Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Tác phẩm Phạm Ngũ Lão (1923). Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Thang Trần Phềnh – Duyên cọ cầm tay, vẽ phông nên nghiệp (Kỳ 1)

Nhắc đến Thang Trần Phềnh trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại, người ta thường nhớ đến ông như một trong những họa sĩ mang tư duy mở đường, xuất hiện rất sớm, trước cả khi hệ đào tạo chính quy được thiết lập. Nhưng để hiểu tương đối đầy đủ về ông, cần trở lại với những nghiên cứu đời sau và cùng quay ngược về An Nam của một thời cũ, nơi bối cảnh xã hội và mỹ thuật đã âm thầm định hình nên cá tính nghệ sĩ của ông.

Họa sĩ Thang Trần Phềnh ngoài tuổi 70. Nguồn: Art Times.

Họa sĩ Thang Trần Phềnh ngoài tuổi 70. Nguồn: Art Times.

Cả Ta cả Trung, vệt màu đầu

Trước năm 1858, khi Việt Nam chưa trở thành thuộc địa của Pháp, đời sống xã hội vận hành trong hệ tư tưởng phong kiến và mỹ thuật gắn chặt với trật tự ấy. Qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, ảnh hưởng từ mỹ thuật Trung Hoa thấm sâu vào nhiều phương diện tạo hình, từ bố cục, bút pháp cho đến quan niệm thẩm mỹ. Tuy nhiên, như các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Định chỉ ra, sự tiếp nhận này không mang tính sao chép đơn thuần.

Trong không gian đình làng, chùa chiền, tranh dân gian hay sân khấu Tuồng, mỹ thuật Việt Nam dần hình thành những sắc thái riêng, mộc mạc và gần với sinh hoạt cộng đồng. Nghệ thuật thời kỳ này chủ yếu phục vụ lễ nghi, giáo hóa và biểu tượng; ngôn ngữ tạo hình mang tính ước lệ, đặt trọng tâm vào ý tứ hơn là mô tả chi li. Không gian vì thế được tổ chức linh hoạt, đủ để dẫn dắt cảm xúc và trí tưởng tượng, tạo nên một cảm quan thẩm mỹ bản địa bền bỉ qua nhiều thế hệ.

Tác phẩm Bãi giữa Sông Hồng, tranh màu nước, 25cm x 35cm (1919). Nguồn: Thể thao Văn hóa.

Tác phẩm Bãi giữa Sông Hồng, tranh màu nước, 25cm x 35cm (1919). Nguồn: Thể thao Văn hóa.

Khi người Pháp đặt chân tới, xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn giao thời đầy chênh vênh. Hệ mỹ thuật phong kiến chưa tan rã, trong khi mỹ thuật phương Tây chưa có hệ thống đào tạo chính thức. Khoảng trống ấy mở ra cơ hội cho những cá nhân tự học và tự thực hành. Thang Trần Phềnh sinh năm 1895 trong bối cảnh đó, với tuổi thơ gắn liền mực Tàu, bột khoáng, đình chùa và phố phường An Nam.

Theo ghi chép từ tài liệu Tl.35/hđ của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, năm 1911, khi mới mười lăm tuổi, bức tranh màu nước Chùa Trấn Quốc trong buổi hoàng hôn của ông đã lọt vào mắt xanh nhà sưu tập người Pháp Georges Bois tại buổi đấu xảo Hà Nội. Sự quý mến ấy mở ra những đơn đặt hàng đầu tiên, rồi tiếng vẽ tranh đẹp lan dần. Khách mua tranh phần lớn là người Pháp, người Đức làm việc tại Sở dầu Cầu Đất, hiệu Ogliastro hay một số nhà binh Pháp, giúp ông vừa mưu sinh vừa khẳng định vị trí của một người vẽ bản địa trong đời sống đô thị Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX.

