiên của Hàm Nghi chủ yếu là ký họa chân dung những người xung quanh và phong cảnh quanh biệt thự Gia Long. Dưới sự dẫn dắt của Reynaud, nét vẽ của Hàm Nghi bắt đầu thoát khỏi sự ngây ngô để tiến tới sự chuyên nghiệp trong bố cục. Tranh của hàm Nghi dần tiến tới những chuẩn mực khắt khe của trường phái Ấn tượng châu Âu. Nghệ thuật lúc này là thứ giúp ông tạm quên đi thân phận của một tù nhân chính trị để trở thành một nghệ sĩ thực thụ.

Tử Xuân, Paysage algérien (Phong cảnh Algeria), 1902. Nguồn: VOV World.

Giai đoạn trưởng thành (1900 - 1920)

Từ 1899, ông được phép sang Pháp dưới sự kiểm soát. Tại Paris, ông không đi du ngoạn mà dành phần lớn thời gian tại các bảo tàng và xưởng vẽ. Ông tham gia khóa học tại Học viện Julian dưới cái tên Tử Xuân. Đây là một ngôi trường mỹ thuật tư thục danh tiếng tại Paris, nơi chấp nhận những sinh viên không qua thi tuyển khắt khe của trường Mỹ thuật Quốc gia. Hàm Nghi đã theo học tại đây để trau dồi kỹ thuật hình họa chuyên sâu. Nhờ quá trình học tập tại Pháp, Hàm Nghi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ phong cách Ấn tượng, đặc biệt là 2 vị danh họa Claude Monet và Paul Cézanne.

Hàm Nghi học điêu khắc trực tiếp từ Auguste Rodin – bậc thầy điêu khắc hiện đại. Rodin từng nhận xét về Hàm Nghi là người có nhãn quan nhạy bén và đôi tay khéo léo. Mối quan hệ giữa Hàm Nghi và Rodin không chỉ là thầy trò mà còn là những tâm hồn đồng điệu. Rodin đã khai mở cho ông tư duy về điêu khắc như cách dùng khối và bề mặt để biểu đạt nội tâm thay vì chỉ dùng màu sắc.

Giai đoạn ẩn dật (sau 1920 - 1944)

Sau nhiều thập kỷ miệt mài, Hàm Nghi có triển lãm cá nhân đầu tiên và duy nhất tại Galerie Mantelet (Paris) vào năm 1926. Sau sự kiện này, ông càng sống kín tiếng hơn. Tranh của ông không còn nhiều những phong cảnh rực rỡ ánh sáng của Algiers mà chuyển sang những gam màu trầm, tối, đặc tả những hàng cây trơ trụi hay những rặng núi mờ sương. Sáng tác của ông lúc này trầm lắng hơn, tập trung vào chiều sâu nội tâm và ký ức về quê hương.

Cựu hoàng Hàm Nghi lúc về già.

Những năm cuối đời, dù thị lực giảm sút, ông vẫn không ngừng vẽ. Nghệ thuật lúc này trở thành "cố quận" – nơi ông tìm về với nguồn cội thông qua ký ức. Mỗi bức vẽ phong cảnh đều phảng phất hình bóng của vùng đất Trung Kỳ, nơi ông đã phải rời xa từ thời niên thiếu.

Nỗi đau mất nước và sự hoài niệm

Thân phận của một vị vua bị truất ngôi và đưa đi lưu đày khi tuổi đời còn quá trẻ đã để lại một "vết sẹo" sâu sắc trong tư duy thẩm mỹ của Hàm Nghi. Nghệ thuật của ông không rực rỡ, náo nhiệt mà mang một sắc thái của sự cô độc. Trong rất nhiều tác phẩm, Hàm Nghi thường vẽ những hàng cây đứng lẻ loi giữa không gian bao la. Những thân cây vặn vẹo, trơ trụi dưới nắng gắt hay sương mờ không chỉ là thực thể thiên nhiên, mà là ẩn dụ cho chính thân phận của ông – một người bị bứng rễ khỏi quê hương, đứng đơn độc giữa một nền văn hóa xa lạ. Những buổi chiều tà là chủ đề lặp đi lặp lại trong tranh ông. Ánh sáng vàng vọt, tím sẫm của buổi hoàng hôn không chỉ phản ánh thời gian trong ngày, mà còn gợi lên cảm giác về một vương triều đã lùi xa, một nỗi buồn "thiên cổ" của kẻ mất nước.

Điều kỳ diệu trong tranh Hàm Nghi là cách ông "Việt hóa" cảnh sắc của vùng Algiers. Dù vẽ phong cảnh Algeria, nhưng tâm hồn ông lại đặt ở cố đô Huế. Những ngọn đồi nhấp nhô của Algiers qua nhãn quan của Hàm Nghi không mang vẻ khô khốc của sa mạc, mà mang vẻ mềm mại, trùng điệp gợi nhắc đến núi Ngự Bình. Cách ông xử lý những mảng nước, những dòng chảy trong tranh thường có sự tĩnh lặng, mơ màng. Người ta nói rằng, khi vẽ những mặt nước ở Algiers, dường như ông đang cố tìm lại hình bóng của dòng Hương Giang hiền hòa trong ký ức.

Từ một cậu bé lên ngôi trong cơn xoáy quyền lực, đến một người tù chính trị nơi viễn xứ, Hàm Nghi đã tìm thấy trong nghệ thuật một con đường sống khác, lặng lẽ nhưng bền bỉ. Trong bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ đi sâu vào thế giới nghệ thuật của Hàm Nghi – nơi một vị vua lưu đày đã tạo nên ngôn ngữ hội họa độc nhất, mỗi mảng màu lúc này không chỉ là thị giác, mà là ký ức về cố hương.

Bài trước Bài tiếp theo