Một bước ngoặt khác đến vào năm 1912, khi Thang Trần Phềnh được xem đoàn nghệ sĩ Trung Quốc sang diễn tân kịch tại Quảng Đông hội quán, phố Hàng Buồm. Những bức họa trang trí sân khấu đã khơi dậy trong ông khao khát được vẽ phông cảnh. Trong hồi ký, ông kể lại quá trình mày mò tìm thầy, mượn tranh, mua sơn, ghép vải để vẽ những bức phông lớn với đường làng, nhà lá và viễn cảnh xa gần. Bức phông phong cảnh ấy được rạp Sán Nhiên Đài mượn treo năm 1914, đánh dấu lần đầu ông chính thức bén duyên với công việc vẽ phông sân khấu, song song với việc ký họa tại Sở Lục Lộ (tương tự như Sở Giao thông ngày nay).

Cũng từ những năm này, theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Định, Thang Trần Phềnh tham gia các triển lãm nghệ thuật An Nam của Hội Ái hữu Mỹ thuật, mang tranh mực Tàu dự triển lãm Nghệ thuật An Nam lần thứ V năm 1914. Lối thủy họa của ông nhanh chóng tạo dấu ấn trong đời sống mỹ thuật Bắc Kỳ.

Tác phẩm Phạm Ngũ Lão (1923). Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Tác phẩm Phạm Ngũ Lão (1923). Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Trong nhiều tư liệu, ông xuất hiện với các tên gọi khác nhau như Trần Văn Bình, tự Đạt Siêu hay Pheng. Đến năm 1967, trong hồi ký, ông giải thích tên mình là sự kết hợp của nhiều lớp văn hóa: “Thang” là họ cha người lai Hoa, “Trần” là họ Thánh gắn với tín ngưỡng gia đình, “Phềnh” mang yếu tố Trung Hoa. Ông gọi đó là “cả Ta cả Trung”. Dù mang gốc Hoa - Việt, môi trường sống và đời sống tinh thần quanh ông lại rất Việt, tạo nên một cảm quan thẩm mỹ gần gũi với xã hội bản địa.

Cách lý giải cái tên không chỉ là chuyện cá nhân mà phản ánh một nền tảng văn hóa đã thấm sâu và bền bỉ. Thang Trần Phềnh trưởng thành như một nghệ sĩ bản địa đúng nghĩa, hình thành từ truyền thống trước khi tiếp xúc với hệ mỹ thuật phương Tây. Việc ông đến với hội họa bằng con đường tự học và lao động nghề nghiệp cho thấy một tư duy tạo hình đã chín muồi từ bối cảnh xã hội - mỹ thuật cũ, chưa qua đào tạo hàn lâm mà Pháp mang đến sau này khi Trường Mỹ thuật Đông Dương hình thành vào năm 1925.

Cuộc sống trong ý tứ của cọ

Trong những năm 1910 - 1920, Thang Trần Phềnh đã là cái tên quen thuộc trong giới vẽ, như nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Định tìm hiểu. Tại cuộc Đấu xảo Nghệ thuật An Nam năm 1923, nhà văn Vũ Đình Long từng nhận xét rằng tài vẽ của ông là điều không cần ca tụng thêm, bởi suốt nhiều năm liền, ông liên tục đoạt giải cao ở hạng mục thủy họa. Sự công nhận ấy cho thấy vị thế của ông trong đời sống mỹ thuật đương thời.

Không dừng lại ở màu nước, theo tư liệu từ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Thang Trần Phềnh sớm thử sức với sơn dầu dù điều kiện còn hạn chế. Chính quá trình tự học và thực hành vẽ phông cảnh giúp ông hình thành lối tổ chức không gian “tứ cố”, cho phép quan sát từ nhiều hướng nhìn. Những bức phông như chùa Cầu Đông, được vẽ tại chỗ với bố cục rõ ràng và chiều sâu hợp lý, tạo cảm giác không gian sống, khiến nền cảnh như chuyển động cùng diễn biến trên sân khấu. Sự “như thực” ấy khiến ông liên tục được mời cộng tác với các nhà hát lớn ở Hà Nội, Hải Phòng như Nhà hát Lớn, Metropole, Cinéma Tonkinois hay rạp Palace, cho thấy thực hành hội họa của ông gắn chặt với đời sống đô thị và sân khấu đương thời.

Một trong số minh họa Truyện Kiều trên bản in của Les Pages Indochinoises. Nguồn: Tuấn Nguyenanh.

Một trong số minh họa Truyện Kiều trên bản in của Les Pages Indochinoises. Nguồn: Tuấn Nguyenanh.

Song song với các đơn đặt hàng, Thang Trần Phềnh vẫn đều đặn tham gia các cuộc đấu xảo và triển lãm. Tại cuộc Đấu xảo năm 1923, hai bức sơn dầu vẽ về Trưng Nữ Vương và Trần Hưng Đạo của ông gây nhiều tranh cãi. Người ta chê trang phục và hình dáng chưa chuẩn, nhưng học giả Phạm Quỳnh khi ấy đã nhìn nhận điều quan trọng hơn nằm ở ý thức kết cấu và tinh thần dân tộc. Việc chọn đề tài lịch sử cùng khả năng bố cục đám đông của Thang Trần Phềnh được xem là một nỗ lực đáng trân trọng, có sức tác động mạnh đến công chúng.

Ngoài tranh triển lãm, ông còn là họa sĩ minh họa sách báo. Theo nghiên cứu của tài khoản Nguyen Balan năm 2018, ông từng minh họa cho La Lecture Française Expliquée xuất bản năm 1932, và vẽ minh họa Truyện Kiều cho René Crayssac. Dù tên ký có sai khác, nghiên cứu của họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn khẳng định phong cách và chữ ký đều mang dấu ấn đặc trưng của ông.

Khi Trường Mỹ thuật Đông Dương đi vào hoạt động, cả Thang Trần Phềnh và họa công Ngô Đăng Đĩnh đều dự thi khóa đầu nhưng không trúng tuyển. Ông tiếp tục tự rèn luyện và đến năm 1926 trở thành sinh viên khóa II, học cùng Tô Ngọc Vân, Vũ Cao Đàm. Giai đoạn 1931–1933, nhiều tác phẩm của ông được gửi sang Pháp và Italy tham gia các triển lãm thuộc địa tại Paris và Rome.

Một trong những minh họa cho La Lecture Française Expliquée xuất bản năm 1932. Nguồn: Nguyen Balan.

Một trong những minh họa cho La Lecture Française Expliquée xuất bản năm 1932. Nguồn: Nguyen Balan.

Theo thống kê của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, các tác phẩm như Chơi bài Tam Cúc, Xem bói, Thiếu nữ dệt vải, Xuống ngựa hay Lý trưởng hỏi thăm đường được xem là những tranh lụa tiêu biểu của giai đoạn đầu mỹ thuật Đông Dương. Ở đó, kỹ thuật phương Tây được tiết chế để hòa vào nhịp sống và tinh thần văn hóa Việt Nam, phản ánh cái nhìn giản dị, khiêm nhường của ông về con người.

Sau khi tốt nghiệp năm 1931, Thang Trần Phềnh dần chuyên tâm cho nghệ thuật sân khấu, tổ chức gánh hát và lập “Ban hát mỹ thuật Đồng Ấu” lưu diễn đến năm 1943. Cuối năm 1946, ông tham gia kháng chiến, làm việc tại Sở Thông tin Tuyên truyền Liên khu 10. Sau năm 1954, ông trở về Hà Nội, cộng tác với rạp hát Chuông Vàng (Kim Phụng) đến năm 1963. Dù hoàn cảnh đổi thay, ông chưa bao giờ rời bỏ hội họa và sân khấu.

Một đời cống hiến bền bỉ và được nể trọng, Thang Trần Phềnh rốt cuộc vẫn gắn bó sâu sắc với sân khấu. Chính từ lựa chọn ấy, ông được xem là người đặt nền móng cho mỹ thuật sân khấu hiện đại Việt Nam, câu chuyện sẽ được tiếp tục ở Kỳ 2. (Còn tiếp)

Bài trước Bài tiếp theo